Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn
Lưu Quang Vũ
Bên cạnh một Lưu Quang Vũ - nhà thơ, kịch tác gia nổi tiếng còn có một Lưu
Quang Vũ - nhà văn, là tác giả của gần 30 truyện ngắn nghiêng về cấu trúc tự sự trữ
tình. Với tư duy nghệ thuật thiên về miêu tả chất thơ của hiện thực và con người, có thể
nói chất thơ là nhân tố quan trọng tạo nên cảm quan nghệ thuật, cá tính nghệ sĩ và hiệu
quả thẩm mỹ trong truyện ngắn của Lưu Quang Vũ. Nói đến sự nghiệp sáng tác của
Lưu Quang Vũ, không thể không nói đến truyện ngắn, một thể tài góp phần làm đầy
đặn hơn chân dung văn học của Lưu Quang Vũ đồng thời cho thấy một khía cạnh khác
của tài năng sáng tạo nơi ông.
Trong công cuộc hiện đại hoá văn học nửa đầu thế kỷ XX, không thể không nói
tới đóng góp của loại hình văn xuôi trữ tình, được khơi nguồn từ Thạch Lam, Xuân
Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn Khác với loại hình văn xuôi trào phúng, tả
thực, văn xuôi trữ tình là một loại hình phức hợp. Nó thu hút, dung nạp những tố chất,
những thể loại khác nhau tạo thành tính lưỡng phân, khó khu biệt rạch ròi. Có thể nói
nó được manh nha từ những tiền đề gợi ý của phương thức trữ tình. Đây là hình thức
thơ trong văn xuôi bởi có sự xâm thực khá mạnh của các yếu tố thơ vào văn xuôi,
khiến văn xuôi tự sự trở thành những áng thơ văn xuôi đầy ám gợi và quyến rũ. Tính
lưỡng phân ở cấp độ đồng đẳng giữa thơ và văn xuôi cũng như sự đan xen giữa yếu tố
hiện thực và lãng mạn, giữa tính tự sự và trữ tình đã dệt nên đặc trưng thẩm mỹ riêng
biệt, khó lẫn cho loại hình này.
Trải qua thử thách của thời gian và quá trình tiếp biến văn học, dòng văn xuôi
trữ tình đã làm phong phú và tô đậm bảng màu thẩm mỹ của văn xuôi nghệ thuật.
Những hậu duệ của Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh được tiếp nối và
bổ sung với Nguyên Ngọc, Anh Đức, Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu, Lý Biên Cương,
Nguyễn Thị Như Trang, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư
Trong số đó, Lưu Quang Vũ là một cây bút mang phong cách trữ tình khá tiêu biểu ở
thập niên 70, 80 của thế kỷ trước.
Truyện ngắn của Lưu Quang Vũ về cơ bản vẫn mang những đặc điểm của một
tác phẩm tự sự nhưng lại bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình, những suy nghĩ
nội tâm giàu giá trị biểu cảm. Trên nền móng cấu trúc của tác phẩm tự sự, người kể
Có thể nói truyện của Lưu Quang Vũ đến với người đọc một cách yên ả, không
ồn ào, nó mang vẻ đẹp mong manh, dung dị của loại “hoa xuyến chi” - một loài hoa
cúc dại đã đi vào ký ức của nhà văn. Lưu Quang Vũ thường nhìn vào những việc nhỏ
nhặt, xoàng xĩnh thường ngày, vậy mà sau mỗi câu chữ, nhịp điệu, ta đã tìm thấy từ
các trang viết của ông những lời thì thầm yêu dấu và sâu sắc. Ngay từ những sáng tác
vào thời điểm đất nước trong buổi giao thời từ chiến tranh sang hoà bình, ở thơ cũng
như ở văn xuôi, Lưu Quang Vũ đã dự cảm một sự thật, đó là thời chúng ta đang sống
có vô số những điều tốt đẹp, lớn lao nhưng cũng rất buồn ở chỗ nó vẫn đang thiếu tính
nhân hậu, sự thành thật trong từng việc lớn nhỏ, trong những bước đi của thời gian.
