CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KCN Khu công nghiệp
TP Thành phố
DN Doanh nghiệp
KD Kinh doanh
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
BQL Ban quản lý
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Đồ thị 1: Diện tích nhà ở trung bình cho một công nhân…….… ……………….21
Biểu đồ 1: Phân bố các KCN theo vùng năm 2006…………………………… 16
Biểu đồ 2: Tỷ lệ công nhân ở nhà do doanh nghiệp xây dựng năm 2006……… 18
Biểu đồ 3: Tỷ lệ công nhân ở nhà do dân xây dựng năm 2006………………… 19
Biểu đồ 4: Tỷ lệ công nhân ở nhà do công ty KD nhà và các tổ chức xây …….…20
Biểu đồ 5: Tỷ lệ công nhân sử dụng các nguồn nước khác nhau năm 2006…… 22
Biểu đồ 6: Tỷ lệ công nhân sử dụng điện tại các tỉnh, thành phố năm 2006…… 22
Biểu đồ 7: Diện tích nhà ở cho một công nhân tại các tỉnh, thành phố……….… 24
Biểu đồ 8: Điều kiện điện, nước và xử lý nước thải của nhà ở cho công nhân… 24
Biểu đồ 9: Giá tiền thuê nhà trung bình tại một số tỉnh, thành phố…………….…27
Biểu đồ 10: Tỷ lệ phân bố nhà ở cho công nhân trong và ngoài KCN……………28
Biểu đồ 11: Tỷ lệ công nhân có tham gia các hoạt động văn hoá……………… 32
2
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà ở cho công nhân trong các KCN là một nhân tố quan trọng thúc đẩy
phát triển sản xuất của các doanh nghiệp, đem lại lợi ích trước mắt cho địa
phương và lợi ích lâu dài cho đất nước.
1. TÍNH CẤP THIẾT.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có sự chuyển dịch
kinh tế sang các lĩnh vực công nghiệp, dich vụ dẫn đến sự xuất hiện hàng loạt của
các khu công nghiệp, khu đô thị ở nhiều địa phương trên cả nước. Sự dư thừa lao
Đối tượng nghiên cứu
Nhà ở cho công nhân khu công nghiệp là một trong những bộ phận quan
trọng của vấn đề nhà ở cho những người thu nhập thấp. Nhà ở là một bộ phận to
lớn trong những tài sản của quốc gia, hơn nữa nó còn là một nhu cầu thiết yếu
của mỗi cá nhân. Nhà ở có một vai trò rất lớn, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống
của cá nhân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập
trung vào nhà ở cho một bộ phận của giai cấp công nhân, công nhân khu công
nghiệp. Trong đó chủ yếu tập trung chủ yếu vào các vấn đề cơ bản của nhà ở cho
công nhân khu công nghiệp, thực trạng vẫn đề này ở nước ta hiện nay và giải
pháp khắc phục những tồn tại, phương hướng trong thời gian tới.
4
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về nhà ở cho công nhân các KCN tập trung vào giải quyết các
mục tiêu cơ bản sau đây:
- Hệ thống và khái quát hoá những vấn đề lý luận, cơ sở khoa học về nhà ở
cho công nhân KCN.
- Phân tích thực trạng để làm sáng tỏ những vấn đề bất cập, nguyên nhân
gây ra những bất cập của nhà ở cho công nhân KCN.
- Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những bất cập góp phần vào sự phát
triển bền vững của các KCN và cải thiện đời sống cho công nhân KCN.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đặc biệt là phương pháp khảo
cứu tài liệu để kế thừa, khai thác các thông tin tư liệu sẵn có, tổng hợp rút ra
những kết luận nghiên cứu mới. Bên cạnh đó, sử dụng duy vật biện chứng làm
nền tảng nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ phương pháp phân tích, tổng hợp và xem
xét cụ thể thực trạng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp ở nước ta. Ngoài ra,
kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc giải quyết vấn
đề nhà ở cho những người thu nhập thấp, đặc biệt công nhân khu công nghiệp.
Từ đó, đề xuất giải pháp chung và riêng để giải quyết vấn đề hiện tại và trong
thời gian tới.
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP
1. Vai trò của nhà ở đối với công nhân các KCN.
1.1. Vai trò của nhà ở nói chung.
Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người. Ph.Angghen
đã nhấn mạnh: “Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới
có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”
1
Nhà ở có một tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi cá nhân, gia đình.
