Giải pháp thu hút FDI sạch cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam - Pdf 91

CÁC TỪ VIẾT
TẮT
BXH Bảng xếp hạng
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà
nước DNTNDoanh nghiệp tư
nhân EU Liên minh Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước
ngoài GDP Tổng sản phẩm trong
nước
IFC Công ty tài chính quốc
tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KCN Khu công nghiệp
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
NSNN Ngân sách nhà nước
R&D Nghiên cứu và triển
khai TCTKTổng cục
Thống kê
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UBND Ủy ban nhân dân
UNCTAD Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
USD Đô la Mỹ
VNR500 Top 500 doanh nghiệp tại Việt Nam
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XNK Xuất nhập khẩu
XTĐT Xúc tiến đầu tư
i
MỤC LỤC

máy công nghiệp.Vì vậy mà vấn đề cấp thiết bây giờ là cần phải có những giải pháp
để nhằm thu hút được lượng vốn FDI thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn
phải đảm bảo sự ổn định xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững. Trước thực trạng này
nhóm sinh viên nghiên cứu đã xây dựng nên đề tài “Giải pháp thu hút FDI sạch cho
1
sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam” để đóng góp một phần nhỏ ý kiến
của mình giải quyết vấn đề nóng của xã hội.
Phần nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về FDI sạch trong phát triển kinh tế của các
quốc gia
1.1. Những nội dung lý thuyết cơ bản FDI
1.1.1 Khái niệm FDI
Trên thực tế hiện nay do có khá nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư
nước ngoài FDI vì vậy chúng ta khó có thể đưa ra được một khái niệm chính xác
nhất về FDI. Qua tìm hiểu, nhóm sinh viên nghiên cứu xin đưa ra một vài khái
niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với
những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư
trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế
khác”. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc
quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp
thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên
doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này” còn
theo luật đầu tư 2005 thì “ FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc bất kì một tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo
quy định của Luật này”, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

định có một lượng vốn nhất định tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia của chủ
đầu tư nước ngoài ( Đối với Việt Nam là trên 30% vốn pháp định)
-Vốn đăng kí ( registration capital)là lượng vốn mà chủ đầu tư cam kết sẽ
đầu tư sang nước chủ nhà
-Vốn thực hiện ( implement capital) là lượng vốn thực tế mà chủ đầu tư đã
bỏ ra cho hoạt động đầu tư tại nước chủ nhà
1.1.3. Các hình thức FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tồn tại dưới các dạng sau:
a)Phân theo hình thức đầu tư:
* Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là hình thức đầu tư mà các
bên tham gia bao gồm: một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước ký
kết thỏa thuận để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước
chủ nhà trên cơ sở quy định rõ về đối tượng, nội dung kinh doanh, trách nhiệm và
phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay
không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào.
*Hình thức công ty hay doanh nghiệp liên doanh: Doanh nghiệp hay liên
doanh được thành lập giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhà trong đó các bên
cùng góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ vốn
góp .
4
* Hình thức doanh nghiệp 100%vốn từ nước ngoài: Đây là doanh nghiệp do
các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà và họ tự quản lý, chịu hoàn
toàn về trách nhiệm kinh doanh
* Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,
thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T). Những dự
án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận
lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
b) Phân theo bản chất đầu tư:
* Đầu tư mới ( Greenfiel investment): là hình thức đầu tư trực tiếp xây dựng các
cơ sở sản xuất kinh doanh mới hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn

Trong mỗi thời kì, dưới con mắt của các nhà kinh tế học hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài lại được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau nhưng chúng đều
mang một bản chất chung. Để hiểu rõ hơn về bản chất chung này, nhóm sinh viên
nghiên cứu xin đưa ra một vài lý thuyết về dòng vốn FDI
Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư nước ngoài:
Các lý thuyết này dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố vốn và lao
động giữa các nước cũng như việc đầu tư ra nước ngoài nhằm phân tán rủi ro
- Lý thuyết HO(Heckcher và Ohlin-1933)
Với hai nước A và B có các điều kiện sau: Trình độ công nghệ sản xuất,
nhu cầu và thị hiếu, các yếu tố cần thiết cho việc sản xuất hai loại hàng hóa trên
như nhau; hàng hóa X cần nhiều vốn còn hàng hóa Y cần nhiều lao động; sự lưu
6
chuyển hàng hóa giữa hai nước là tự do, không có thuế, không có chi phí vận
chuyển; cả hai nước đều sử dụng hết khả năng về vốn, công nghệ và lao độngcủa
mình
Giả định rằng không có sự lưu chuyển các yếu tố sản xuất qua biên giới và
hiệu quả kinh tế không phụ thuộc vào quy mô thị trường của các nước thì theo mô
hình HO chỉ ra rằng nếu như mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu hàng hóa sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và nhập khẩu những hàng hoá dùng nhiều yếu
tố đầu vào khan hiếm thì sản lượng của hai nước sẽ tăng lên . Lý thuyết này đã cho
thấy sự chênh lệch tính dư thừa và khan hiếm của các yếu tố sản xuất giữa các
nước là nguyên nhân dẫn đến đầu tư nước ngoài
Mô hình này đã được một số nhà kinh tế học sử dụng để giải thích hoạt động
FDI với việc loại bỏ hai giả định nêu trên. Richard S. Eckaus cho rằng khả năng về
vốn giữa các nước là khác nhau đo đó sẽ có nước thừa vốn và nước thiếu vốn. Tại
những nước thừa vốn thì hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn so với những nước thiếu
vốn nên sẽ lưu chuyển dòng vốn giữa các nước. Do đó mục đích tối đa hóa hiệu
quả sử dụng vốn là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự di chuyển vốn quốc tế.
Đồng tình với quan điểm trên MacDougall giải thích rằng nguyên nhân của
sự lưu chuyển vốn quốc tế là do sự chênh lệch về năng suất cận biên cuả vốn giữa

d
1
d
2
M
2
S
O
M
1
O
1
O
2
8
- Lý thuyết Kugman(1983), Dunning và Narula(1996): Giải thích nguyên
nhân của đầu tư nước ngoài với mục đích khai thác hiệu quả vốn là do có dự khác
biệt về chính sách kinh tế vĩ mô của các nước tham gia đầu tư
- Lý thuyết K.Kojima(1978) lại giải thích rằng sở dĩ có đầu tư nước ngoài là
do có sự khác nhau giữa tỷ suât lợi nhuận. Những nước có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ
thu hút được vốn đầu tư mà chênh lệch này chủ yếu là do giá lao động và dung
lượng thị trường
- Lý thuyết D.Salvatore(1993) lại cho rằng sở dĩ có đầu tư nước ngoài là do
sự phân tán rủi ro. Các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn
mà còn quan tâm đến mức độ rủi ro của từng khoản đầu tư cụ thể. Để tránh nguy
cơ phá sản tại thị trường nội địa, Các nhà đầu tư sẽ không dồn hết vốn của mình
vào đầu tư trong nước mà dành một phần để đầu tư ra nước ngoài
1.1.4.2. Các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu tư nước ngoài:
Các lý thuyết này thường xoay quanh các câu hỏi: Tại sao các công ty lại
đầu tư ra nước ngoài, đó là khai thác độc quyền, hiệu quả kinh tế theo qui mô, các

