quần thể người và đặc điểm tự nhiên và xã hội trong sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nhân văn - Pdf 22

Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
MỤC LỤC
QUẦN THỂ NGƯỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA
HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI
TRONG HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN
1.1. Khái niệm
Xã hội nhân văn bao hàm sự tương tác chặt chẽ và cân bằng động giữa
ba nhóm yếu tố là tự nhiên con người và xã hội. Thứ nhất là yếu tố tự nhiên: là
toàn bộ thế giới vật chất, nó tồn tại một cách khách quan. Như vậy con người
và xã hội loài người là những thành phần cấu trúc đặc thù gắn bó chặt chẽ với
thế giới tự nhiên. Tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người- có
thể coi đó là Sinh quyển. Tùy trạng thái địa chất hay vật lý của Sinh quyển ta
có thể phân biệt thành ba nhóm chính: Thạch quyển nơi đá thể đá chiếm ưu thế;
Khí quyển nơi chỉ có các dạng khí; Thủy quyển nơi chỉ có nước.
1
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Con người bước vào vũ đài của sự sống đúng vào lúc Sinh quyển đã trở
thành một hệ thống tổng hợp sinh học ở mức cao nhất, có khả năng đạt mức
sinh học lớn nhất và sự phát triển ổn định tối đa. Thành phần con ngưới đã xuất
hiện trong quá trình tiến hóa của sinh quyển, là một dạng của cấu trúc vật chất
sống, có nguồn gốc từ tự nhiên. Nhưng con người là bộ phận đặc thù của tự
nhiên, bởi lẽ trong quá trình phát triển nhờ lao động và ngôn ngữ, con người
dần tách mình ra khỏi thế giới động vật và tạo cho mình một môi trường tự
nhiên đã được ”nhân tác hóa” - môi trường nhân văn. Yếu tố xã hội trính là
hình thức vận động cao nhất của vật chất, là sản phẩm của quá trình tương tác
giữa quần thể con người trong xã hội nhân văn.
Như vậy, tự nhiên, con người và xã hội là ba dạng cấu trúc vật chất, lần
lượt hình thành trong quá trình tiến hóa của vật chất hữu cơ. Chúng cấu thành
một hệ thống tổng hợp, đa dạng, nhưng rất chặt chẽ, ổn định và tương đối bền

như trên để tồn tại và phát triển xã hội nhân văn.
1.3. Con người trong hệ sinh thái nhân văn.
1.3.1. Con người là yếu tố cấu thành của hệ sinh thái nhân văn
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:
đó là con người làm chủ và tác động cải tạo thiên nhiên tạo ra của cải vật chất
nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân, và con người cũng chịu sự tác động ngược
lại của thiên nhiên.
Hình thái kinh tế xã hội thể hiện sự vận động của thế giới vật chất, trong
lịch sử loài người các cuộc cánh mạng trong lực lượng sản xuất, cách mạng
3
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
thông tin, công nghệ và cách mạng xã hội, các mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên và giữa con người với con người luôn vận động và biến đổi đưa đến sự
thay đổi về chất của xã hội nhân văn lẫn sinh quyển.
1.3.2. Con người là yếu tố xây dựng của hệ sinh thái nhân văn.
Sự vận động và biến đổi của xã hội là không ngừng nghỉ, nhưng cũng
trong quá trình này con người đã mang đến bao nhiêu tai họa cho môi trường
sinh thái cho chính loài người và cho xã hội nhân văn. Con người cần phải
nhận thức đầy đủ và đúng vai trò của loài người trong sự phát triển của hệ
thống xã hội và tự nhiên, có thể chung sống tích cực, tự giác và hài hòa trong
các mối liên kết đó.
Hoạt động của con người từ trước đến nay thường chưa được tính một
cách đầy đủ những quy luật tồn tại và phát triển của yếu tố tự nhiên, những quy
luật sinh thái học, đảm bảo cho cơ chế hoạt động bình thường của các chu trình
trao đổi vật chất và dòng năng lượng, dòng thông tin hay chu trình sinh học của
Sinh quyển. Ngày nay, nguy cơ của vấn đề suy thoái môi trường không chỉ xảy
ra cục bộ mà đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu cấp bách nhất
của thời đại, có ý nghĩa quan trọng đến sự sống còn của con nguời và xã hội
của nó.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, con người

