Yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của trần tế xương - Pdf 32

h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

4

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

1.1. Tú Xơng là một hiện tợng động đáo trong lịch sử văn học dân tộc.
Thơ văn ông cho thấy có những yếu tố vợt qua khỏi những khuôn mẫu thẩm
định vốn có, từng thu hút nhiều công trình tìm hiểu và nghiên cứu. Yêu cầu
tìm hiểu Tú Xơng còn là một yêu cầu lâu dài, thờng xuyên.
1.2. Tú Xơng đợc mệnh danh là "nhà thơ trào phúng lớn của dân tộc",
không những thế Tú Xơng còn mang tầm vóc của một nhà trào phúng thế giới.
Một trong những lí do khiến thơ thơ trào phúng của Tú Xơng trờng tồn với
thời gian là nó gắn liền với gốc rễ trữ tình. Đi sâu nghiên cứu vấn đề này, luận
văn nhằm lí giải nguồn gốc tạo nên sức lâu bền trong thơ trào phúng Tú Xơng.
1.3. Tú Xơng không chỉ là một trong những tác giả có nhiều đóng góp
lớn, có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc mà còn có vị trí quan trọng
trong chơng trình học văn ở trờng phổ thông. Nghiên cứu vấn đề này còn có
khả năng giúp cho việc giảng dạy thơ Tú Xơng đợc tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1. Tú Xơng trên lịch trình nghiên cứu gần một thế kỷ qua
Khảo cứu lịch trình nghiên cứu về thơ văn Tú Xơng gần một thế kỷ qua,
chúng tôi thấy có trên 50 công trình tìm hiểu và bài viết nghiên cứu. Có thể
chia lịch trình nghiên cứu Tú Xơng thành hai thời kỳ: trớc và sau cách mạng
tháng 8 năm 1945.
2.1.1. Trớc Cách mạng tháng 8 năm 1945
Nhìn chung ở thời kỳ này, thơ văn Tú Xơng hầu nh cha có sức hút đáng
kể đối với giới nghiên cứu. Việc su tầm thơ văn Tú Xơng cũng cha đợc chú ý

định vai trò của yếu tố trữ tình trong thơ Trần Tế Xơng. Qua đó chứng minh
sức sống của loại thơ trào phúng dựa trên gốc rễ trữ tình.
Cuối cùng rút ra một số kết luận về yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng
Trần Tế Xơng, để từ đó khẳng định thêm vị trí và vai trò của ông trong lịch sử
văn học dân tộc.
5. Phơng pháp nghiên cứu


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

7

Luận văn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở của quan điểm thi pháp học,
phong cách học nghệ thuật với những phơng pháp khác nhau nh: phơng pháp
khảo sát, phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh - loại hình, phơng pháp cấu trúc - hệ thống...
6. Đóng góp và cấu trúc luận văn

6.1. Đóng góp
Thực hiện đề tài với những nhiệm vụ và quan điểm phơng pháp nghiên
cứu, luận văn này là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu nghiên cứu vấn đề một
cách có tính hệ thống, toàn diện nhằm khảo sát xác định vai trò của yếu tố trữ
tình trong thơ Trần Tế Xơng.
6.2. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn đợc
triển khai trong 3 chơng.
Chơng 1. Hiện tợng Trần Tế Xơng trong lịch sử văn học dân tộc
Chơng 2. Sự hiện diện của yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của
Trần Tế Xơng
Chơng 3. Trữ tình là gốc rễ trong thơ trào phúng của Trần Tế Xơng

