Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự
tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên".( Theo điều 1, luật bảo vệ môi
trường của Việt Nam.)Không thể phủ nhận tầm quan trọng của môi trường đối
với cuộc sống của con người. Ngay từ khi xuất hiện, con người đã biết khai thác
thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Dần dần, con người muốn thỏa
mãn nhiều hơn nên cũng tác động mạnh mẽ hơn tới môi trường. Ngược lại, môi
trường cũng có những tác động lớn tới cuộc sống của con người. Những tác động
qua lại giữa môi trường và con người đang diễn ra từng ngày từng giờ và làm
thay đổi hay biến đổi đời sống của nhân loại.
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn: dân số, lương
thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều liên
quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có
nguy cơ suy giảm. Mặt khác môi trường đang bị phá hoại và ô nhiễm nặng nề
cũng là một phần nguyên nhân gây nên 5 cuộc khủng hoảng trên. Có thể nói thế
giới đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, đó chính là cuộc khủng
hoảng môi trường. Mà nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng này chính là
con người, tuy nhiên cũng chỉ có con người mới có thể khắc phục được tình trạng
này. Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển
cuộc sống của con người.
Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài mối quan hệ giữa con người,xã
hội và tự nhiên, môi trường để viết tiểu luận. Dù đã cố gắng nhưng chắc chắn vẫn
mắc phải một số khuyết điểm khi viết, vì vậy kính mong thầy xem xét kỹ lưỡng
và sửa chữa những sai sót không mong muốn ấy. Em xin chân thành cảm ơn thầy.Mối quan hệ biện chứng giữa con người, xã hội và môi trường
1
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn
khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm
cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
• Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên
nhân tạo
3.Chức năng của môi trường
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
• Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
• Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt
động sản xuất của con người.
• Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
• Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất.
• Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương
thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại
không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới.
Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm
cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.
II. Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên
Tự nhiên theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất vô cùng vô tận. Quá
trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa,
trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ động vật.
và con người chính là những thành phần cơ bản trong hệ thống tự nhiên - xã hội,
một chỉnh thể trong đó những yếu tố tự nhiên và những yếu tố xã hội tác động
qua lại lẫn nhau, quy định sự tồn tại và phát triển của nhau.
1.1. Sự tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên và xã hội, con người
a. Mối quan hệ môi trường và sự tồn tại, phát triển của con người:
Trong quá trình phát triển của tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy
luật tiến hóa, trong những điều kiện nhất định, con người đã xuất hiện từ động
vật. Ở trình độ mông muội, khi con người chỉ biết chủ yếu hái lượm những sản
phẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu như con người bị giới tự nhiên hoàn toàn
thống trị. Cuộc sống của con người phụ thuộc chủ yếu vào môi trường tự nhiên.
Ở trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi khoa học - kỹ thuật phát triển thì con
người đã từng bước chế ngự được tự nhiên, biết khai thác tự nhiên phục vụ cho
lợi ích, nhu cầu của mình. Nhiều ngành nghề được hình thành từ những điều kiện
có sẵn của môi trường tự nhiên như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các
ngành khai thác, Song nhìn chung, môi trường tự nhiên vẫn giữ vai trò to lớn
trong việc tổ chức, phân công lao động, phân bố lực lượng sản xuất và tạo điều
kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trình sản xuất, do đó ảnh hưởng đến
năng suất lao động, đến tốc độ phát triển của xã hội.
Con người tồn tại và phát triển cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là thỏa
mãn những nhu cầu của bản thân, muốn đạt được mục đích ấy thì phải thông qua
lao động. Về lao động sản xuất, C.Mac viết: "lao động, trước hết là một quá trình
diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của
chính mình, con người làm trung gian điều tiết, kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
và tự nhiên. Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là
một lực lượng của tự nhiên". Qua định nghĩa này về lao động sản xuất và tự nhiên
ở một ý nghĩa nào đó, là hai lực lượng tự nhiên quan hệ với nhau, tác động đến
nhau. Lao động không chỉ đơn thuần là một hành vi tự nhiên mà còn là một hành
sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất,
cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là xu thế chung
của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự
phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi
trường.
Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu
thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các
thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn
đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.Tác động
của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi
trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây
ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên
đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy
thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra
thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực.
Trong quá trình lao động, con người cải thiện đời sống của mình và cũng
đồng thời phát triển xã hội. Hay nói cách khác, trong thời đại ngày nay, con
người trở thành trung tâm của sự phát triển. Sự phát triển bắt nguồn từ con người
là sự phát triển bền vững nhất .Tuy nhiên, hiện nay con người đang làm gì để
phát triển chính mình? Rõ ràng, sự khác biệt giữa con người với những sinh vật
khác là con người có ý thức, do đó sự tác động một cách nhân tạo đến tiến trình
phát triển, tức là hoạt động có ý thức, là quan trọng nhất. Nhưng đôi lúc hoạt
động có ý thức lại hạn chế con người. Vậy thì, đối với sự phát triển của con
người, ý thức quan trọng hơn hay phần sinh học của con người quan trọng hơn?
Thực ra chưa ai đặt ra câu hỏi này, ai cũng xem phát triển là một tiến trình tự
những chuyển biến về chất của xã hội loài người, đưa xã hội loài người từ mông
muội, dã man sang xã hội văn minh. Cũng chính phương thức sản xuất quy định
tính chất của mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên vì mỗi phương thức sản xuất
khác nhau sẽ có những công cụ lao động khác nhau để khai thác giới tự nhiên, sẽ
có những mục đích tiến hành sản xuất khác nhau. Khi công cụ lao động thay đổi,
khi mục đích sản xuất của mỗi chế độ xã hội thay đổi thì tính chất của mối quan
hệ giữa xã hội và giới tự nhiên cũng thay đổi.
b. Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ nhận thức và
vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn
Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên được thể hiện qua hoạt động của con
người. Song "tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải
thông qua đầu óc họ"; bởi vậy mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, ngoài việc
phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội còn phụ thuộc vào trình độ nhận
thức, trước hết là nhận thức các quy luật và việc vận dụng nó trong hoạt động
thực tiễn.
Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của con người là hoạt động chinh phục
giới tự nhiên. Hoạt động này có thể làm giới tự nhiên biến đổi theo hai hướng.
Nếu con người tác động vào giới tự nhiên theo đúng quy luật của nó thì con
người đã tạo ra thiên nhiên thứ hai hài hòa đối với sự phát triển của xã hội.
Ngược lại, nếu con người bất chấp quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những cái
có sẵn trong giới tự nhiên thì sự nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡ
cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là không tránh khỏi. Con người tàn phá giới
tự nhiên bao nhiêu thì con người sẽ phải gánh chịu hậu quả của nó bấy nhiêu.
Đấy là lúc tự nhiên "trả thù" lại con người. Anghen đã dạy: "Sự việc nhắc nhở
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chúng ta từng giờ từng phút rằng chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự
nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên
ngoài tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc
Loài người bước vào đời sống kinh tế của mình bằng việc phát minh ra nông
nghiệp và bằng nông nghiệp, loài người đã tạo ra nền sản xuất của chính mình.
Nền sản xuất này có đặc điểm cơ bản: Sản xuất nông nghiệp có đối tượng của
mình là cây trồng và vật nuôi. Con người tác động vào cây trồng vật nuôi để sản
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xuất ra lương thực thực phẩm duy trì sự sinh tồn của mình. Nó dựa vào quy luật
trao đổi chất của bản thân giới tự nhiên để sản xuất ra của cải cho mình. Sản xuất
ở đây là quá trình con người tác động vào cây trồng, thuần hóa và nuôi dưỡng súc
vật, qua đó thu về cho mình những sản phẩm cần thiết để nuôi sống mình. Hái
lượm và săn bắn là chiếm hữu trực tiếp từ tự nhiên cũng chính những nguồn
lương thực, thực phẩm tồn tại trong tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp là con người
chủ động điều khiển và kiểm soát quá trình sinh sản của sinh vật để thu được
những sản phẩm cần cho sự sống của mình. Tóm lại, nền kinh tế của làn sóng
nông nghiệp là nền kinh tế sinh thái. Nó tiến triển, tiến hóa trong sự cân bằng và
bao dung của giới tự nhiên, con người, xã hội hòa hợp với giới tự nhiên.
c.Cách mạng công nghiệp và làn sóng văn minh công nghiệp
Nhân loại chuyển vào thời đại phát triển bằng cuộc cách mạng công nghiệp
thiết lập hệ phát triển thị trường - công nghiệp và tạo ra làn sóng công nghiệp.
Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bản chất nền kinh tế tự nhiên sinh
tồn, tự cung tự cấp, thành nền kinh tế thị trường theo đuổi mục tiêu sản xuất ra
giá trị thặng dư và chuyển nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công
nghiệp. Vậy cuộc cách mạng công nghiệp và làn sóng công nghiệp đã làm thay
đổi mối quan hệ giữa con người, xã hội với giới tự nhiên, với môi trường như thế
nào?
Thứ nhất, làn sóng công nghiệp được diễn ra trong hệ kinh tế thị trường và
được thúc đẩy bởi các quy luật của kinh tế thị trường. Nếu trong làn sóng nông
nghiệp kinh tế là kinh tế sinh tồn thì trong làn sóng công nghiệp, hoạt động kinh
tế là nhằm vào việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Ở đây quy luật giá trị thặng dư là
chế biến tài nguyên và nền kinh tế của làn sóng công nghiệp là nền kinh tế tài
nguyên.
Thứ năm, cùng với quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế là quá trình đô thị
hóa phát triển mạnh, hình thành những trung tâm dân cư rộng lớn, từ đây hình
thành nền văn minh đô thị công nghiệp hóa - một kiểu tổ chức xã hội và một
không gian, một lối sống công nghiệp đô thị mới được xác lập khác hẳn với tổ
chức xã hội trong làn sóng nông nghiệp.
Thứ sáu, kèm theo với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa là quá trình
tăng cường mạnh mẽ mức phát thải công nghiệp và rác thải tăng lên một cách
đáng kể.
Có thể nói, cách mạng công nghiệp và làn sóng công nghiệp đã tạo ra một
mối quan hệ mới giữa con người và giới tự nhiên. Mối quan hệ này đã phá vỡ sự
hòa hợp giữa con người, xã hội và giới tự nhiên. Vì mục tiêu phát triển và những
lợi ích khác nhau của bộ máy kinh tế thị trường công nghiệp, và bằng bộ máy
công nghiệp, con người và xã hội công nghiệp đã mở ra một thời đại phát triển,
đồng thời cũng tạo ra một phương thức phát triển dựa trên việc tăng cường mạnh
mẽ khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên trở thành
mục tiêu tấn công của bộ máy công nghiệp. Dưới sự thúc đẩy của quy luật giá trị
thặng dư và với bộ máy công nghiệp khỏe mạnh nền kinh tế như một cơ thể đói
khát, bằng mọi cách, mọi phương tiện nó tìm kiếm các nguồn tài nguyên và khai
thác một cách mạnh mẽ những nguồn tài nguyên không tái tạo được. Có thể nói,
cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một sự nhảy vọt trong lực lượng sản xuất,
hình thành một lực lượng sản xuất khổng lồ cho nhân loại, đồng thời tạo ra một
lực lượng theo tỉ lệ thuận năng lực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Cùng với quá
trình công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên thiên nhiên, bộ máy công nghiệp
và xã hội công nghiệp đã đụng chạm đến tất cà các chức năng của môi trường.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Không chỉ tài nguyên thiên nhiên bị khai thác và dẫn đến cạn kiệt, bị suy thoái
một cuộc đại cách mạng trong lực lượng sản xuất của xã hội xảy ra.