Lúc này, cái cần thiết hơn bao giờ hết với con người nói chung là phải biết xấu hổ.
Chính những trăn trở mang tính hướng thiện và nhân văn đó đã làm nên cốt cách sáng
tạo ở Lưu Quang Vũ và nó chỉ ra một hướng đi đúng, làm nên những trang văn xuôi
mang hơi hướng của riêng ông.
Nói đến chất trữ tình trong truyện ngắn Lưu Quang Vũ không có nghĩa là nói
đến sự áp đảo, sự lấn át của trữ tình hay là sự trữ tình hoá phương thức tự sự mà ở đây
là nói đến sự hoà trộn, đan xen giữa chất thực và chất thơ, giữa bút pháp hiện thực và
lãng mạn làm cho truyện ngắn của ông trở nên uyển chuyển, tinh tế có khả năng diễn
đạt một cách sâu sắc thế giới nội tâm của con người. Chất thực đi vào truyện ngắn Lưu
Quang Vũ không có cái xô bồ, sôi sục như trong truyện ngắn của Lê Lựu, Triệu Bôn
lúc bấy giờ mà nó như một hiện thực được chuyển hoá, biến thái, được lắng lọc qua
những sắc thái nội cảm của người viết. Những vấn đề của lịch sử, xã hội được nhìn
nhận qua tâm hồn con người và qua tâm hồn con người mà dòng chảy đời sống được
tái hiện (Thị trấn ven sông, Mười hai ngày của đời tôi, Người đưa thư, Những người
bạn, Một đêm của giáo sư Tường ).
Có thể thấy ở trong thơ cũng như ở truyện ngắn, Lưu Quang Vũ đã bộc lộ sự
nhạy cảm bản năng gần như một thứ trực giác, một tố chất có tính bẩm sinh của phẩm
chất nghệ sĩ đã giúp ông viết thành công ở cả hai khuynh hướng hiện thực và lãng
mạn. Sự kết hợp hài hoà này tạo nên một thứ văn xuôi thực mà ảo, rõ ràng mà mơ hồ,
không chịu yên phận ở một khuôn khổ đã định sẵn. Từ Thị trấn ven sông, Chuyện nhỏ
sớm mùa thu đến Chuyện về anh, Anh Y, Con người nhũn nhặn là một sự vận động từ
Với Hà Vân (Đứa con), một sinh linh bị bỏ rơi ngay từ khi lọt lòng, được
Diệp, một cô gái trẻ không nỡ để đứa bé không cha không mẹ đã đem về nuôi. Diệp
lấy chồng. Hà Vân được coi như đứa con đầu lòng của họ. Sau đó Diệp sinh hạ thêm
một con gái và một con trai. Chúng sống với nhau như chị em ruột. Không khí đầm
ấm, yên vui của gia đình họ cứ thế trôi qua cho đến năm Hà Vân tròn 15 tuổi, được
dự lớp bồi dưỡng học sinh giỏi của tỉnh. Cô giáo ở Bộ về dạy rất có thiện cảm với tư
chất và tính nết của Hà Vân. Rồi do một sự ngẫu nhiên, cô giáo dạy văn đã biết đến
những bí mật về gốc tích của Hà Vân. Nhưng chuyện sẽ đơn giản hơn nếu chồng của
cô giáo không phải là cha ruột của Hà Vân. Khi cha đẻ của Hà Vân thấu tỏ ngọn
nguồn thì người phụ nữ sinh ra đứa bé cũng biết tin giọt máu mình bỏ rơi năm nào đã
được vợ chồng Diệp nuôi nấng khôn lớn. Và ở đây, câu chuyện trở nên phức tạp khi
mẹ đẻ của Hà Vân lấy chồng, một người đàn ông giàu có nhưng cả hai lại không thể
có con được nữa. Như vậy là sự hiện diện của Hà Vân khuấy động cuộc sống của 6
người lớn, đặc biệt với chồng của cô giáo, với vợ của một thương nhân và với vợ
chồng Diệp. Đứa con là truyện ngắn khá tiêu biểu cho cái nhìn của nhân vật tự vấn,
tự thú. Điểm nhìn này phơi mở các trạng thái tâm lý, soi rọi vào những ngóc ngách