Do đặc điểm địa hình của nước ta là đồng bằng dẫn đến dân cư sinh sống
bằng nghề nông, chủ yếu là trồng trọt. Nghề trồng trọt bắt buộc người dân phải
sống định cư, chăm bón cho cây lớn lên, ra hoa kết trái rồi thu hoạch. Do lối sống
trồng trọt như vậy nên họ phải làm nhà, phải ổn định cuộc sống đảm bảo cho sản
xuất. Dần dần, dẫn đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng với quy mô nhỏ
và tổ chức đơn giản là làng, xã, thôn, xóm. Tất cả các hình thức cộng đồng trên
đều gắn liền với sự phát triển của nhà ở. Ngoài ra, nhà ở không chỉ là nơi để con
người định cư để trồng trọt, sản xuất, ngôi nhà – là cái tổ ấm để giúp con người
đối phó với nóng lạnh, nắng mưa … – là một trong những yếu tố quan trọng nhất
để đảm bảo có một cuộc sống định cư ổn định cả về mặt vật chất và tinh thần.
Nhà ở là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ
phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, mức sống của dân cư mỗi dân tộc.
Thực tế, khi nhìn vào các ngôi nhà có thể nhận biết được phần nào những
phong tục, tập quán, lối sống, văn hoá của người đang sống trong ngôi nhà đó và
cộng đồng xung quanh. Một mô hình nhà phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn
đó là nhà sàn. Những vùng nào là miền sông nước hay ngập lụt như tỉnh Đồng
Tháp hay là miền núi như các tỉnh miền núi phía Bắc, nhà sàn là rất thích hợp. Một
1
Trang web: www.tapchicongsan.org.vn
7
hiệu quả sản xuất. Nhưng, do phần lớn những công nhân trong các KCN, họ sống
xa gia đình nên ngoài những vai trò trên, nhà ở đặc biệt quan trọng hơn trong việc
đảm bảo một cuộc sống cân bằng, ổn định khi sống trong gia đình quen thuộc.
Hướng phát triển các KCN ở nước ta là phát triển KCN áp dụng công nghệ
sử dụng nhiều lao động, sản xuất các mặt hàng cho xuất khẩu mà Việt Nam có ưu
thế (lắp ráp điện tử, may mặc, giày da…). Kết hợp hướng phát triển các KCN đó
với những đặc điểm riêng của nó dẫn đến các KCN thu hút công nhân lao động với
quy mô rất lớn và ngày càng tăng nhanh. Việc đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho một
lượng lớn lao động là một vấn đề khó khăn.
Tạo động lực để thúc đẩy sức lao động của người công nhân KCN.
Động lực về vật chất. Trước hết, nhà ở là nơi giúp công nhân tái sản xuất
một phần sức lao động của mình. Phải có nhà thì công nhân mới có thể nghỉ ngơi
với môi trường thoải mái trong lành hơn sau khi làm việc trong công xưởng với
các thiết bị, máy móc, các chất độc hại. Vì do đặc thù nghề nghiệp nên phần lớn
công nhân phải làm việc theo ca kíp, để đảm bảo hiệu suất tối đa của máy móc,
thiết bị, cũng như yêu cầu đòi hỏi của các chủ hợp đồng.
Động lực về tinh thần. Ngoài việc đem lại những đảm bảo đời sống vật chất
cho công nhân thì nhà ở còn giúp đem lại những lợi ích lớn về mặt tinh thần. Đó là
giúp cho công nhân giảm nỗi lo về an ninh trật tự khi sống trong những khu nhà ở
dành cho công nhân được quản lý chặt chẽ. Ngoài ra, tại nơi ở có các điều kiện
tiếp xúc với phương tiện nghe, nhìn, sách, báo và các khu giải trí vui chơi công
cộng làm phong phú đời sống tinh thần của công nhân.
Vì vậy, nhà ở là một nhân tố quan trọng trong thúc đẩy sức lao động của
công nhân. Cần được các doanh nghiệp quan tâm.
9
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các KCN.