* Đó là cách mạng khoa học - công nghệ. Gọi là cách mạng khoa học công
nghệ vì ở đây diễn ra 2 cuộc cách mạng nằm trong một tiến trình chung của cuộc
cách mạng lực lượng sản xuất. Cuộc cách mạng khoa học đã đem lại sự đảo lộn
trong khoa học và cuộc cách mạng này đã đem lại một cơ sở mới cho con người
giải quyết mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Nó không chỉ là những
nhận thức chung về thế giới, mà còn đi sâu vào những nhận thức mới về quy luật
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vận động của thế giới vậy chất, một bức tranh mới về thế giới vật chất được hình
thành. Điều quan trọng hơn, những khám phá khoa học về thế giới vật chất đã
trực tiếp dẫn tới một cuộc cách mạng trong công nghệ sản xuất. Đặc trưng của
cách mạng khoa học công nghệ là thông qua công nghệ và quản lý, khoa học trở
thành một lực lượng sản xuất trực tiếp. Từ đặc trưng này ta thấy, phương thức sản
xuất của xã hội đã được nâng cao, thay đổi về chất. Xã hội không chỉ dừng ở bộ
máy chế biến tài nguyên thành những giá trị sử dụng cần thiết cho mình. Bằng
những khám phá về quy luật vận động của thế giới vật chất và bằng những phát
minh công nghệ mới con người đã tạo ra những lực lượng sản xuất bằng con
đường hoàn toàn mới, sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ hoàn toàn mới. Công
nghệ điện tử, công nghệ di truyền là trọng tâm và đột phá của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ. Với công nghệ này đã mở ra một thời đại mới - làn sóng
hậu công nghiệp, làn sóng của khoa học công nghệ. Công nghệ đã làm thay đổi
hoàn toàn xu hướng của làn sóng công nghiệp. Nếu bộ máy công nghiệp là bộ
máy chế biến tài nguyên thì làn sóng khoa học công nghệ hiện đại - công nghệ
điện tử hướng sự phát triển vào quá trình làm chủ các bí mật của thế giới vật chất
và bằng công nghệ chuyển thành những lực lượng mạnh mẽ khổng lồ của thế giới
vật chất thành của cải cho xã hội loài người. Nếu máy móc nối dài cánh tay của
con người, giải phóng lao động cơ bắp, là sự thắng lợi của con người đối với tự
nhiên thì khoa học công nghệ hiện đại là sự giải phóng những lực lượng vật chất
của sự phát triển với chức năng mới - chức năng phát triển. Đây là chức năng đặc
biệt và cơ bản của nhà nước hiện đại. Nó là người điều tiết thị trường và duy trì
cho sự ổn định và bền vững. Với vai tò này, nhà nước có ý nghĩa đặc biệt đối với
việc giải quyết vấn đề môi trường.
Toàn cầu hóa là xu thế đặc trưng của thời đại phát triển hiện đại. Toàn cầu
hóa được thúc đẩy bởi lực lượng sản xuất to lớn và thể hiện một trình độ phát
triển cao của xã hội hóa. Ta biết rằng, trong làn sóng công nghiệp, nhiều khu vực
của trái đất còn nằm ngoài sự tác độn, khai thác và kiểm soát của con người. Đó
là những kho dự trữ to lớn, giàu có cho một quá trình phát triển trong tương lai,
những dự trữ của trái đất còn hơn sức khai thác của con người. Toàn cầu hóa,
cũng tức là con người đã mở rộng phạm vi tác động, khai thác và kiểm soát của
mình trên toàn bộ môi trường của trái đất. Nó đã mở đến những cái kho dự trữ
cuối cùng của giới tự nhiên.