1.3.4. Điều chỉnh nhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn.
Quá trình điều khiển nhận thức trong quan hệ giữa con người và tự
nhiên là một giai đoạn quan trọng . Đồng thời với quá trình sáng tạo ra văn hóa,
con người đã tác động vào tự nhiên, xã hội và bản thân mình để tạo nên giá trị
vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội nhân văn. Nếu cứ để quá trình này vận
hành một cách tự nhiên và cảm tính thì dẫn đến nhiều di hại khôn lường. Vì
vậy phải điều chỉnh nhận thức của con người trong hệ sinh thái nhân văn.
5
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Tiến trình phát triển của xã hội loài người đã chứng tỏ mâu thuẫn giữa
con người và tự nhiên ngày càng gay gắt. Nguyên nhân chủ yếu là do con
người sáng tạo ra khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, không ngừng phát triển
lực lượng sản xuất và bằng cách đó đã tấn công vào môi trường tự nhiên, biến
chúng thành sức mạnh xã hội. Ngày nay, cũng phải dựa chính vào khoa học, kĩ
thuật và công nghệ mà con người mới có thể quay về với cội nguồn của mình
sống hài hòa thực sự với tự nhiên trong một môi trường sống mới. Đó là Trí tuệ
quyển, trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về những quy luật của tự nhiên, con
người đã tạo ra nó. Trí tuệ quyển, là môi trường sống mới được điều khiển bởi
hoạt động có ý thức của con người, một giai đoạn phát triển mới của sinh
quyển. Nó là sự thống nhất, sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, mà cơ
sở của nó là xã hội, bởi vì ở đây hoạt động trí tuệ của con người là nhân tố nổi
trội.
Hoàn thành chức năng tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã sử
dụng chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của xã hội nhân văn
trong việc thực hiện chức năng điều khiển một cách có ý thức đối với Sinh
quyến. Để làm được điều này, con người cần nắm vững những quy luật của tự
nhiên, vận dụng những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn: trước hết cần thay
đổi nhận thức về mọi phương tiện thuộc lĩnh vực quan hệ giữa con người xã
hội và tự nhiên. Từ sự nhận thức đó, con người mới có hành động thiết thực
nhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sinh thái vì sự sống của con

của đất nước hay sinh quyển nói chung. Sử dụng bền vững là sử dụng một sinh
vật một hệ sinh thái hoặc một nguồn tài nguyên tái tạo khác ở một mức độ
trong phạm vi khả năng có thể còn hồi phục của nó.
Xã hội được coi là bền vững sinh thái khi:
1. Bảo vệ được các hệ sinh thái cung cấp sự sống và tính đa dạng sinh
học;
2. Bảo đảm sự dụng tài nguyên tái tạo bền vững và giảm tối thiểu việc
làm giảm nguồn tài nguyên không tái tạo.
3. Giữ trong khả năng chịu đựng được của các hệ nuôi dưỡng sự sống.
2.2.2. Vấn đề phát triển bền vững hệ sinh thái nhân văn.
2.2.2.1. Lỗ thủng tầng ozon.
* Sự suy giảm tầng ozon.
7
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Sự suy giảm tầng ozon là hiện tượng giảm lượng ozon trong tầng bình
lưu. Từ năm1979 cho đến năm 1990 lượng ozon trong tầng bình lưu đã suy
giảm vào khoảng 5%. Vì lớp ozon ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại
không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái đất, sự suy giảm ozon đang được
quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối
quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và
cuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon
của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy
giảm tầng ozon khác như tetraclorit cácbon, các hợp chất của brôm(halon)
và methylchloroform.
Sự suy giảm ozon thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa. Lỗ
thủng ozon dùng để chỉ sự suy giảm ozon nhất thời hằng năm ở hai cực Trái
đất, những nơi mà ozon bị suy giảm vào mùa Xuân (cho đến 70% ở 25 triệu
km
2
của Nam Cực và cho đến 30% ở Bắc Cực) và được tái tạo trở lại vào mùa

Ở Việt Nam, theo số liệu của đề tài KT/02 thì năm 1990 trung bình
lượng khí thải NOx vào môi trường ở miền Bắc là 115.484 tấn, miền Trung là
22.745 tấn, miền Nam là 37.330 tấn.
2.2.2.2. Hiệu ứng nhà kính
* Hiệu ứng nhà kính và tác hại của nó.
Ánh sáng Mặt trời rọi về Trái đất bị tầng ozon hấp thu khoảng 15% năng
lượng, gần 40% được phản xạ vào không gian vũ trụ. Chỉ còn dưới 50% năng
lượng xuyên tới mặt đất, đây là nguồn năng lượng tạo nên sự tồn tại và phát
triển của sự sống.
Một phần năng lượng mặt trời tới được mặt đất cũng lại bị phản xạ vào
khí quyển, bị CO
2
và một số loại khí khác giữ lại, làm cho khí quyển nóng lên.
Đó là hiệu ứng nhà kính. Khí quyển đã đóng vai trò như một nhà kính, tương tự
như loại nhà kín làm bằng kính để trồng một số cây vào mùa đông hoặc ở vùng
khí hậu lạnh giá khắc nghiệt.
Trong vòng 10.000 năm qua, nhiệt độ trung bình trong năm trên Trái
Đất tăng không quá 1
o
C. Các chuyên gia dự đoán nếu mọi sự cứ diễn ra như
hiện nay thì tới cuối thế kỷ XXI nhiệt độ chung trên Trái Đất sẽ cao hơn ngày
nay từ 2
o
C đến 5
o
C. Sự gia tăng nhiệt độ sẽ rõ rệt hơn ở các miền vĩ độ Bắc cao
và về mùa đông. Khí quyển nóng lên làm cho nước bốc hơi nhiều hơn, lượng
hơi nước trong khí quyển tăng lại làm tăng hiệu ứng nhà kính, dẫn đến ảnh
hưởng tới sự phân bố nhiệt độ và lượng mưa, làm thay đổi nhiệt độ các vùng,
tác động tới năng suất nông nghiệp, sự cung cấp nước và năng lượng.