Công nhân sẽ yên tâm sản xuất lao động. Khi “an cư” thì công nhân không
những sẽ yên tâm sản xuất, mà có điều kiện để được đào tạo tốt góp phần nâng cao
chất lượng lao động. Một khi công nhân không phải lo lắng về nơi ăn chốn ở của
sự gia tăng về lực lượng công nhân và tất yếu nhu cầu về nhà ở cho lực lượng lao
động này cũng gia tăng. Về cơ cấu vùng kinh tế, sự phát triển kinh tế được thể hiện
ở cơ cấu vùng theo góc độ thành thị và nông thôn. Một xu hướng ở các nước đang
phát triển là luôn có một dòng dân di cư từ nông thôn ra thành thị. Sự gia tăng dân
số do dòng dân di cư này đồng nghĩa với sự gia tăng về nơi ăn chốn ở cho họ.
2.2. Những chính sách của chính phủ.
Các chính sách của Chính phủ là một nhân tố rất nhạy cảm, ảnh hưởng đến
nhu cầu về nhà ở của công nhân các KCN. Các chính sách khuyến khích phát triển
theo ngành, lãnh thổ kéo theo sự xuất hiện thêm nhiều KCN mới và sự tăng quy
mô các KCN trước. Tăng quy mô sản xuất đồng nghĩa với việc gia tăng nhu cầu
lao động. Ngược lại, những vùng, khu vực chưa được sự quan tâm nhiều của nhà
nước trong việc khuyến khích đầu tư thì sản xuất kém phát triển, dân số có thể di
chuyển sang các vùng khác với nhu cầu lao động cao như các KCN. Bên cạnh đó,
những chính sách về nhà ở xã hội, nhà ở cho những người có thu nhập thấp…
cũng làm ảnh hưởng đến nhu cầu về nhà ở cho đối tượng công nhân các KCN.
2.3. Quy hoạch phát triển và quá trình đô thị hoá.
Chính sách về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Các chính sách về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, thực chất là việc xác
định mục đích sử dụng đất của từng vùng cụ thể. Một ví dụ điển hình về việc thay
đổi mục đích sử dụng đất như việc chuyển mục đích sử dụng đất của một khu vực
11
đang sản xuất nông nghiệp, nay lại quy hoạch thành KCN làm tăng nhu cầu về lao
động ở đây và dẫn đến nhu cầu về nhà ở cho công nhân cũng tăng theo.
Quá trình đô thị hoá
Đô thị hoá là một quá trình tất yếu của mọi quốc gia trong phát triển kinh tế.
Một đặc trưng của quá trình đô thị hoá, đó là dân số tập trung ngày càng đông về
các khu vực có các hoạt động sản xuất kinh doanh về các lĩnh vực như công
nghiệp, thương mại, dịch vụ. Do đó dẫn đến sự xuất hiện của những luồng dân di
cư từ nông thôn ra đô thị. Đó là một nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu về nhà ở
cho những người công nhân lao động tại các KCN.
Hiện nay, công nhân tại KCN trên cả nước, tập trung vào 3 vùng: Vùng kinh tế
trọng điểm miền Bắc, miền Trung, miền Nam. Đến tháng 4/2006, cả nước đã có
135 KCN và thu hút khoảng 1.5 triệu lao động.
Theo số liệu thống kê, lao động có độ tuổi 18-35 chiếm 90%, còn lại từ 36-
50 tuổi. Số công nhân các KCN đang trong độ tuổi lao động đạt 100%, tương ứng
với nhu cầu nhà ở là rất cao. Một đặc điểm của lao động là nữ (chiếm 73%), đặc
biệt là chưa xây dựng gia đình, nên họ rất muốn nếu có điều kiện thì sẽ tạo lập và
xây dựng một tổ ấm trong tương lại.
Vì vậy, những đặc điểm về nhà ở cho công nhân KCN phải phù hợp với
những đặc điểm và tỷ lệ trên để có được không gian nhà ở hiện tại và hướng cho
sự phát triển trong tương lại.
- Đặc thù nghề nghiệp.
Công việc của công nhân các KCN có những đặc thù riêng, khác với lao
động trong các ngành nghề khác. Vì vậy, xây dựng nhà ở cho công nhân chúng ta
phải thấy rõ được những nét riêng biệt đó để đảm bảo những khu nhà ở được xây
dựng lên sẽ thỏa mãn được nhu cầu nghỉ ngơi, sinh hoạt của họ.