Trên đây ta thấy, làn sóng công nghiệp đã lâm vào mặt mâu thuẫn của sự
phát triển: dường như trong khi thúc đẩy sự phát triển thì sự phát triển đó lại tấn
công, làm tổn thương đến chính ngay nền tảng trên đó xã hội tổ chức toàn bộ sự
phát triển của mình. Ở đây, một viễn cảnh không mấy tốt đẹp hiện ra: một ngày
nào đó mọi nguồn tài nguyên sẽ cạn kiệt và môi trường trở nên tồi tệ trong đó con
người không thể sống được nữa và thế là thế giới sụp đổ. Trước viễn cảnh này,
con đường sống của nhân loại tất yếu là vãn hồi sự cân bằng, hòa hợp giữa con
người, xã hội và giới tự nhiên, đồng thời, để thực hiền yêu cầu này, cơ hồ con
đường phải quay trở lại điểm xuất phát, quay trở lại thời đại của làn sóng nông
nghiệp. Quay lại làn sóng nông nghiệp tức là thụt lùi, phản phát triển. Thực ra hệ
kinh tế thị trường - công nghiệp đã đặt tiến trình kinh tế của nhân loại vào một
tiến trình phát triển không ngừng, bất khả kháng không có gì có thể cản được,
thành một quy luật thép. Thực tế phát triển của loài người đã bác bỏ ý tưởng ngớ
ngẩn, quay trở lại làn sóng nông nghiệp để vãn hồi sự cân bằng quan hệ giữa con
người, xã hội, sự phát triển và môi trường. Chính trong nội sinh của hệ kinh tế thị
trường công nghiệp, lực lượng sản xuất tất yếu được phát triển và những cuộc
cách mạng trong phương thức sản xuất sẽ nổ ra. Cũng chính các cuộc cách mạng
công nghiệp trước đây. Điều này cũng có nghĩa là khi bộ phận phát triển nhất của
thế giới chuyển sang thời đại hậu công nghiệp, thì đại bộ phận thế giới vẫn đang
ở trong làn sóng nông nghiệp hoặc chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng
công nghiệp. Ta biết rằng, chuyển sang làn sóng công nghiệp, xác lập bộ máy
công nghiệp, đồng thời là xác lập nền kinh tế tài nguyên, xác lập trào lưu tấn
công vào thế giới tự nhiên.
Trên kia ta đã phân tích mối quan hệ giữa làn sóng công nghiệp và giới tự
nhiên, và thấy rằng, làn sóng công nghiệp là giai đoạn phát triển của con người
tạo ra một sự mất cân bằng giữa xã hội và giới tự nhiên, có nguy cơ làm tổn
thương trầm trọng môi trường, gây xung đột môi trường. Trong điều kiện giờ
đây, khi làn sóng công nghiệp lan rộng đang còn hiện hữu và phát huy hiệu lực ở
cả một khu vực rộng lớn là khu vực thế giới thứ 3, thế giới đang phát triển. Mặt
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khác, vấn đề khủng hoảng môi trường giờ đây mang tính toàn cầu song khả năng
giải quyết vấn đề chỉ ở chỗ có phương tiện, có cơ sở, để giải quyết xung đột môi
trường, vấn đề quyết định chính là ở chỗ, các quốc gia phát triển hiện đại có tham
gia quyết định vào việc bảo vệ môi trường hay không. Ta biết rằng, sự phát triển
hiện đại là phát triển dựa trên cách mạng khoa học - công nghệ, nhờ đó có thể
tránh được việc tấn công mạnh vào tài nguyên thiên nhiên nhưng thay vì lượng
phát thải của nền kinh tế tri thức này vào môi trường chất độc hại và phế thải gây
tổn thất nặng nề môi trường, việc phá vỡ tầng oozon, làm nhiệt độ trái đất tăng
lên, mực nước biển tăng lên,…, có sự tham gia đáng kể của hoạt động kinh tế xã
hội của các nước phát triển hiện đại. Nhưng những ngoại ứng xấu của hoạt động
kinh tế xã hội của các nước phát triển hiện đại lại chưa thể kiểm soát và chưa có
được những thể chế hữu hiệu, buộc những nước này giảm mức phát thải, xử lý
những phát thải gây ô nhiễm tổn thất môi trường của các nước phát triển.