của thế giới nội tâm, khiến lời tự thú của nhân vật mang vẻ thành thật, cảm động. Bao
năm qua, lương tâm người bố đẻ của Hà Vân “cứ dằn vặt không yên” dù đã có gia
đình vợ con yên ổn, còn mẹ đẻ của Hà Vân dù đã có một đời sống sung sướng bên
người chồng giàu có vẫn không nguôi ngoai ân hận đã chối bỏ đứa con của mình. Tất
cả đều đã phải trả giá cho những lầm lỡ của tuổi trẻ. Ở đây, điểm nhìn của nhân vật
tôi, nhập vai người kể chuyện đã tựa vào điểm nhìn nhân vật, tạo ra sự hoà nhập giữa
người kể chuyện với nhân vật, qua lời nói thể hiện sự tự nhận thức sau những trải
nghiệm của nhân vật cô giáo: “ Khi chúng tôi đã chung sống với nhau, quá khứ của
người này, những đúng sai vui buồn của người này cũng là của người kia. Và tôi
cũng nghĩ: con người ta không ai sinh ra đã hoàn thiện, có thể hôm qua người ta có
những yếu đuối, bạc nhược, vô trách nhiệm, hôm nay muốn được sửa chữa lại, hôm
qua chưa là mình, hôm nay mới là mình, hoàn chỉnh, đúng đắn hơn Tại sao lại
không thể làm điều đó? Tại sao đã sai một lần là cứ phải sai mãi, suốt đời không
được cứu vãn, sửa chữa lại”
người thiếu phụ tự xoay xở lấy tình cảnh của mình. Sau khi hai mẹ con bồng bế nhau
ra đường giữa buổi tối mưa gió, Thao cảm thấy ân hận, rồi: “bỗng thấy giận và khinh
mình vô cùng, mà nỡ xử sự như vậy? Làm điều tốt, nhưng không có gan làm đến cùng!
Xưa nay mình vẫn thế, rốt cuộc chỉ là môt kẻ dở dương, một người tốt trong an toàn,
một người tốt nửa vời ”
(5)
.
Nói đến truyện ngắn là nói đến nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện. Ở truyện
ngắn mang đậm chất trữ tình của Lưu Quang Vũ, tình huống không nhằm thúc đẩy
hành động của nhân vật mà thường có vai trò khơi nguồn, chớp lấy những khoảnh
khắc bất ngờ để tìm hiểu và lý giải những xung động của tâm trạng và biến thái của
tinh thần nhân vật. Tình huống tâm trạng hay tình huống khơi mở tâm lý là tình huống
đặc trưng nhất trong truyện ngắn Lưu Quang Vũ. Nhân vật tôi trong Hoa xuyến
chi luôn ám ảnh về những bông cúc dại mà Lán, người con gái đầu đời của anh gọi là
hoa xuyến chi. Từ ngày đầu gặp Lán cho đến sau này, trong tâm trí nhân vật luôn hiện
ra một hình ảnh kép: Lán và hoa xuyến chi. Gia đình của nhân vật tôi và Lán vẫn thầm
mong cho anh và Lán nên duyên phận. Vậy mà có những sự tình cờ làm thay đổi cả
đời sống của con người. Nhân vật “tôi” về Hà Nội làm ở một tờ báo ngành quen với
Kim Yến - một cô gái có vẻ đẹp thị thành quyến rũ. Vẻ đẹp của Kim Yến đã hút hồn
anh và hai người nhanh chóng làm lễ cưới rồi nhanh chóng chia tay. Sau một thời gian
ngắn sống với Kim Yến, nhân vật “tôi” mới nhận ra Lán với vẻ đẹp của loài hoa đồng
nội mới chính là tình yêu đích thực của mình. Nhân vật “tôi” dù đã biết sống mạnh mẽ
và vững chãi hơn cũng “không thể lấy lại được, - dù chỉ là một khoảnh khắc - quãng
thời gian đã mất đi; tôi đã không tìm lại được Lán ”
(6)
.