cao khi được sản xuất hàng loạt. Nhưng việc sản xuất hàng loạt sẽ đòi hỏi tay nghề
cao , vốn đầu tư lớn và điều này chỉ có thể xảy ra ở các nước phát triển. Tuy nhiên
khi sản xuất hàng loạt thì giá thành lại hạ , mặt khác sẽ dẫn đến bão hòa sản phẩm.
Để tránh sự suy thoái đòi hỏi các công ty phải mở rộng thị trường ra nước ngoài
bằng việc xuất khẩu hàng hóa. Nhưng khi xuất khẩu lại gặp phải rào cản thuế quan,
10
chi phí vận chuyển, mặt khác do yêu cầu thương mại hóa và tiêu chuẩn hóa sản
phẩm cho nên với tay nghề lao động thấp cũng có thể sản xuất được , vì vậy khi
đưa công nghệ ra nước ngoài sản xuất sẽ tận dụng được cái lợi thế so sánh của
quốc gia nhận vốn như : tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ hơn …Do đó lúc này
FDI xuất hiện vì nó hiệu quả cao hơn sản xuất trong nước và xuất khẩu.
-Lý thuyết chu kì sản phẩm bắt kịp của Akamatsu (1962) : Theo lý thuyết
này, các sản phẩm mới được sản xuất tại các nước đầu tư sau đó xuất khẩu sang
các quốc gia khác. Tại nước nhập khẩu, do sản phẩm mới nhu cầu nội địa tăng nên
xuất hiện nhu cầu sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu với sự giúp đỡ về vốn
, kỹ thuật, công nghệ của nước ngoài. Khi nhu cầu sản phẩm này trong nước được
bão hòa thì nhu cầu xuất khẩu sản phẩm sang một nước thứ ba lại xuất hiện và tại
nước thứ ba này chu trình lại tiếp diễn như nước thứ hai .Như vậy, FDI được hình
thành từ quá trình phát triển liên tục của sản phẩm từ nhập khẩu đến sản xuất trong
nước và xuất khẩu.
-Một số lý thuyết khác đã sử dụng hiện tượng bắt chước các đối thủ cạnh
tranh để giải thích hiện tượng đầu tư trực tiếp nuớc ngoài :
Từ đặc điểm của các ngành độc quyền nhóm là có sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các đối thủ cạnh tranh nghĩa là khi một doanh nghiệp trong nhóm đưa ra hành
động gì tác động tới đối thủ cạnh tranh thì buộc họ phải phản ứng tương tự ,
F.T.Knicckerbocker cho rằng nó sẽ xảy ra tương tự đối với đầu tư trực tiếp nước
ngoài như sau : Giả sử ngành độc quyền của nước đầu tư có 3 doanh nghiệp :
A,B,C chi phối thị trường. Khi doanh nghiệp A mở chi nhánh ở nước nhận đầu tư ,
doanh nghiệp B,C nghĩ rằng nếu hoạt động của A thành công thì sẽ hạn chế mức
tiêu thụ hành hóa của B,C xuất khẩu sang nước nhận đầu tư và tạo lợi thế của nước

sử dụng luật pháp của nước chủ nhà ,nhưng trong một chừng mực nào đó, sự hoạt
động của dự án vẫn chịu ảnh hưởng luật pháp của nước có các bên tham gia đầu tư,
luật quốc tế, luật khu vực. Việc sửa đổi, điều chỉnh luật pháp của nước mình sao
cho càng gần với thông lệ quốc tế là điều mà các nước nên làm bởi sẽ tránh được
các tranh chấp,xung đột không đáng có trong quá trình thực hiện, quản lý các dự án
có vốn đầu tư nước ngoài.
Sáu là, Các bên tham gia vào các dự án FDI thường có quốc tịch và sử dụng
ngôn ngữ khác nhau. Điều này đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ
nước sở tại trong các văn bản và trong quá trình hoạt động của dự án. Bên cạnh đó
quá trình thực hiện dự án FDI là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau, do
đó để có sự hợp tác tốt đẹp cần phải có sự giao hòa văn hóa giữa các bên trong
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.2. Quan điểm về FDI sạch và sự phát triển bền vững của nền kinh tế đối với
các nước đang phát triển
1.2.1 FDI sạch
1.2.1.1. Khái niệm FDI sạch
FDI sạch là nguồn vốn đầu tư đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của nền
kinh tế, phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
· Lợi ích kinh tế: Nguồn vốn đầu tư phải là đầu tư kinh doanh và không nhằm
mục đích trục lợi nào khác. Một khi tiến hành thực hiện đầu tư thì phải đảm bảo lợi
ích cho cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Đối với nước đầu tư khi tiến hành
đầu tư phải nhận được các lợi ích kinh tế như nguồn lao động và nguyên vật liệu rẻ
hơn, tạo ra được lợi nhuận trong quá trình đầu tư. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền vững; cân bằng cán cân
13
thương mại, cơ cấu đầu tư phát triển toàn diện các ngành, phát triển sản xuất theo
hướng thân thiện môi trường, công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp – nông thôn
bền vững, phát triển công nghiệp sạch.
· Lợi ích xã hội: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo đóng góp vào
quá trình thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm đẩy nhanh các mục tiêu quốc gia