Có thể nói làn sóng công nghiệp đã trở thành lỗi thời song còn hiệu lực mạnh
và vẫn đang tiếp tục thúc đẩy một bộ phận lớn thế giới phát triển, còn làn sóng
máy công nghiệp, tấn công vào tài nguyên, hệ sinh thái, xét cho cùng là có ý
nghĩa: một sự phát triển vay mượn ở tương lai tấn công vào tương lai. Sự phát
triển của làn sóng công nghiệp trong khi đẩy mạnh sức sản xuất thì đồng thời nó
tấn công ngay vào nền tảng của sự phát triển lâu dài, là môi trường. Có thể nói
khủng hoảng của môi trường là khủng hoảng của sự phát triển. Mà đã là khủng
hoảng của sư phát triển thì vấn đề, một mặt, không phải chúng sẽ xảy ra ở tương
lai, ở những thế hệ mai sau, mà ở ngay thời điểm đang diễn ra sự phát triển của
loài người và mặt khác phải giải quyết vấn đề khủng hoảng môi trường ngay
trong quá trình phát triển ở trong phương thức sản xuất. Bởi vậy, đứng ở khía
cạnh phát triển và ở mối quan hệ giữa con người, xã hội và giới tự nhiên, cần phải
định nghĩa sự phát triển bền vững là quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng
nền kinh tế, xã hội trên cơ sở một phương thức sản xuất hiện đại trong khi đáp
ứng được yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội hiện đại, đồng thời bảo vệ
được môi trường nhằm duy trì mối quan hệ cân bằng, hài hòa giữa con người và
giới tự nhiên, duy trì nền tảng của sự phát triển lâu dài.
Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý, bảo vệ môi trường nhằm duy trì
mối quan hệ cân bằng, hài hòa giữa con người, xã hội và giới tự nhiên chính là
bảo tồn nền tảng vĩnh cửu của sự tồn tại và phát triển của loài người. Khi sức sản
xuất của nhân loại ở giới hạn mấp mé với khả năng chịu đựng của trái đất thì việc
bảo vệ môi trường trở thành một nội dung hoạt động cần thiết và hệ trọng mang
tính sinh tử đối với toàn bộ sự hiện đại và phát triển của nhân loại. Hai mục tiêu,
tái sản xuất mở rộng nền kinh tế hay tăng trưởng không ngừng kinh tế và bảo vệ
môi trường chính là hai yếu tố của sự phát triển bền vững.
Thế giới đã đưa ra nhiều mô hình phát triển bền vững, chẳng hạn mô hình của
Jacols và Sadler, của WCED (hội đồng về môi trường và phát triển bền vững thế
giới), cảu Willen, và của ngân hàng thế giới. Những mô hình này chủ yếu nhấn
mạnh mục tiêu hài hòa của ba hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội, hoặc nếu có đề
cập đến phương thức đạt tới mục tiêu phát triển bền vững thì cũng chỉ nhấn mạnh
vào mô hình sinh thái. Bản chất và nội dung phát triển bền vững mà chúng ta đưa
ra ở đây là trên nền tảng của phát triển hiện đại, sự phát triển bền vững đó không
yếu ở khu vực đang phát triển vì vấn đề này đã được quan tâm đúng mức ở các
nước phát triển. Trong thập kỷ 1980 -1990 diện tích rừng và các khu vực trồng
cây lấy gỗ đã giảm 2%; trong đó diện tích rừng ở các nước công nghiệp hầu như
không đổi, ở các nước đang phát triển tốc độ mất rừng tự nhiên là 8%.
Ở Châu Âu, ô nhiễm không khí (kể cả mưa acid), côn trùng, bệnh và cháy
rừng là nguyên nhân chính làm suy giảm rừng.
Vấn đề đa dạng sinh học được quan tâm hàng đầu ở Châu Mỹ La Tinh,
Caribbean, Châu Á và Thái Bình Dương vì các khu vực này là nơi sinh sống của
khoảng 80% các loài sinh vật trên Trái đất. Tuy nhiên, chưa có một thống kê,
đánh giá về tính đa dạng sinh học ở các khu vực này và chỉ có 13% của khoảng
13 triệu loài trên Trái đất được các nhà sinh vật học mô tả và phân loại. Nơi cư
ngụ, hành lang an toàn cho các sinh vật bị mất dần và sự suy giảm đa dạng sinh
học ở ngoài khu vực bảo vệ cũng góp phần lớn trong việc suy giảm đa dạng sinh
học toàn cầu.
Tất cả các khu vực trên thế giới sẽ phải đương đầu với các vấn đề liên quan
đến nước mặt hoặc nước ngầm hoặc cả hai. Hàng ngày, 25000 người chết do
17
Ô nhiễm và khói bụi
tại Bắc Kinh, Trung
Quốc. Ảnh: Reuters
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nước uống không đạt chất lượng và các bệnh có liên quan đến nguồn nước.