lại tiếp tục đi thi để có bằng cử nhân. Bốn khoa thi hơng vào những năm 1897,
1900, 1903, 1906 ông đều dự nhng vẫn không gặt hái đợc gì.
Ngày 20 - 1 - 1907 Tú Xơng qua đời đột ngột khi ông mới 37 tuổi đời.
Tú Xơng lấy vợ sớm. Vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn, quê ở Hải Dơng nhng sinh ra và lớn lên ở Nam Định. Bà là ngời phụ nữ hết sức đảm đang, chịu
khó để nuôi chồng ăn học và làm thơ cùng với 5 ngời con.
Nhìn chung, cuộc đời của Tú Xơng là cuộc đời của một nghệ sỹ, nhng
trớc hết là một trí thức phong kiến. Cho nên về ý thức hệ thì vẫn cha có dấu
hiệu gì là thoát khỏi ý thức hệ phong kiến nhng lại sống ở thành thị, vì thế Tú
Xơng có nhiều nét trong cốt cách, trong tâm lý không giống với những trí thức
phong kiến trớc đó mà ngay với Nguyễn Khuyến cũng khác. Thực tế này in
dấu ấn khá rõ trong thơ văn của ông.
1.1.2. Thời đại Trần Tế Xơng
Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của Tú Xơng đã nằm gọn trong một giai
đoạn bi thơng nhất của đất nớc. Trong những năm cuối của thế kỷ XIX - đầu
thế kỷ XX thực dân Pháp làm xáo trộn toàn bộ cơ cấu xã hội Việt Nam. Xã
hội Việt Nam bị phân hoá, mục ruỗng, cuộc sống của nhân dân bị chèn ép,


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

9

còn tầng lớp nho sĩ trái mùa ngày càng rã đám và có xu hớng tự đào thải ra
khỏi giai cấp của mình. Trớc sức mạnh về quân sự cũng nh về kinh tế của thực
dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn bớc đầu cũng có sự chống đối nhất định thế
nhng vua quan nhà Nguyễn lại tỏ ra sự yếu hèn, bạc nhợc đã bán rẻ đất nớc
cho bọn xâm lợc. Điều này đợc thể hiện bằng hiệp ớc cắt đất.
Năm 1867, lục tỉnh Nam Kỳ mất trọn cho Pháp, Tú Xơng lên 3, Bắc Kỳ
trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất. Tú Xơng 12 tuổi, Bắc Kỳ,


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

10

1.1.3. Tú Xơng - chứng nhân và nạn nhân của một thời đại bi - hài
lẫn lộn
Trần Tế Xơng là nhà nho sống ở thành thị khi chế độ thực dân nửa
phong kiến bắt đầu hình thành. Trong thời đại ấy, ông vẫn giữ lề lối của nhà
nho bằng hành động cả cuộc đời của ông gắn với chế độ khoa cử chân chính,
không chịu sự uốn nắn theo những luật lệ trờng thi mà ông cho đó là "vô lí, kỳ
quái". Vì thế mặc dù là ngời có tài nhng cha từng đỗ cử nhân, trong khi đó
những kẻ dốt nát lại đỗ đạt. Tú Xơng căm ghét chế độ thi cử và cả chế độ đẻ
ra chế độ thi cử ấy nhng ông vẫn không thoát ra khỏi cái quy luật của chế độ
này. Và đây chính là tấn "bi - hài kịch" của chế độ ông.
Ông là chứng nhân và cũng là nạn nhân của một giai đoạn bi thơng nhất
của đất nớc, ông phải gánh chịu nhiều nỗi buồn, nhiều bất công. Thực dân
Pháp từng bớc, đặt ách thống trị lên đất nớc, các phong trào chống Pháp nổ ra
lần lợt thất bại. Khi thâu tóm nớc ta trong "guồng máy", thực dân Pháp đã
điều khiển một cuộc đổi thay lớn về tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá - xã
hội Hay trong một "xã hội phong kiến lỗi thời, cổ hủ, phản động bằng một
xã hội thực dân nửa phong kiến mà mới ló mặt đã thấy đầm đìa bùn và máu"
[3, 12]. Khi đặt ách đô hộ, thực dân Pháp là "thổi luồng" với phơng tây tân
thời vào chế độ phong kiến với nền văn hoá phơng Đông cổ truyền. Sự đụng
độ với hệ t tởng, nhân sinh quan, ứng xử văn hoá đợc xây dựng từ bao đời đã
chịu "khuất phục" trớc nền văn hoá phơng tây. Những cái mới, cái lạ đợc xuất
hiện đó là những yếu tố ngoại lai đang giao thoa và lấn lớt nền văn hoá dân
tộc. Ông sống trong sự giao tranh đó, ông tự thấy mình bất lực trớc thời cuộc.
Vì thế trong những sáng tác của mình, Tú Xơng đã ý thức sáng tác, dùng thơ