13
Trong các KCN, một thực tế là đại đa số công nhân đi làm theo ca. Một
ngày có 3 ca làm việc và ít nhất một công nhân phải làm việc từ 2 đến 3 ca
đêm/tuần tuỳ theo những yêu cầu về sản xuất của doanh nghiệp trong từng đợt,
từng quý. Với những bắt buộc về lao động như vậy, người công nhân trong các
KCN vừa bị ảnh hưởng đến sức khoẻ vừa ảnh hưởng an toàn tính mạng.
Ngoài ra, cần phải đảm bảo việc đi làm vào ban đêm không ảnh hưởng đến
các thành viên trong phòng ở tập thể và các phòng bên cạnh, tạo sự yên tĩnh cần
thiết trong khu nhà ở. Ngoài không gian ở, việc đi lại từ khu nhà ở đến nơi làm
việc vào buổi tối của công nhân cũng cần được tính đến.
- Cấu trúc gia đình.
Không gian nhà ở cần phải đảm bảo những yêu cầu của các gia đình có cấu
trúc khác nhau. Thành viên chủ yếu của các gia đình là công nhân lao động. Họ có
trình độ học vấn không chênh lệch nhiều; với số lượng thành viên trong gia đình
bè, đồng hương. Nhưng do đến từ các vùng nông thôn khác nhau, xuất thân từ
nhiều vùng quê khác nhau nên họ có những phong tục, tập quán riêng biệt.
Qua những nhận xét trên, ta có thể tìm kiếm thiết kế những không gian ở
phù hợp với công nhân ở KCN, sao cho công năng và không gian ở thể hiện được
lối sống mang những sắc thái văn hoá truyền thống.
- Nguyện vọng.
Theo một số điều tra xã hội học, khi được hỏi nguyện vọng về nhà ở thì
100% công nhân ngoại tỉnh đều rất muốn được thuê nhà với giá rẻ gần KCN để
tiết kiệm thời gian đi lại và ổn định đời sống. Về hình thức xây dựng nhà ở, phần
lớn đều muốn được thuê nhà ở do Nhà nước hoặc các doanh nghiệp đầu tư kinh
doanh với giá phù hợp với khả năng thanh toán của họ. Về kiểu nhà ở, 80% công
15
nhân mong muốn được ở trong chung cư nhiều tầng với giá thuê hợp lý, được
sống an toàn trong môi trường tập thể. Về thiết kế, yêu cầu được đưa ra là phải có
khả năng chịu lực, phòng cháy chữa cháy, và có chỗ nấu ăn tập thể để không phải
ăn ngoài trong điều kiện tiền lương ít ỏi.
3.2. Đặc điểm về phân bố.
Khi được hỏi về điều kiện đi lại của công nhân: số người muốn sử dụng xe
đạp và đi bộ chiếm 39%; xe buýt công cộng chiếm 19%; xe nhà máy đưa đón
chiếm 32%. Như vậy, nguyện vọng của phần lớn công nhân là khu nhà ở được xây
dựng gần khu công nghiệp để tiết kiệm thời gian và chi phí.
Theo tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam - Bộ Xây Dựng, tại TCVN
4616:1988, phần bố trí khu, cụm công nghiệp theo yêu cầu quy hoạch đã chỉ rõ:
“… Khi bố trí khu, cụm công nghiệp trong thành phố hoặc ở trên khu đất ngoại vi
thành phố, nên tổ hợp thành cụm công nghiệp – dân cư. Khu công nghiệp – dân cư
là một tổ hợp không gian đặc biệt, bao gồm các xí nghiệp công nghiệp có yêu cầu
bảo vệ vệ sinh từ cấp III đến cấp V, hoặc các xí nghiệp công nghiệp thủ công có
khả năng tổ hợp với khu nhà ở thành một cơ cấu quy hoạch thống nhất. …”.
Các KCN ở vùng ven hoặc cách xa thành phố, tuỳ theo nhu cầu để hình
thành lên cụm công nghiệp – dân cư. Khu dân cư này phải được đảm bảo đủ chức
nhân có thực sự được đưa vào sử dụng đúng mục đích hay không…
- Nhà nước phải đóng vai trò trực tiếp trong việc xây dựng và phát triển nhà
ở cho công nhân các KCN. Để đáp ứng được nơi ăn chốn ở cho người lao động,
trên thực tế số doanh nghiệp có đủ tiềm lực, năng lực để đầu tư nhà ở cho công
nhân mới đến được trên đầu ngón tay. Vì vậy, sự tham gia của nhà nước kết hợp
với các doanh nghiệp là hết sức quan trọng trong việc phát triển nhà ở xã hội, đặc
biệt là nhà ở cho công nhân KCN.
