55
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (78). 2010
BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BIỂN
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NƯỚC TA HIỆN NAY
Nguyễn Chu Hồi, Lê Thị Thanh
*
1. Các hệ sinh thái biển và ven biển Việt Nam: vai trò và giá trò
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260km và vùng đặc quyền kinh
tế rộng gấp 3 lần diện tích đất liền với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá
phong phú. Trong vùng biển nước ta phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái (HST) biển-ven biển điển hình,
thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau.
Các HST biển và ven biển có vai trò rất quan trọng như điều chỉnh khí
hậu và điều hòa dinh dưỡng trong vùng biển thông qua các chu trình sinh
đòa hóa. Nhiều HST là nơi cư trú, sinh đẻ và ương nuôi ấu trùng của nhiều
loài thủy sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ mà còn từ ngoài khơi vào theo
mùa, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trò kinh tế cao. Các HST có năng
suất sinh học cao như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng triều
cửa sông, đầm phá và vùng nước trồi thường phân bố tập trung ở vùng bờ
và quyết đònh hầu như toàn bộ năng suất sơ cấp của toàn vùng biển và đại
dương phía ngoài.
Bảng 1. Các hệ sinh thái biển và ven bờ chính của Việt Nam
Hệ sinh thái Phân bố Diện tích
hiện thời (ha)
Nông nghiệp Tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long.
5.500.000
Nuôi trồng thủy sản Toàn bộ các vùng ven bờ. 10.000
Đất ngập triều Tập trung chủ yếu ở vùng cửa sông và
quanh một số đảo.
tăng và có những đóng góp xã hội quan trọng và ngược lại, tương lai của các
ngành này cũng phụ thuộc vào chất lượng của môi trường biển và các HST
biển. Ngoài ra, các HST biển và nguồn lợi hải sản còn là chỗ dựa sinh kế
cho gần 20 triệu người dân sống trong 125 huyện ven biển. Đánh giá sơ bộ
giá trò thực về đa dạng sinh học của một số HST biển và ven biển tiêu biểu
ở nước ta cho kết quả như sau.
Bảng 2. Giá trò kinh tế thực thụ của một số HST biển-ven biển Việt
Nam (ADB, 2000)
Hệ sinh thái Ước tính lợi nhuận
ròng hàng năm
(USD/ha/năm)
Ước tính diện
tích hiện có ở
Việt Nam (ha)
Ước tính tổng lợi
nhuận ròng
(triệu USD/ha/năm)
Rừng ngập mặn 183 110.680 20,3
Đất ngập nước ven biển 130 108.500 14,1
Rạn san hô 3.057 7.532 23,0
Thảm cỏ biển 300 4.600 1,4
Tổng số 231.312 58,8
1.1. Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (RNM) bao gồm các loài thực vật bậc cao (sú, vẹt, mắm,
đước, bần…) có khả năng sống trong vùng nước mặn. RNM thường phát triển
ở vùng cửa sông ven biển của xứ nhiệt đới có thủy triều. Việt Nam có điều
kiện tự nhiên rất thuận lợi cho RNM phát triển. Rừng ngập mặn được coi là
HST có năng suất sinh học cao, là nơi cung cấp dinh dưỡng khởi nguồn cho
nhiều chuỗi thức ăn, là nơi sản sinh, nuôi dưỡng nhiều loài sinh vật, nên là
trung tâm phát tán nguồn gen cho biển khơi và lân cận. HST RNM được coi
cỏ biển tạo ra nguồn vật chất hữu cơ khá lớn cho môi trường biển ven bờ.
Người ta tính cứ 1m
2
TCB sẽ sản sinh ra 10 lít ôxy hòa tan/ngày, tổng số
loài cư trú trong TCB thường cao hơn vùng biển xung quanh khoảng 2-8 lần.
Theo thống kê của nước ta từ những năm 1996-1999 đã phát hiện được
15 loài cỏ biển sống trong các TCB với tổng diện tích khoảng 5.583ha. Ở
khu vực phía bắc đã phát hiện có 82 loài động vật đáy; ở vùng Nam Trung
Bộ đã thống kê được 62 loài động vật đáy, trong đó trai ốc chiếm nhiều nhất
(37 loài), giáp xác 8 loài, da gai 12 loài. Ở vùng biển Nam Bộ có tới 88 loài,
trong đó tôm và cá bống trắng có giá trò kinh tế cao chiếm đa số. Các kết
quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, giá trò kinh tế gồm giá trò khai thác (cỏ
biển và các loài sinh vật đi kèm) và không khai thác (sinh thái môi trường)
của cỏ biển tương đối cao (Bảng 3).