K

12

Tuy phạm vi phản ánh hiện thực chỉ bó hẹp trong thành phố Nam Định,
nhng ngời đọc cũng dễ dàng biết đợc đây là bức tranh thu nhỏ, điển hình cho
cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó. ở đây "hội tụ" đầy đủ những cái thối
nát, mục ruỗng của xã hội là sản phẩm của xã hội vô luân, vô đạo đức. Đó là
những tên quan dốt nát tham ô nhiễu sự ở phố Hàng Song, đến sự nhục nhã
của một ông Cử trong "Lễ xớng danh khoa Đinh Dậu", hay là sự xuống cấp
đạo đức gia đình nh cha - con ở đất Vị Hoàng, cái lối sống vô đạo đức của ông
quan bà lớn "chồng chung vợ chạ"
Đứng trớc hiện thực cuộc sống đầy rẫy xấu xa, thối nát ấy, Tú Xơng đã
không ngần ngại dùng ngòi bút trào phúng để mỉa mai, để lột trần những cái
vô đạo đức ấy. Tiếng cời trong thơ Tú Xơng đa thanh, nhiều giọng, lắm cung
bậc. Có khi đó là tiếng cời sắc đanh chỉa thẳng vào kẻ thù, có khi là tiếng cời
mỉa mai những kẻ đánh lên án. Dờng nh dới cái nhìn của ông đối với mọi việc
ở đất Thành Nam đều đáng cời, đáng lên án, vô nghĩa. Tú Xơng không bao giờ
nghĩ đến đứng ngoài thời cuộc, đứng trên sự đời, mà nhà thơ tự nhủ: "Giơng
mắt làm chi buổi bạc tình", "Ngủ quách sự đời thây kẻ thức" nhng vẫn không
sao nhắm mắt bịt tai trớc thời thế đảo điên:
Ngoảnh cổ mà trông lại nớc nhà
(Lễ xớng danh khoa Đinh Dậu)
Trong thơ Trần Tế Xơng không phải đơn nhất tác giả sử dụng tiếng cời
trào phúng mỉa mai mà ẩn đẳng sau đó là nỗi niềm thầm kín của tác giả, là sự
chua chát, phẫn uất trong nỗi bi kịch cá nhân và bất lực dằng xé trớc thời
cuộc. Vì thế mà trào phúng và trữ tình là hai cảm hứng chủ đạo trong sáng tác
Trần Tế Xơng.
Tóm lại, thời đại Tú Xơng là một thời đại vừa bi vừa hài. Đây chính là
mảnh đất tốt, là nguồn cảm hứng cho văn học trào phúng nói chung và cho và

(S ở tù)
Nào là ông Cò tây tỉnh Hà Nam:
Hà Nam danh giá nhất ông Cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Nào quan giám khảo là thi hơng trờng Nam Định:
Sơ khảo trờng Nam bác cử Nhu
Thật là vừa dốt lại vừa ngu