đầu tư tiến hành đầu tư trên địa bàn và ngược lại, một chính sách khuyến khích đầu
tư bất hợp lý sẽ tạo rào cản lớn, tạo môi trường đầu tư không thuận lợi đối với các
chủ đầu tư. Ví dụ như: Đối với chính sách quản lý ngoại tệ, nếu một quốc gia quản
lý ngoại hối theo nguyên tắc thả nổi theo thị trường dẫn tới sự thay đổi liên tục của
tỷ giá hối đoái tùy theo nhu cầu thị trường, do đó các chủ đầu tư có tâm lý rụt rè, lo
sợ trong hoạt động đầu tư trực tiếp tại quốc gia đó nhưng nếu quản lý trên nguyên
tắc thả nổi có điều tiết hoặc cố định sẽ tạo tâm lý yên tâm hơn cho chủ đầu tư nước
ngoài. Hay đối với chính sách thương mại, nếu như hạn ngạch xuất nhập khẩu thấp
và các rào cản thương mại khác sẽ gây khó khăn cho các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài bởi vì hầu hết các dự án FDI khi đi vào hoạt dộng đều liên quan tới
xuất nhập khẩu: xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sản phẩm….sẽ
gây ra một tâm lý không tốt cho chủ đầu tư. Ngoài ra, các chính sách thuế, chính
sách ưu đãi và các chính sách vĩ mô khác cũng tác động không nhỏ tới sự di
chuyển vốn của FDI. Do đó để thu hút được dòng vốn FDI trước hết chúng ta đòi
hỏi cần có cơ chế chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu tư để thu hút và giữ
chân nhà đầu tư , cần kết hợp hài hòa giữa các hoạt động quản lý nhằm tạo ra sự
thống nhất trong việc đề ra và thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhưng chỉ với những chính sách như thế
không thôi thì chưa đủ để thu hút dòng vốn FDI sạch bởi lẽ nếu chính sách càng
15
thông thoáng bao nhiêu thì dòng vốn FDI sẽ chảy nhiều vào bấy nhiêu mà không
có kiểm soát và đồng hành với nó là những ảnh hưởng tiêu cực làm bất ổn tính bền
vững của nền kinh tế . Do vậy ngoài những yếu tố trên thì đòi hỏi chính phủ cần
phải có các hoạch định chính sách đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế theo
hướng bền vững, đề cao chất lượng FDI và nhấn mạnh đến bảo vệ môi trường cũng
như trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp chứ không nên chỉ chú trọng tới sự
tăng trưởng kinh tế cao của quốc gia mình mà đánh mất đi tính bền vững .
Thứ hai là chính sách môi trường : Chính sách về môi trường hiện nay đang là
mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài bởi
lẽ trong những năm trở lại đây mặt trái của dòng vốn FDI ngày càng thể hiện rõ nét, nó đã