Bảng 3. Giá trò kinh tế của một số bãi cỏ biển (USD/năm), chưa tính
giá trò môi trường
TT Bãi cỏ biển Diện tích (ha) Tổng giá trò (USD)
1 Tam Giang (Thừa Thiên Huế) 1.000 1.628.202
2 Cam Ranh (Thủy Triều, Khánh Hòa) 800 7.920.000
3 Liên Vò (Quảng Ninh) 180 427.340
4 Lập An (Thừa Thiên Huế) 120 40.218
5 Bãi Bổn (Kiên Giang) 2.000 481.202
(Nguồn: Phạm Văn Ninh, 2004)
1.3. Hệ sinh thái rạn san hô
Rạn san hô (RSH) được coi như “rừng nhiệt đới trong lòng biển” và là
HST đặc thù của các vùng biển nhiệt đới. Giá trò của RSH đã được khẳng
58
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (78). 2010
đònh thông qua các chức năng như điều hòa môi trường, cung cấp vật chất
và năng lượng cho thủy vực, tạo nơi cư trú cho thế giới sinh vật đa dạng,
40.000ha RNM bò biến
mất. Hiện cả 2 tỉnh này
chỉ còn khoảng 15.700ha
RNM. Ước tính thiệt hại
do việc không thể thu lợi
được từ diện tích RNM
bò mất (như thủy sản,
lâm nghiệp và chống
xói lở) cỡ khoảng 10-32
triệu USD mỗi năm.
408.500
252.000
290.000
155.920
110.670
136.000
70.200
83.288
0
50.000
100.000
150.000
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (78). 2010
Theo P. Maurand, năm 1943 ở các tỉnh ven biển Việt Nam có 408.500ha
RNM. Viện Điều tra Quy hoạch Rừng xác đònh năm 1990 diện tích RNM còn
136.000ha (khoảng 33% so với năm 1943) sau gần 50 năm; và đến năm 2003
còn 83.288ha (khoảng 20% so với năm 1943). Như vậy, sau 60 năm (1943-
2003) RNM ở nước ta đã giảm mạnh và mất gần 4/5 diện tích
(Hình 1). Tốc độ mất RNM do các hoạt động sản xuất trong giai đoạn 1985-
2000 ước khoảng 15.000ha/năm. Do suy thoái mà năng suất tôm nuôi quảng
canh trong RNM bò giảm sút nghiêm trọng, từ khoảng 200kg/ha/vụ (năm
1980) đến nay chỉ còn 80kg/ha/vụ, và 1ha RNM trước đây có thể khai thác
được khoảng 800kg thủy sản, nhưng đến nay chỉ thu được 1/20 so với trước.
- Đối với HST thảm cỏ biển
Hệ sinh thái TCB là một trong những HST nhạy cảm và rất dễ bò tổn
thương khi môi trường sống thay đổi. Nếu như trước thời kỳ 1996-1997, diện
tích của 39 bãi cỏ biển là 10.768ha, đến năm 2003 chỉ còn gần 4.000ha, nghóa
là mất đi 60%. Trung bình mỗi năm mất 960ha, tương đương 8% diện tích
bãi cỏ (Bảng 4).