Nguyên nhân cái cời của Trần Tế Xơng không thể không nói đến thân
thế của tác giả. Đó là một nho sĩ tài hoa nhng phải sống cảnh nghèo túng và
nạn thi trợt.
Không giống cảnh thanh bần của Nguyễn Khuyến, cái nghèo của Trần
Tế Xơng là cái nghèo cùng cực.
Tác giả viết:
Bức sốt nhng mình vẫn áo bông
Tởng rằng ốm dậy hoá ra không
Một đàn rách rới con nh bố
Hay:
Gạo cứ lệ ăn đong bữa một
Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi
Hoặc tác giả viết về nạn thi trợt của mình:
Trách mình phận hẩm lại duyên ôi
Đỗ suốt hai trờng hỏng một tôi
Nhà thơ ngang nhiên cực tả cái gia cảnh điêu tàn khốn đốn của ông,
hơn nữa ông lại còn bóc trần cả con ngời tinh thần h hỏng của mình:


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K


cời mà còn là cái mâu thuẫn gắn liền với bản chất của sự vật, và ông có một
nghệ thuật tổ chức bài thơ để đạt hiệu quả trào phúng cao.
1.2.3. Nguồn mạch sức sống của thơ trào phúng Trần Tế Xơng
Từ trớc đến nay, Tú Xơng nổi tiếng trên văn đàn với t cách là một nhà
thơ trào phúng kiệt xuất. Điều đó đúng nhng cha đủ. Trong thơ văn Tú Xơng
không chỉ có tiếng cời châm biếm, đả kích mà còn là tiếng than, tiếng thở dài.
Tú Xơng không chỉ là một nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ đậm chất
trữ tình. Trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xơng chỉ là mặt này hay mặt


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

15

khác của cùng một hiện tợng, chỉ là sự khúc xạ vào những lăng kính khác
nhau của cùng một tâm hồn và nó thể hiện rõ ở giọng điệu.
Trong lịch sử văn học dân tộc, xuất hiện nhiều nhà thơ trào phúng:
Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, Tú Mỡ, Tú Sụn thế nhng có thể nói thơ của họ
không có sức sống lâu bền trong lòng độc giả nh thơ trào phúng của Tú Xơng.
Hầu hết trong những sáng tác của mình, các tác giả đã đẩy lùi, tách rời yếu tố
trữ tình ra khỏi trào phúng, họ tập trung "gọt mài" lời thơ đanh thép thiên về
đả kích. Với Tú Xơng, giọng điệu có khi là phê phán, trào phúng, mỉa mai,
cay độc, có khi là giọng tự trào chua chát, buồn bã ngao ngán cho mọi biến
đổi đáng buồn ở cuộc đời, khi thì giọng nanh nọc, bốp chát khó chịu. Đằng
sau và bên trong tiếng cời của Tú Xơng là tâm tình sâu kín của nhà thơ, là sự
chua chát phẫn uất trong nỗi bi kịch cá nhân và bất lực trớc thời cuộc. Thơ ông
vì thế không thể cời hỉ hả thoả mãn. Sau tiếng cời là cả một nỗi đau, cả nỗi
niềm da diết sâu lắng của nhà thơ. Nguyễn Tuân từng nói: "Cái gốc hiện thực
mà không có cái ngọn trữ tình, cái tán lãng mạn ấy thì Tú Xơng tắt gió trong