kính là do CO
2
gây ra, nửa còn lại là do các loại khí nhà kính khác. Sau đó tác
động của các loại khí này sẽ vượt tác động của CO
2.
CFC gây ra 25% hiệu ứng nhà kính và là một nhân tố phá hủy tầng
ozon. Bởi vậy thế giới đã có công ước Áo (1989), hiệp ước Canada (1990) yêu
cầu các nước điều chỉnh sự tiêu thụ và sản xuất CFC trong quá trình sử dụng.
Trong đó có những dự án tài trợ để giúp các nước đang phát triển đổi mới các
công nghệ đang dùng CFC, thay thế các thiết bị hiện dùng CFC.
Mêtan gây ra 15% đến 20% hiệu ứng nhà kính. Phải làm giảm sự bốc
khí mêtan trong lúc khai thác than hoặc khí, làm tốt việc thu hồi phân, rác, sản
xuất khí sinh vật (biogaz).
Vấn đề chủ yếu là phải giảm bớt lượng CO
2
từ 15% đến 30% sinh ra do
đốt phá rừng, phần còn lại do đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí
đốt) để sản xuất năng lượng. Vì thế phải ngăn chặn việc đốt phá rừng bừa bãi,
12
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
triệt để tiết kiệm và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng phát triển những cơ
sở sản xuất năng lượng ít thải CO
2
.
2.2.2.3. Mưa axit
* Mưa axit và tác hại của nó
Bình thường nước mưa có pH khoảng 5,6 có nghĩa là độ axit nhẹ, do
CO
2
trong khí quyển tác dụng với nước tạo nên axit cacbonic. Trường hợp

) và nitơ oxit (NO
2
) thải ra từ các nhà máy và xe cộ. Vấn đề này phải có sự
phối hợp toàn cầu. Hiệp định Helsinkin – Phần Lan đặt mục tiêu giảm lượng
SO
2
thải ra trong năm 1992 xuống còn 70% của năm 1980. Hội nghị 25 nước
tại Sofia – Bungari Năm 1988 đã đặt vấn đề kiểm soát và giảm bớt sự phát tán
khí NO
2
.
2.2.2.4. Suy kiệt tài nguyên rừng.
* Khái niệm rừng
14
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Thuật ngữ “rừng” dùng để chỉ những hệ sinh thái bao gồm không chỉ
cây mà cả đất, nước và vô số các động vật, các vi sinh vật cũng như các loài
thực vật khác sống trong đó (IUCN, UNEP và WWF, 1991).
Rừng nguyên sinh hay rừng tự nhiên là những khu rừng mà cây cối chưa
bao giờ bị chặt phá hoặc chưa bị xáo trộn nghiêm trọng trong vài trăm năm
nay. Rừng thứ sinh hay rừng nhân tác là vùng rừng mà cây cối ở đó bị chặt, đốt
trong một vài trăm năm qua, mà thường là do đốn gỗ hoặc do trồng trọt du
canh hoặc là nơi ở các sản phẩm khác ở đó bị khai thác.
Tài nguyên rừng, động vật rừng và đất thuộc nhóm tài nguyên thiên
nhiên có thể tái sinh được.
* Vai trò của rừng
Cây rừng có vai trò không thể thay thế trong quá trình điều chỉnh chu
trình luân chuyển khí hậu, không khí và nước của hành tinh chúng ta. Lá cây
xanh hấp thụ khí CO2 là khí thải của nhiều quá trình đốt cháy nguyên liệu, góp
phần dẫn đến sự thay đổi khí hậu trên Trái Đất.