vụ tiện ích xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài,
các dịch vụ hậu đầu tư và quy định rõ ràng các tiêu chuẩn về môi trường, các chế
tài xử lý các vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và kéo dài, các chuẩn mực
pháp lý giải quyết xung đột quyền lợi giữa chủ và thợ,... để dễ dàng trong việc
kiểm soát hoạt động đầu tư.
Thứ tư là môi trường cạnh tranh trong nước và thế giới: Sức ép từ môi
trường cạnh tranh trong nước và trên thế giới đòi hỏi chủ đầu tư phải luôn cải biến
công nghệ, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của con người, gia tăng mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp .
Do đó tạo điều kiện cho nước tiếp nhận đầu tư tiếp cận với những máy móc tiên
tiến , hiện đại trên thế giới, mở rộng tầm nhìn cho người lao động để học hỏi , tìm
hiểu về khoa học tiến bộ của nhân loại.Bên cạnh đó, hiện nay uy tín nhãn hiệu
quyết định khá lớn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp luôn cạnh
17
tranh gay gắt để tạo một chỗ đứng vững chắc cho mình trên thị trường. Với mức
sống ngày càng cao, con người ngày càng quan tâm hơn tới môi trường sống, do
vậy mà việc sử dụng các nhãn hiệu hàng hóa thân thiện môi trường đang là xu
hướng tâm lý chung của người tiêu dùng. Và đây cũng chính là một yếu tố cạnh
tranh phổ biến của nhiều doanh nghiệp. Chính vì vậy mà chủ đầu tư nước ngoài thì
ngày càng có trách nhiệm hơn với việc xử lý chất thải công nghiệp bởi lẽ nếu quá
trình xử lý không đảm bảo gây hại tới môi trường sống xung quanh thì sản phẩm
của họ sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay làm mất chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị
trường. Từ những phân tích trên chúng ta có thể khẳng định được một điều rằng
sức ép cạnh tranh là một nhân tố không thể thiếu để thu hút được dòng vốn FDI
sạch. Do đó đối với nước tiếp nhận đầu tư cần phải tạo cho mình một môi trường
cạnh tranh công bằng, minh bạch, từ đó tạo một điểm đến đáng tin cậy cho nhà đầu
tư nước ngoài
Thứ năm là tâm lý của nhà đầu tư: Việc quyết định bỏ vốn đầu tư hay
không, đầu tư trong bao lâu , hình thức đầu tư như thế nào phụ thuộc rất lớn cách
nhìn nhận của chủ đầu tư đối môi trường của nước tiếp nhận đầu tư. Nó gắn liền

nay mà các nhà hoạch định chính sách đang hướng đến
1.2.2 Phát triển bền vững( Sustainable development)
1.2.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Đây là khái niệm hoàn toàn mới mẻ, xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh
nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh từ trước tới nay, phản ánh xu thế
của thời đại và định hướng tương lai của loài người.
Năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đã công bố báo cáo:
Tương lai chung của chúng ta. Trong đó có đưa ra khái niệm phát triển bền vững
19
như sau: “ Sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai.” Đây được coi như
là định nghĩa đầu tiên được dùng chính thức và hiện vẫn đang được sử dụng trong
các văn bản của chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)
Như vậy, có thể thấy : Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh,
trong đó sự phát triển của cá nhân, cộng đồng này không làm thiệt hại đến lợi ích
của cá nhân, cộng đồng khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm
đến lợi ích của thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe dọa sự sống
còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh (các loài
cộng sinh). Bởi sự sống của con người là dựa trên cơ sở duy trì được sản lượng,
năng suất tự nhiên, khả năng phục hồi và sự đa dạng của sinh quyển.
Sau đây là một vài mô hình mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu được thể hiện mối quan
hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường từ đó tiếp cận tới sự phát triểnbềnvững
.
Hình 2: Mô hình của 2 nhà môi trường học Canada – Jacobs và Sadle

Kinh tế
Môi
trường
Xã hội
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status