Cái nhìn trữ tình đối với thế giới nảy sinh khi con ngời (tác giả, ngời
diễn xớng, ngời đọc) biểu lộ thái độ riêng của mình đối với thế giới xung
quanh. Bởi vậy, cái "tôi" tự biểu hiện có vai trò đặc biệt quan trọng trong trữ
tình. Do đó, "cái nhìn trữ tình" theo nghĩa rộng, nh một năng lực thẩm mỹ của
con ngời - năng lực tích tụ những trải nghiệm thầm kín, cả trong nghệ thuật
lẫn trong đời thờng.
Phơng thức trữ tình tái hiện các hiện tợng đời sống, nh trực tiếp miêu tả
phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện. Sự tái hiện này không
mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc,
chiêm nghiệm, suy tởng của mình. ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc
cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy định những dặc
điểm cốt yếu của các tác phẩm trữ tình.
Trong phơng thức trữ tình, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm.
Do thi phẩm trữ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa của
con ngời, nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời hiện tại. Ngay cả khi
tác phẩm trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc động trữ tình
vẫn đợc thể hiện nh một trạng thái sống động. Nhờ đặc điểm này, những rung
động thầm kín mang tính chủ quan, cá nhân, thậm chí cá biệt của tác giả dễ
dàng đợc ngời đọc tiếp nhận nh rung động của chính bản thân họ.
Nội dung của phơng thức trữ tình đòi hỏi một hình thức thể hiện phù
họp, tơng ứng. Lời văn của tác phẩm trữ tình phải hàm súc, giàu nhịp điệu.
Chính vì thế, tác phẩm trữ tình có thể đợc viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhng
thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó.
2.1.3. Biểu hiện của trữ tình trong thơ trào phúng
Cảm hứng trào phúng trong văn học Việt Nam có từ sớm, trớc hết có từ
trong văn học dân gian. Trong văn học viết từ thế kỷ XIII, theo Bùi Văn
Nguyên - Hà Minh Đức, một số tác giả đã làm thơ trào phúng nh Nguyễn Sỹ
Cố. Từ thế kỷ XVI trở đi, các nhà thơ trào phúng xuất hiện ngày càng nhiều

Vấn đề có thể khép lại bằng luận điểm của L. I. Timôphêep "trào phúng
là một loại đặc biệt của sáng tác văn học gần gũi với trữ tình, sử thi và kịch
trong những trờng hợp cụ thể".
2.2 Biểu hiện của trữ tình trong thơ trào phúng Trần Tế Xơng

2.2.1 Nhân vật trữ tình và cái tôi tác giả trong thơ trào phúng của
Trần Tế Xơng.
Trong sáng tác của mình, những cái ngợc đời, đảo lộn, "chớng tai gai
mắt", đều đợc Trần Tế Xơng đề cập khá chân thực với lối châm biếm, đả
kích, phủ nhận triệt để. Ngời đọc dễ dàng nhận thấy một nhà thơ có cá tính
mạnh mẽ, một tài năng thơ ca. Bên cạnh đó, Trần Tế Xơng đã có những bài
viết về mình, viết về cuộc sống tâm t, tình cảm của mình và đã thể một cái tôi
trữ tình khá rõ.
Nhân vật trữ tình - tác giả đợc thể hiện khá nhiều trong thơ. Chúng ta
biết rằng, nhân vật trữ tình có quan hệ mật thiết với con ngời tác giả nhng
không hoàn toàn đông nhất với tác giả. "Nhân vật trữ tình là con ngời "đồng
dạng" của tác giả. Nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình nh một con
ngời có đờng nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có
thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung" [12, 201].
Tú Xơng đã đa mình vào thơ nh một nhân vật khách thể: Nhân vật Tú
Xơng có cá tính rõ rệt và ít nhiều có ý nghĩa điển hình sâu sắc cho cả một lớp


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

19

ngời trong thời đaị đơng thời. Nhân vật trữ tình ấy, dù đợc khách thể hoá, nhng
trớc hết cũng thuộc thế giới trữ tình của tác giả. Nhân vật trữ tình với tác giả

Ông thi trợt không phải vì dốt, mặc dầu ông vẫn nói:
Rõ thật Nôm hay mà chữ dốt
Tám khoa cha khỏi phạm trờng quy
(Buồn thi hỏng)