Qua lời kể của nhân vật tôi trong truyện Anh Thình, nếu không có tình huống
anh Thình xin đi dân công, tạm xa cái xóm nhỏ ở thượng nguồn con sông Thao, dân cư
thưa thớt, còn xa lạ với ánh sáng văn minh thì nhân vật tôi và bà con xóm Vực sẽ
không hình dung được thế nào là “chiếu bóng” mà anh Thình đã được chứng kiến từ
Y sống giả dối, khôn khéo mà vẫn giữ được sự yên ổn, tránh mọi rắc rối mà vẫn được
tiếng là người khí khái, trong sạch khiến chung quanh ai cũng phải nể phục. Nhưng
thực chất đó là người ngại va chạm, chỉ biết sống vụ lợi ích kỷ, khi bị phát hiện ra “gót
chân Asin” là chuyển đến cơ quan khác rồi lặp lại chu kỳ sống tạo uy tín giả cho mình
(Anh Y).
Chuyện về anh dựng nên một kiểu người có thói quen nói xấu người khác, luôn
làm người khác thất vọng. Tâm lý con người ta khi chê người khác, thấy mình giỏi
hơn, cao hơn họ. Nhân vật người kể chuyện xưng tôi cũng đã ám nhiễm thói tật của
nhân vật, thậm chí còn phụ hoạ với những lời chê bai của anh: “Phủ nhận thành quả
của người khác, dè bỉu, cười giễu những thất bại của họ, dường như cái thân phận mờ
nhạt của mình được an ủi rất nhiều”
(7)
. Nhưng trớ trêu ở chỗ, khi nhân vật quen nói
xấu, chê bai bị bệnh nặng phải vào bệnh viện, ở tình thế này lẽ ra nhân vật tôi phải
động viên bệnh nhân tin ở các bác sĩ. Đằng này, khi vào thăm anh, nhân vật tôi lại nói
một hơi về những tiêu cực của ngành y và thầy thuốc một cách hể hả như hai người đã
thường nói với nhau. Và đây là lần đầu tiên, người bệnh, bạn vong niên của nhân vật
“tôi” phản ứng với những lời chê bai, vì tính mạng anh đang nằm trong tay các thầy
thuốc. Hoá ra anh cũng cần đến sự giỏi giang và thành công của người khác: “Sự
thành công ấy giờ liên quan đến chính mạng sống quý báu của anh. Anh như người
ngã xuống sông đang tha thiết bấu víu lấy cái phao người ta ném xuống cứu mình, vậy
mà tôi định giằng lấy của anh, anh không tức giận sao được?”
(8)
. Có thể nói các nhân
vật sống theo kiểu “nhũn nhặn” kể trên vẫn đang hiện diện trong cuộc sống hôm nay,
điều ấy cho thấy ý nghĩa thời sự của truyện ngắn Lưu Quang Vũ. Và có thể phải nói
đến tính dự báo của truyện ngắn Lưu Quang Vũ trong Mùa hè đang đến. Một chàng
kiến trúc sư sống theo kiểu “nghệ sĩ”, không nghĩ đến hiện tại, chăm lo cho hiện
tại mà chỉ hướng về tương lai một cách viển vông, phi thực tế. Với hơi hướng luận đề,
Lưu Quang Vũ đã nhấn mạnh ý nghĩa: “Một người chẳng làm được điều gì hữu ích