Bảng 4. Biến đổi diện tích một số bãi cỏ biển trong thời gian 1997-2003
TT Bãi cỏ Diện tích (ha)
bãi cỏ
trước 1997
Diện tích (ha)
bãi cỏ
sau 2003
Diện tích
cỏ bò mất
(%)
1 Vụng Hà Cối (Quảng Ninh) 1200 150 87,5
2 Vụng Đầm Hà (Quảng Ninh) 80 2 97,5
3 Ba Sao, Quán Lạn (Quảng Ninh) 100 1 99,0
Diện tích (ha)
bãi cỏ
sau 2003
Diện tích
cỏ bò mất
(%)
27 Đầm Ô Loan (Phú Yên) 20 16 20,0
28 Xuân Tự (Khánh Hòa) 70 30 57,1
29 Vụng Hòn Khói (Khánh Hòa) 100 40 60,0
30 Vùng Mỹ Giang (Khánh Hòa) 80 20 75,0
31 Cửa Bé (Khánh Hòa) 7 1 85,7
32 Tuần Lễ (Khánh Hòa) 120 100 16,7
33 Bãi Tiên (Khánh Hòa) 10 8 20,0
34 Sông Lô (Khánh Hòa) 8 6 25,0
35 Vònh Cam Ranh (Khánh Hòa) 300 200 33,3
36 Đầm ThủyTriều (Khánh Hòa) 500 350 30,0
37 Côn Sơn (Bà Ròa - Vũng Tàu) 320 200 37,5
38 Vụng Bầu, Phú Quốc (Kiên Giang) 230 1,5 99,0
39 Hàm Ninh, Phú Quốc (Kiên Giang) 300 120 60,0
- Đối với HST rạn san hô
Trong những năm gần đây, gần 200 điểm RSH được khảo sát ở dải ven
biển Việt Nam. Thống kê số liệu cho thấy hiện trạng độ phủ của san hô trên
các rạn không ở trạng thái tốt. Nhìn chung, độ phủ rạn san hô sống ở miền
Bắc Việt Nam đã giảm khoảng 25-50%. Theo tiêu chí đánh giá RSH của IUCN,
chỉ khoảng 1% các rạn đã được nghiên cứu ở miền Nam Việt Nam là còn ở
tình trạng rất tốt. RSH ở tình trạng xấu chiếm khoảng 31% và các rạn ở tình
trạng tương đối tốt và tốt chiếm tỷ lệ tương ứng là 41% và 26% (Bảng 5).
Bảng 5. Chất lượng các RSH ở Việt Nam (Viện Tài nguyên thế giới, 2002)
Loại Độ phủ san hô sống % diện tích
Rất tốt >75% san hô sống 1
lượng của các HST biển.
- Khai thác hủy diệt
Nhằm tăng hiệu quả khai thác trong điều kiện nguồn lợi đang trở nên
nghèo nàn, khai thác bằng các công cụ hủy diệt (chất nổ, chất độc, lưới có
mắt lưới nhỏ, giã cào, xiết điện) đã và đang được ngư dân ở ven biển sử dụng
và không thể kiểm soát, gây tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên biển.
Theo khảo sát của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 2000), các
phương tiện đánh cá hủy diệt đang diễn ra ở 21/28 tỉnh ven biển. Trong đó,
các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận là những đòa phương có hiện tượng
khai thác hủy diệt khá phổ biến. Gần đây, đánh cá bằng chất nổ có vẻ giảm
xuống nhưng việc sử dụng chất độc đang trở nên phổ biến hơn. Hậu quả của
các kiểu khai thác này hết sức nguy hiểm và tác động đối với toàn bộ HST
rạn san hô. Điều nguy hiểm là vẫn còn nhầm lẫn về tác hại của chất gây mê
mà chủ yếu là xyanua: một số nhà quản lý và ngư dân cho rằng chúng chỉ
có tác dụng làm mê cá mà không giết chết các sinh vật khác. Thực tế, các
chất độc này tiêu diệt toàn bộ ấu trùng thủy sinh vật và giết chết các tập
đoàn san hô tiếp xúc với chất gây mê. Không những thế, sự tích lũy độc tố
còn gây suy thoái chất lượng môi trường và nguy hiểm chết người do nhiễm
độc tố khi ăn hoặc sơ suất khi sử dụng. Mâu thuẫn giữa cộng đồng ngư dân
khai thác truyền thống và khai thác hủy diệt đã diễn ra ở nhiều nơi và trở
thành vấn đề xã hội.
- Phát triển du lòch thiếu kiểm soát
Hiện nay, du lòch được đònh hướng là một trong những ngành kinh tế
trọng điểm của các tỉnh ven biển. Một trong những tác động lớn nhất của du
lòch có thể là làm tăng nhu cầu về vật lưu niệm và dẫn đến việc khai thác
các động vật hoang dã. Việc mua bán động vật hoang dã gần như không
được kiểm soát và nhiều loài động vật quý hiếm hoặc bò đe dọa vẫn dễ
dàng tìm thấy trên thò trường, nhất là ở các trung tâm du lòch lớn như Nha
Trang, Vũng Tàu. Rùa biển (đồi mồi, rùa xanh ) bò săn bắt mọi lúc mọi nơi
sự sống, đẩy môi trường sinh thái biển-ven biển vào tình trạng khắc nghiệt đối
với tập tính sinh thái của các loài và quần thể.