17
5. Kinh nghiệm trên thế giới về giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân.
5.1. Kinh nghiệm của Hà Lan.
- Ở Hà Lan, Luật Xây dựng nhà ở năm 1901 quy định nhà ở cho người
nghèo, người có thu nhập thấp, công nhân là trách nhiệm của Chính phủ, thông
qua việc xây dựng nhà ở xã hội. Luật khẳng định quyền can thiệp của Chính phủ
vào lĩnh vực xây dựng nhà ở, xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả các cơ
quan tham gia trong quá trình xây dựng nhà ở. Vì vậy, số lượng nhà ở xã hội, đặc
biệt là nhà ở cho người lao động do các công ty nhà nước xây dựng luôn cao hơn
so với các công ty còn lại. Từ năm 1947 đến năm 1992, quỹ nhà ở xã hội của Hà
Lan tăng thêm 4 triệu nhà và về cơ bản đã thanh toán xong nạn thiếu nhà ở xã hội.
- Gần đây, Hà Lan đã chuyển đổi phương sách quản lý nhà ở cho người có
thu nhập thấp, công nhân. Nhà nước không bao cấp hay hoàn toàn kiểm soát thị
trường như trước, mà để hoạt động trong sự quản lý và điều tiết của nhà nước.
Luật nhà ở sửa đổi tập trung vào những điểm như: ưu tiên hơn nữa việc thoả mãn
nhà ở cho người có thu nhập thấp; Đảm bảo sự tham gia bình đẳng của các nhà
đầu tư trong việc tham gia vào xây dựng quỹ nhà ở xã hội.
Tóm lại, theo kinh nghiệm của Hà Lan để đáp ứng được nhu cầu về nhà ở xã
hội nói chung, nhà ở cho công nhân nói riêng phải tăng cường sự đóng góp của
toàn dân và của các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân. Vì thế, Hà Lan là một trong
những nước đi đầu trong giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân lao động.
5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
* Chính sách cải cách và thương mại hoá nhà ở, trong đó có nhà ở cho
một số nước, trong đó giới thiệu về việc giải quyết nhà ở tầng lớp lao động với thu
nhập thấp của Hà Lan và Trung Quốc, chúng tôi có một vài kết luân như sau:
19
Về nhận thức, do nhà ở cho công nhân các KCN cũng là một bộ phận để
hình thành và phát triển nhà ở xã hội nên cần có sự quan tâm, phối hợp của các
doanh nghiệp tư nhân và cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó
vẫn cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát quá trình xây dựng và sử dụng
nhà ở của các doanh nghiệp.
Về cơ chế chính sách, phát triển nhà ở cho công nhân KCN phải xem xét,
cân nhắc mọi điều kiện cho từng thời kỳ nhất định, có chính sách cụ thể mang tính
ưu tiên cho mỗi giai đoạn, tránh dàn trải. Trong đó đặc biệt quan tâm đến chính
sách tài chính và chính sách liên quan đến xây dựng.
Về mô hình nhà ở, khi thiết kế quy hoạch chi tiết một khu nhà ở cho công
nhân KCN cần xác định phát triển theo nhiều mô hình đa dạng và nên phát triển
đồng bộ các mô hình. Dựa vào đặc điểm, hoàn cảnh của mỗi địa phương và KCN
nằm trong địa phương đó để phát triển mô hình nhà ở cho công nhân KCN một
cách hợp lý.
20
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN CÁC KCN Ở NƯỚC TA
1. Tình hình phát triển các KCN.
Thời gian qua, các KCN có đóng góp vào thúc đẩy chuyển cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, sự hình
thành và phát triển các KCN ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội khi số lượng KCN
đi vào hoạt động tăng nhanh, sự phân bố các KCN không đồng đều trên cả nước.