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

20

Mà nguyên nhân chính yếu là tội phóng túng, ngang tàng không hợp và
không chịu uốn nắn theo khuôn mẫu phép tắc của chế độ thi cử phong kiến.
Vì thế Tú Xơng càng muốn lập thân bằng khoa cử thì chế độ càng hút hủi ông
ra. Tú Xơng lao vào thi cử, trợt và cứ trợt, cứ trợt mãi nhng ông vẫn thi, ít
nhất Tú Xơng dự đến 8 khoa thi. Sự thi hỏng này kéo dài liên tiếp là cả một
nỗi niềm chua chát của ông, nhng đồng thời đây cũng là dịp hứng khởi cho
nhiều sáng tác đặc sắc của ông:
Ông tự cời mình:
Ông trông lên bảng thấy tên ông,
Ông nốc rợu vào ông nói ngông.
Trên bảng, năm hai thầy cử đội
Bốn kỳ, mời bảy cái u thông
Xớng danh tên gọi trên mình tợng,
Ăn yến xem ra có thịt công.
Cái "h", cái "thật", cái "giả" đợc phơi bày rõ ràng là tuỳ vào sự thẩm định
đánh giá của ngời đời. Tú Xơng cố tình phóng đại những thói h tật xấu của
mình cho ngời khác cời. Cho ngời đời cời mình cũng là cách để mình dễ dàng
cời những hiện tợng lố lăng, kệch cỡm.
Nghiện chè nghiện rợu, nghiện cả cao lâu

Thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, cơ cực của vợ khi phải "nuôi đủ năm con với
một chồng", ông chẳng biết làm gì để đỡ đần cho vợ, ông chỉ biết làm thơ đùa,
làm thơ nịnh vợ bằng cách đa vợ ra làm văn tế sống:
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, tay chân trắng trẻo ai dám chê rằng béo rằng lùn
Ngời ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mời
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
(Văn tế sống vợ)
Đề tài tình bạn trong thơ của Tú Xơng cũng thật phong phú, chân tình.
Những ngời bạn là bậc đáng kính, đáng tôn thì cái tình của Tú Xơng gắn bó,
hồn nhiên và rất đỗi tha thiết:
Đi đâu một bớc một chờ
Vắng nhau một khắc một giờ khôn khuây
(Viếng bạn)
Tú Xơng còn mở rộng tình thơng của mình ra khỏi phạm vi quan hệ cá
nhân, lo cái lo chung của thiên hạ khi đại hạn lâu ngày.
Dạo này đá chảy với vàng trôi
Thiên hạ mong ma đứng lại ngồi
(Đại hạn)
Khi gặp một ngời ăn xin, không có tiền Tú Xơng áy náy đến luống
cuống, chẳng biết làm sao chỉ biết đem tiếng chửi ra mà thề thốt:
Ngời đói ta đây cũng chẳng no
Cha thằng nào có tiếc không cho !
(Thề với ngời ăn xin)
Nhân vật trữ tình Tú Xơng thờng trăn trở, thao thức đối với vận mệnh
của non sông đất nớc. Nỗi niềm, tâm sự yêu nớc của Tú Xơng đợc thể hiện
trong thơ thờng là cảnh của đêm tối, trong bối cảnh đó nhà thơ thể hiện một
nỗi buồn lng đọng:



h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

24

lêu nghêu nh rồng ở sân đặt cách dới cái "đít vịt" loi ngoi của bà đầm trên ghế
là bức ký hoạ tệ nhất đời:
Một thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sớng không ?
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dới sân ông cử ngỏng đầu rồng !
(Diễu ngời thi đỗ)
Cời mà đau, mà chảy nớc mắt, tác giả đã lột tả hết nỗi nhục nhã của ngời thi đỗ khoa Đinh Dậu (1897) ở Bắc Kỳ. Tất cả là một giọng điệu phủ nhận,
phủ nhận cái vinh quang và sự tội nghiệp của các sĩ tử An Nam.
Đi sâu vào tiếng cời của Tú Xơng, Nguyễn Tuân nhận xét: "Trở lại cái
cời của Tú Xơng, mà thấy có lúc Tú Xơng dựa hẳn vào con chữ trong từ ngữ
mà gieo rắc tiếng cời. Có lúc chữ thơ không trực tiếp làm ra tiếng cời, mà ý cời lại lẫn vào cái cảnh ngộ tình tiết dẫn ra. Có cái cời tức khắc, có cái cời mai
phục, cái cời cốt mình nổ chậm, có cái cời "làm giặc". Có khi cời sỗ sàng, và
khi không cần bóng bẩy, tế nhị" [21, 317]. Giọng điệu trữ tình trong thơ Tú
Xơng trở thành giọng điệu riêng cơ sự kết hợp với giọng điệu trào phúng, có
lúc dữ dội, lúc lắng đọng. Thơ Tú Xơng lắm sắc giọng, nhiều cung bậc, sắc
thái, có cái quyết liệt của giọng chửi, có cái đằm thắm sâu lắng của nỗi niềm
tâm sự riêng t và nỗi u hoài man mác.
Thơ Tú Xơng trải dài với thời gian bởi lẽ sau tiếng cời ấy là cả tâm tình
của nhà thơ. Tú Xơng cời ngời, cời đời hay cời chình mình thì sau tiếng cời đó
dờng nh có cả tiếng khóc lẫn lộn. Con ngời vừa ghét đời vừa thơng đời ấy
chung quy lại cời đời để khóc cho đời, để làm nguôi ngoai bao nỗi phiền
muộn đắng cay của cuộc đời mình. Chính mối quan hệ kết hợp đan xen, lồng

xuất hiện nhiều tiếng cời. Đó là những "cái cời tràn ra từ nớc mắt". Họ khóc
mà cời, cời mà khóc vì khi đất nớc rơi vào tay bọn xâm lợc thì bao nhiêu cái
chớng tai gai mắt diễn ra hàng ngày. Bọn thực dân Pháp thống trị và bọn vua
quan bu nhìn bày ra lắm chuyện vừa đáng căm giận, vừa đáng gây cời. Bao
nhiêu sự kiện xảy ra: cảnh quan khập khiễng nửa phố nửa làng, cảnh mua
quan bán chức trắng trợn, đĩ điếm lên ngôi mệnh phụ, đền chùa dày đặc dân
phe, con khinh bố, vợ chửi chồng còn bản thân bị xã hội ruồng bỏ, lập thân
bằng công danh thì lận đận, thơng vợ thơng con muốn đỡ đần những không đợc Tất cả sự việc này đã đợc Tú Xơng đề cập trong sáng tác là những tiếng
cời, những chuỗi cời. Những tiếng cời đẫm lệ thâm thầm, nức nở hay những
giot lệ lung linh, nóng bỏng bật ra tiếng cời, hàm chứa đầy tính bi hài. Tiếng
cời của Tú Xơng tiêu biểu cho tiếng cời của các nhà thơ trào phúng, tiếng cời
trào phúng gắn với trữ tình đằm thắm.
Cái cời đã đợc đề cập khá nhiều trong văn học dân tộc. Ca dao xa có
câu:
Làm ngời có miệng có môi.
Khi buồn thì khóc khi vui thì cời.
Hay trong thơ Bà huyện Thanh Quan có câu:
Tạo hoá gây chi cuộc hí trờng
Nguyễn Công Trứ cũng có câu thơ lý thú về cái cời cái khóc:
Ngồi buồn muốn trách ông Xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cời.
Cái cời của Tú Xơng rất nhiều khi vì "buồn tênh lại cời". Đúng là cời ra
nớc mắt.