- Thiên tai, biến đổi khí hậu diễn ra thường xuyên và tác động mạnh đến
các HST biển và ven biển
Đối với các HST biển và ven biển, các tai biến thiên nhiên như bão, mưa
lũ, ngập lụt ven biển… có tác động rất lớn. Hàng năm, nước ta có khoảng 7 đến
8 cơn bão đổ bộ. Bão đặc biệt nguy hiểm đối với HST rạn san hô. Chúng có thể
phá hủy cơ học do làm gãy, nát san hô ở vùng rạn nông. Bão còn gây ra “bùn
hóa” do đa số các RSH ở vònh Bắc Bộ đều nằm ở vùng đáy nông, phía ngoài có
nhiều bùn; bão to gây sóng lớn làm quấy đục, đưa bùn phủ lên rạn. Thêm vào
đó, bão thường kèm mưa to làm nhạt độ muối ven bờ. Các tác động này đôi
khi còn nguy hiểm hơn những phá hủy cơ học, nó ngăn cản ánh sáng vào
trong nước, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo cộng sinh, phá vỡ cân
bằng ngay trong RSH. Sau bão, bùn cát phủ bên ngoài tập đoàn san hô gây chết
trực tiếp. Hiện tượng san hô chết do nguyên nhân này còn để lại nhiều vết tích
trong vùng Hạ Long - Cát Bà (Nguyễn Huy Yết, 1991).
Hậu quả của các tác động do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra rất rõ
ràng, trong đó có tác động gây ra “cuộc khủng hoảng sinh thái và đa dạng
sinh học biển” - nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Dự báo hậu quả của
biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh lên vùng ven biển của hai đồng bằng lớn
(sông Cửu Long và sông Hồng), dải ven biển và các đảo nhỏ. Mực nước biển
dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, nghiêm
63
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (78). 2010
trọng nhất là khu vực RNM dễ bò tổn thương ở Cà Mau, TP Hồ Chí Minh,
Vũng Tàu và Nam Đònh. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão
sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của
nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của các HST và các loài sinh vật
cộng cư trong đó. Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68
khu đất ngập nước sẽ bò ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào
bảo vệ tài nguyên - môi trường biển nói chung và các hệ sinh thái biển nói
riêng. Ngày 6/3/2009, Nghò đònh số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển của Chính phủ đã ra đời là một văn bản
pháp lý quan trọng quy đònh về thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển và hải đảo. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng đang tập
trung xây dựng Luật Bảo vệ tài nguyên và môi trường biển - là văn bản luật
đầu tiên ở nước ta có sự điều chỉnh mang tính tổng hợp về tài nguyên và môi
trường biển. Ngoài ra, cũng sẽ xây dựng Luật Quản lý tổng hợp vùng bờ và
Luật các khu bảo tồn biển để trình Quốc hội vào những năm tới.
64
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (78). 2010
- Thành lập các khu bảo tồn biển
Các khu bảo tồn này chính là một công cụ hữu hiệu để phục hồi và phát
triển nguồn lợi. Hiện tại, có hai khu bảo tồn ở Hòn Mun thuộc tỉnh Khánh
Hòa và Cù Lao Chàm ở tỉnh Quảng Nam. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc
tế, Bộ Thủy sản (trước đây) nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
đã trình Thủ tướng ban hành Quy chế thành lập và quản lý các khu bảo tồn
biển (2008) và đã trình Chính phủ xem xét quy hoạch hệ thống 15 khu bảo
tồn biển đầu tiên ở Việt Nam. Đầu tư cho các khu bảo tồn biển, đầu tư cho
các HST biển cũng chính là đầu tư cho tương lai để đảm bảo nền tảng tài
sản tự nhiên cho quốc gia nói chung và cho phát triển kinh tế biển nói riêng.
- Quản lý biển và vùng bờ theo cách tiếp cận không gian
Nghiên cứu phân vùng chức năng không gian biển và ven biển; Quy
hoạch tổng thể sử dụng biển, vùng ven biển và hải đảo đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030 làm căn cứ quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế-xã hội biển, đảo và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội,
lónh vực và đòa phương ven biển, góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường
biển, hải đảo của cả nước và cụ thể cho từng vùng.
Thực hiện và mở rộng áp dụng mô hình quản lý tổng hợp biển và vùng
bờ kết hợp với quản lý lưu vực sông ven biển, gắn với cải thiện điều kiện
tích RNM cả nước lên trên 307.200ha vào năm 2015. Trước mắt, sẽ ưu tiên
trồng và bảo vệ đai RNM bảo đảm đến năm 2010 hoàn thành việc phục hồi
và trồng hơn 18.800ha rừng để bảo vệ hệ thống đê biển.