Về thu hút đầu tư:
Tính đến tháng 6 năm 2005, các KCN trên phạm vi cả nước đã thu hút được
trên 4400 dự án đầu tư, gồm 2200 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn
đăng ký là 17,5 tỷ USD và 2214 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký
gần 100 ngàn tỷ đồng. Với tốc độ thu hút đầu tư như trên thì dẫn đến một điều tất
nhà ở công nhân tại các KCN đang trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội hiện nay.
2. Thực trạng của nhà ở công nhân các KCN ở nước ta.
2.1. Thực trạng của nhà ở công nhân các KCN trong những năm qua.
Các KCN ở nước ta sau 16 năm xây dựng và phát triển đã có những đóng
góp to lớn cho nền kinh tế nước ta. Đồng hành với sự phát triển đó cũng còn nhiều
vấn đề về xã hội đang đặt ra, điển hình đó là nhà ở cho công nhân lao động. Chúng
ta cần nghiên cứu thực trạng vấn đề này để rút ra những bất cập cần giải quyết.
2.1.1. Về số lượng của các loại nhà.
Số lượng nhà ở phụ thuộc vào số lượng công nhân làm việc trong các KCN.
Nhưng hiện nay, khi tốc độ thu hút lao động của các KCN không ngừng tăng lên
thì việc xây dựng và phát triển nhà ở cho công nhân vẫn không theo kịp được tốc
độ phát triển đó.
Nhà ở do doanh nghiệp xây dựng
Hiện nay, nhu cầu của công nhân về nhà ở do doanh nghiệp xây dựng là rất
lớn, nhưng số lượng các doanh nghiệp tiến hành xây khu lưu trú cho công nhân
22
còn ít, “chỉ đếm được trên đầu ngón tay”. Điển hình, tình hình xây dựng nhà ở
công nhân ở các tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ công nhân ở nhà do doanh nghiệp sản xuất xây dựng
tại các tỉnh, thành phố năm 2006.
Tỉnh, thành phố Tổng số công nhân
Số công nhân ở
nhà do DN xây
Tỷ lệ (%)
Tỉnh Bình Dương 277.020 41.553 15
Tỉnh Đồng Nai 105.280 6.843 6.5
TP Hồ Chí Minh 154.000 6.160 4
Tỉnh Cần Thơ 18.750 375 2
TP Đà nẵng 45.000 900 2
TP Hà Nội 210.00 0 0
Biểu đồ 3: Tỷ lệ công nhân ở nhà do dân xây
tại các tỉnh, thành phố năm 2006
Tỉnh, thành phố Số công nhân Tỷ lệ (%)
TP Hà Nội 203.700 97
TP Đà Nẵng 42.750 95
TP Cần Thơ 17.625 94
Tỉnh Đồng Nai 86.329 82
TP Hồ Chí Minh 93.016 60.4
Tỉnh Bình Dương 167.043 60.3
Nguồn: www.moc.gov.vn
Qua bảng số liệu trên, ta thấy TP Hà Nội là nơi đáp ứng lượng nhà ở do tư
nhân xây dựng cho thuê nhiều nhất bởi vì trong quá trình giải quyết nhà ở cho
công nhân thì hình thức nhà ở do doanh nghiệp xây dựng chưa được chú trọng
phát triển nên đã tạo điều kiện cho loại nhà này hình thành và phát triển ồ ạt.
Ngược lại, là tỉnh Bình Dương và TP Hồ Chí Minh với tỷ lệ chỉ bằng 2/3 của
24
nhóm 3 tỉnh, thành Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ. Đây là những nơi có tỷ lệ công
nhân sống trong các khu nhà trọ lớn nhất.
Tóm lại, dù tồn tại và phát triển ở bất cứ tỉnh nào thì nhà ở do tư nhân xây
dựng vẫn là loại nhà đáp ứng được phần lớn nhu cầu trước mắt của người lao
động, đó là có chỗ ở. Việc không đáp ứng đầy đủ cho công nhân về nhà ở do
doanh nghiệp xây dựng nên dẫn đến tình trạng phát triển ồ ạt của loại nhà này.
Nhà ở do công ty kinh doanh nhà và các tổ chức khác xây dựng
Biểu đồ 4: Tỷ lệ công nhân ở nhà do công ty kinh doanh và
các tổ chức xây dựng năm 2006
Tỉnh, thành phố Số công nhân Tỷ lệ (%)
TP Hồ Chí Minh
54.978 35.7
Tỉnh Bình Dương
66.484 24