rừng ẩm nhiệt đới khác bị khai thác để lấy gỗ
rồi sau đó chúng bị bỏ hoang để tự tái sinh.
Trên lãnh thổ việt nam, 1943 có khoảng 14,3 triệu ha rừng tương ứng
với khoảng 43% độ che phủ toàng quốc. Chỉ sau 50 năm, theo điều tra vào năm
1993 nước ta chỉ còn 8,6 triệu ha rừng tự nhiên, nếu tính cả diện tích trồng thì
tổng diện tích đạt 9,3 triệu ha, chiếm 28% diện tích đất đai toàn quốc. Hàng
năm nước ta mất đi khoảng 100 đến 200 nghìn ha rừng.
Ở châu Phi và châu Á tài nguyên rừng bị suy kiệt chủ yếu do phương
thức sản xuất nông nghiệp du canh không bền vững, do phát triển nền nông
nghiệp chuyên canh hóa, do chặt gỗ và khai thác củi bừa bãi. Còn ở Mỹ Latinh,
rừng bị phá do chăn nuôi gia súc và đầu cơ đất đai.
Rừng cận nhiệt đới và ôn đới tuy không suy giảm nhiều về diện tích
nhưng bị thay đổi về phân bố và thành phần loài. Có hai nguyên nhân chính
gây nên sự suy thoái rừng ở vùng này là: do chính sách về rừng không hợp lý,
khai thác gỗ nhiều hơn là ổn định và gia tăng rừng; và do đô thị hóa ồ ạt, ô
nhiễm môi trường, tiêu xài năng lượng và nguyên liệu không hợp lý và sử dụng
công nghệ không phù hợp.
2.2.2.5. Ô nhiễm môi trường.
* Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm
thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần
xã sống trong đất.
16
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn,
là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa
của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài
nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp
lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc
độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất

năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng
thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như:
chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng
các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây
nhiều bệnh cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các
khu rừng và các cánh đồng.
Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc
như: CO
2
, đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng
gây hiệu ứng nhà kính là CO
2
, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà
kính, CH
4
là 13%,, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%
18
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì
trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan
Keckes). Có nhiều khả năng lượng CO
2
sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau.
Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng.
Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,6°C (G.I.Plass), và mỗi thập
kỷ sẽ tăng 0,3°C.
Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ
Trái Đất tăng 0,40°C. Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gần đây,
các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ

Điều quan trọng nhất khi lồng ghép vấn đề dân số phát triển bền vững là đặt
chúng vào mối quan tâm tổng thể trong chiến lược và chính sách chung.
Dân số ở các nước nghèo càng tăng thì càng làm cho các nước này đã
nghèo lại càng nghèo thêm, vì cạnh tranh nguồn tài nguyên, nguy cơ của nghèo
khổ và nạn đói. Tăng sức ép đối với vấn đề lương thực thực phẩm, đất, nước…
gia tăng tác động tới nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Cạnh tranh
việc làm, nhiều người thất nghiệp do dư thừa lao động. Tình trạng nghèo khổ
trên diện rộng và sự bất bình đẳng nghiêm trọng về kinh tế đều chịu tác động
mạnh mẽ của các nội dung dân số học như quá trình tăng dân số, cấu trúc dân
số, phân bố dân cư. Sản xuất và tiêu dùng thiếu bền vững thì sẽ gây ra việc sử
dụng tài nguyên không có kế hoạch và tác động xấu đến chất lượng môi
trường.
Di dân vì lí do kinh tế cũng làm dân số tăng nhanh, đặc biệt là ở các đô
thị, gia tăng ô nhiễm. Di cư tự phát có nguy hại là khai thác bừa bãi, gây đảo
lộn về giao thông, y tế, giáo dục. Vì vậy, vấn đề là phải quản lý nhân khẩu từ
đó quản lý được tài nguyên. Phất huy mặt tích cực, xây dựng sự hòa đồng với
dân cư nơi ở mới.
Bùng nổ dân số thường xảy ra ở những nước nghèo vì trình độ dân trí
chưa cao, GDP bình quân cho đầu người còn thấp không được đảm bảo. Ngược
lại, kinh tế - xã hội phát triển nhưng dân số tăng quá cao thì tổng sản phẩm
quốc nội theo đầu người (GDP/người) sẽ sụt giảm. Vấn đề đặt ra cho toàn thế
giới là việc lồng ghép vấn đề dân số với phát triển để đảm bảo sự hài hòa.
Dân số gắn với phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo công bằng xã hội.
Các nội dung chính như giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, đẩy mạnh
chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm hơn là cho tiền của, chăm lo sức
20
Đinh Thị Hoàn – K21.Sinh thái học GVHD: PGS.TS. Vũ Quang Mạnh
khỏe cộng đồng, phát triển giáo dục. Thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia
đình và xây dựng quy mô gia đình hợp lí.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status