Tăng nhanh diện tích phủ xanh của thảm RNM phòng hộ ven biển, bảo
vệ RNM khỏi nạn chặt phá làm củi, gỗ, nuôi trồng thủy sản; giám sát chất
lượng thảm RNM để kòp thời xử lý các vấn đề gây tổn thất đến tài nguyên
nước, tài nguyên đất và tài nguyên sinh học, đảm bảo sự ổn đònh của HST
là những việc làm quan trọng mà các đòa phương cần quan tâm thực hiện để
giảm nhẹ thiên tai do tác động của biến đổi khí hậu gây ra.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức về HST biển và ven biển
Việc tuyên truyền giáo dục phải tiến hành cho các đối tượng, đặc biệt
cho người dân và cộng đồng đòa phương về vai trò, vò trí, tầm quan trọng
của HST biển và ven biển đối với việc phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ
môi trường, an ninh sinh thái và an ninh quốc gia. Đặc biệt đối với các đòa
phương ven biển, tạo cơ hội cho họ tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt
động phát triển kinh tế biển bền vững hoặc các mô hình phát triển cộng
đồng, nhằm chuyển đổi nghề nghiệp, cải thiện sinh kế và góp phần xóa đói
giảm nghèo cho người dân đòa phương.
- Khuyến khích phát triển các mô hình quản lý tiên tiến
Dựa vào cộng đồng, đồng quản lý trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng
hợp lý các hệ sinh thái biển, ven biển, đảo. Nhân rộng các mô hình khu
bảo tồn biển do cộng đồng quản lý; khuyến khích áp dụng quản lý biển dựa
vào HST.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lónh vực bảo tồn các hệ sinh thái
biển, ven biển.
Tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước, hiệp ước quốc tế có liên
quan. Ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào công tác bảo tồn và khai thác,
sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên từ các HST biển và ven biển.
“Mất các hệ sinh thái biển, lòng biển nước ta sẽ trở thành hoang mạc,
TÓM TẮT
Vùng biển nước ta có các hệ sinh thái (HST) nhiệt đới điển hình như rừng ngập mặn,
thảm cỏ biển, rạn san hô Đây là các sinh cảnh có môi trường sống lý tưởng cho các loài
sinh vật biển, là bãi đẻ, nơi ương ấp ấu trùng, nơi cung cấp nguồn giống thủy sản tự nhiên
để duy trì sự phát triển nguồn lợi thủy sản. Các HST biển và ven biển còn đóng vai trò quan
trọng về môi trường như điều chỉnh khí hậu, điều hòa dinh dưỡng trong vùng biển thông qua
các chu trình sinh đòa hóa
Tuy nhiên, trước sức ép của sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế, xã hội trong
thời gian qua, các HST biển và ven biển nước ta đã và đang bò suy thoái nghiêm trọng. Vì
vậy, cần gấp rút xây dựng các giải pháp hợp lý nhằm phát triển bền vững các HST biển và
ven biển: Hoàn thiện hệ thống luật pháp bảo vệ môi trường biển; Thành lập các khu bảo tồn
biển; Quản lý biển và vùng bờ theo cách tiếp cận không gian; Phục hồi và tái tạo các HST
bò suy thoái; Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức cho
cộng đồng; Khuyến khích phát triển các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng; Tăng cường
hợp tác quốc tế trong lónh vực bảo tồn các HST biển và ven biển.
ABSTRACT
SUSTAINABLE DEVELOPMENT FOR TROPICAL ECOSYSTEMS - PROBLEMS
THE NATION IS FACING
Our sea boasts different ecosystems such as mangrove forests, seagrass beds, coral
reefs, These are ideal habitats for marine animals. They are the beds for the animals to lay
eggs, and raise the larvae. Therefore, these places are the natural source of fry necessary
for the development of the national fishery. Marine and coastal ecosystems play an important
role regarding the environment such as making the climate equable, regulating the allocation
of nutrients in the sea through biogeographical processes.
However, under the pressure from the recent increase of the population and
the economic and social development, our marine and coastal ecosystems are
deteriorating badly. Consequently, it is urgent for us to find proper solutions for sustainable
development of the marine and coastal ecosystems: Completing the system of laws to protect the
marine environment; Establishing marine reserves; Controlling the sea and its coastal areas;
Restoring degenerating ecosystems; Strengthening propaganda and education services so