Khoảng 1,7 tỉ người (hơn 1/3 dân số thế giới) không được cung cấp nước sạch và
an toàn. Thêm vào đó, khoảng 1/4 dân số thế giới sẽ lâm vào tình trạng thiếu
nước kéo dài vào đầu thế kỷ tới. Ở Tây Á, Châu Phi, khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương vấn đề quản lý hữu hiệu và phát triển các nguồn nước phải đặt lên hàng
đầu.
Việc cung cấp nước ở các quốc gia có thành phố lớn (megacity) phải đặc biệt
quan tâm đến vấn đề bảo vệ nguồn nước ngầm, xâm nhập mặn vào hệ thống cấp
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tổn thương. Việc sử dụng và mua bán trái phép các hợp chất gây suy giảm tầng
ozone gần đây nổi lên và trở thành vấn đề đáng quan tâm. Sự gia tăng nhanh của
nhu cầu về năng lượng đặc biệt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương (tăng 100%
trong giai đoạn 1990 - 2010), ở Châu Mỹ La Tinh (50 - 70%) đang gây áp lực lớn
cho việc giải quyết vấn đề nóng dần lên của toàn cầu, biến động về khí hậu và
thay đổi mực nước biển.
Các ảnh hưởng của kiểu sản xuất, tiêu thụ hiện nay và việc sản sinh ra chất
thải lên sức khoẻ con người là vấn đề hàng đầu ở Bắc Mỹ và Tây Âu. Việc tích tụ
của chất thải phóng xạ và ảnh hưởng của lượng phóng xạ bị rò rỉ trong thời gian
qua vẫn là mối lo ngại đặc biệt của Đông Âu.
Những vấn đề trên liên quan đến tốc độ đô thị hoá quá nhanh và gia tăng
khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.Mặc dầu nạn nghèo đói và gia tăng
dân số được xem là yếu tố chính của việc suy giảm tài nguyên trên thế giới, các
yếu tố khác như việc sử dụng không hiệu quả các tài nguyên, ô nhiễm do chất
thải công nghiệp, và việc tiêu thụ hoang phí cũng góp phần quan trọng.
Mức quan trọng tương đối của vấn đề môi trường ở các khu vực khác nhau
Vấn đề môi trường Châu
Phi
Châu Á -
Thái Bình
Dương
Châu
Âu và
USSR
Châu Mỹ La
Tinh và
Caribbean
Vấn đề môi trường Châu
Phi
Châu Á -
Thái
Bình
Dương
Châu
Âu và
USSR
Châu Mỹ La
Tinh và
Caribbean
Bắc
Mỹ
Tây
Á
Vùng
Cực
Đất: suy thoái
T T GN T G T GN
Rừng: mất rừng, suy thoái
T T GN T GN T KB
Đa dạng sinh học: mất nơi
cư ngụ của sinh vật
T T T T GN T GN
Nước ngọt: trữ lượng, ô
nhiễm
T T GN T GN T GN
Biển và bờ biển: suy thoái
GN T T T GN T GN
chất thải. Các rác thải này làm ô nhiễm nguồn nước, phá hủy sự cân bằng trong
môi trường sống của các sinh vật biển. Bên cạnh đó, sự cố tràn dầu gây nên ô
nhiễm trầm trọng và khó khắc phục. Ô nhiễm biển đặc biệt là ô nhiễm kim loại
nặng, hóa chất độc hại gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển. Ô nhiễm nước
biển ở các bãi tắm, các điểm du lịch và sự xuống cấp của cảnh quan thiên nhiên
đã đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch ở Việt Nam.