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

26


Tú Xơng phải tự an ủi mình một cách khôi hài:
ỷ sẵn kẻ lo toan việc nớc, vua chửa dụng hiền.
Hay thiếu ngời dậy dỗ đàn con, trời còn bắt học ?
Trong thâm tâm, Tú Xơng biết đờng khoa danh là đờng luỵ nhng Tú Xơng lại coi công danh là món nợ của nam nhi, phải trả bằng đợc:
Ta chửa trang xong cái nợ ta
Lẽ đâu chịu mãi nợ ru ta !


h oá luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Ngữ văn
K

27

Tú Xơng muốn chứng minh tài năng của mình ở trờng thi, quyết không
chịu khuất phục, nhng càng lao vào thi cử, càng thấy mình chồng chất thêm
bao nỗi chua chát. Từng lặn lội với trờng thi, Tú Xơng thấy rõ chuyện thi cử
lúc này chứa bao điều phi lí, bất công Tú Xơng nhận thấy bao kẻ đỗ đạt chẳng
phải do tài năng đích thực của họ mà do đồng tiền chi phối "Đứa trọng thằng
khinh chỉ vì tiền". Tất cả kẻ đỗ đạt dới con mắt của Tú Xơng chỉ là một lũ bất
tài:
Cử nhân: cậu ấm Kỷ,
Tú tài: con đô Mỹ.
(Than sự thi)
Không chịu đợc ông bật tiếng chửi:
Thi thế mới là thi !
ới khỉ ơi là khỉ !
Đối tợng mà ngọn bút trào phúng Tú Xơng chỉa vào là bọn quan lại,
quan trờng, quan phủ, quan huyện. Một bọn ngời đang dần dần rơi bỏ giáo lý
nhà nho hợp tác với kẻ thù, là bọn ngời "đục nớc béo cò" đang tìm mọi cách
leo lên trong xã hội, bỏ rơi nhân cách con ngời nh thầy Thông, thầy Phán, rồi

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dới sân ông cử ngỏng đầu rồng !
(Giễu ngời thi đỗ)
Bức tranh biếm hoạ thật sinh động và cũng toát ra nỗi đau đời đến thế.
Bà đầm ngồi trên khán đài trên cao, còn các ông cử tân khoa mặc áo thụng
xanh phải "lên gối xuống gối lạy ở dới sân đình" [30, 34]. Nghệ thuật đối đợc
Tú Xơng sử dụng đã đem lại hiệu quả trào phúng sâu sắc: "Bà đầm ngoi đít
vịt" thì ở trên, còn "ông cử ngỏng đầu rồng" thì ở dới; ở trên thì "ngoi", ở dới
thì "ngỏng" làm cho ngời chứng kiến tê tái vô cùng. Tú Xơng không phải tái
hiện miêu tả trào phúng để mà cời, mà cời đó rồi đau xót đó.
Đọc thơ Tú Xơng ta nhận thấy sự căm giận, bất bình của tác giả, trớc sự
đảo ngợc của xã hội và một nỗi niềm da diết sâu lắng, có khi là sự uất ức
muốn tung hê, đập phá của nhà thơ. Do đó, tiếng cời ở loại trào phúng này là
cay độc, tinh vi. Xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế
kỷ XX với những hiện tợng xấu xa, lố bịch nh thầy Phán, thầy Ký Đó là bọn
xu danh trục lợi. Hầu hết chúng đợc miêu tả bằng sự hài hớc và sự phủ định
bằng tiếng cời. Bọn chúng đợc ví nh tôm tép:
Trâu bò buộc chẳng coi buồn nhỉ,
Tôm tép văng mình đã sớng cha ?
(Lụt năm Bính Ngọ)
Còn có bọn quan trờng thờng dựa vào quyền hành của thực dân Pháp để
lọt vào các ghế quan cũng bị Tú Xơng phê phán sâu cay. Ông gọi chúng là
"phờng nhơ":
Bây lâu chơi với rặt phờng nhơ,
Quen mắt a nhìn chẳng biết dơ.
Nào sọt, nào quang, nào bộ gắp.
Đứa bng, đứa hót, đứa đang chờ
Mình hôi mũi ngạt không kỳ quản,
áo ấm cơm no vẫn nhởn nhơ,
Ngán nỗi hàng phờng khi cúng tế,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status