b.Môi trường không khí
Không khí cũng như
nước, có ý nghĩa sống còn
đối với Trái Đất, tuy nhiên,
khác với nước, không khí
không có ranh giới, không
thuộc về riêng ai,…Ô nhiễm
môi trường không khí là
một vấn đề nghiêm trọng
đối với các đô thị, thành phố
lớn và một số làng nghề ở
nước ta. Ở các thành phố
lớn như Hà Nội, Hải Phòng,
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…
lượng bụi ở trong không khí
luôn vươt mức cho phép 2-3
lần, ở các nút giao thông là
2-5 lần, còn ở các công
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trường lên tới 5-10 lần. Không khí ở các vùng nông thông ở nước ta còn tốt trừ ở
một số làng nghề, bị ô nhiễm chủ yếu do khói từ các lò sử dụng than, củi, …
c. Đa dạng sinh học
3.1.Chính sách dân số
Để tránh xảy ra việc bùng nổ dân số trở lại và để giảm sức ép của dân số lên
môi trường, cần triển khai đồng bộ các chính sách, đặc biệt cần có các chính sách
để kiểm soát được việc di dân tự do. di dân từ nông thông vào thành thị, giảm
sinh con thứ ba.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3.2.Bảo vệ môi trường trong hoạt động công nghiệp, xây dựng, năng lượng và
giao thông vận tải
Nhằm giải quyết các vấn đề môi trường do hoạt động công nghiệp, xây dựng,
nặng lượng và giao thông vận tải gây ra, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
- Lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với quy hoạch phát triển
công nghiệp, nặng lượng, khu công nghiệp, giao thông.
- Đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Tăng cường hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng, sử dụng
hợp lý, chọn lựa phù hợp trong sản xuất.
- Nâng cao chất lượng của các phương tiện giao thông, đảm bảo chỉ tiêu của
môi trường.
- Xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung cho các khu công nghiệp.
3.3.Bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản.
- Áp dụng các kỹ thuật canh tác nhằm giảm thiểu sử dụng hóa chất bảo vệ thực
vật, tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật khi sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật.
- Quy hoạch quy mô các phương thức nuôi trồng thủy sản.
- Ngăn chặn việc chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản. Kinh nghiệm
từ cơn bão số 7 năm 2005 cho thấy những đoạn đê biển có rừng ngập mặn bảo vệ
đều không bị vỡ. Vì vật, bảo vệ rừng ngập mặn là bảo vệ hệ sinh thái đặc biệt,
bảo vệ nguồn lợi thủy sản và còn bảo vệ đê điều.
- Tuyên truyền để nhân dân tuân thủ các quy định của Nhà Nước trong việc
đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
hại trong lĩnh vực môi trường, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lực lượng thanh
tra, kiểm tra triển khai và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm
thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo về môi trường.
3.8.Tăng cường đầu tư cho bảo vệ môi trường
Thực hiện các chủ trương và chỉ đạo của nghị quyết số 41-NQ/TW của bộ
chính trị về công tác bảo vệ môi trường trong đó có việc triển khai xây dựng đề
án chi cho hoạt động sự việc môi trường không dưới 1% tổng chi ngân sách hàng
năm, bộ tài nguyên và môi trường đã và đang phối hợp với bộ tài chính và bộ kế
hoạch và đầu tư khẩn trương tiến hành điều tra, đách giá tình hình đầu tư cho
công tác quản lý và bảo về môi trường thời gian vừa qua, trên cơ sở đó xác định
rõ mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi chi cho sự nghiệp môi trường
- Quản lý chất thải, hạn chế, tiến tới ngăn chặn hoàn toàn mức độ gia tăng ô
nhiễm và suy thoái môi trường, từng bước xử lý các khu vực, điểm nóng về môi
trường, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường
- Xây dựng, quản lý, vận hành và phát triển hệ thống quan trắc và phân tích
môi trường quốc gia( bao gồm các trạm của các bộ ngành và các địa phương),
xây dựng thông tin và cơ sở dữ liệu về môi trường.
- Tăng cường công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, trước mắt tập
trung cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn.
-Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục nâng cao công tác truyền thông
giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
-Hỗ trợ và thúc đẩy xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển cấc
hình dịch vụ môi trường…
3.9.Mở rộng hợp tác quốc tế
Luật bảo vệ môi trường đã tạo thuận lợi để hội nhập quốc tế, đồng thời quy
định các biện pháp hạn chế các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa.Tuy nhiên, để
thúc đẩy hội nhập, đặc biệt trong bối cảnh môi trường, chúng ta cần có cơ chế để