Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập BDHSG phần hóa học hữu cơ lơp 11 THPT luận văn thạc sỹ hóa học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------

LÊ QUANG NHỰT

XÂY DỰNG, TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP BDHSG PHẦN
HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 11 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------

LÊ QUANG NHỰT

XÂY DỰNG, TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP BDHSG PHẦN
HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 11 THPT

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học hoá học
Mã số: 60.14.10

Luận văn thạc sĩ giáo dục học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường

5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu............................................................................2
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................2
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận.............................................................................2
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn..........................................................................2
6.3. Thực nghiệm sư phạm...........................................................................................2
7. Những đóng góp của đề tài.........................................................................................2
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.........................................................3
1.1. Bài tập hoá học.........................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm bài tập hoá học ...................................................................................3
1.1.2. Phân loại bài tập hóa học .....................................................................................3
1.1.3. Tác dụng của bài tập hoá học ...............................................................................3
1.1.4. Quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tư duy cho HS .........................5
1.1.5. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học..............................................................8
1.2. Học sinh giỏi và việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THPT ..................................9
1.2.1. Quan niệm về bồi dưỡng HSG ở một số nước phát triển ....................................9
1.2.2. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG............................................................11
1.2.3. Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học ở bậc THPT ....................................11
1.2.3.1. Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hoá học...........................11
1.2.3.2. Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc THPT.......................................13
1.2.3.3. Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT .....................................13
1.3. Thực trạng việc bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT hiện nay...............................15
1.3.1. Thuận lợi................................................................................................................15
1.3.2. Khó khăn................................................................................................................15
1.4. Kết quả thi HSG tỉnh môn hóa học lớp 12 năm học 2011–2012 của một số
trường ở tỉnh Đồng Tháp.........................................................................................16


Tiểu kết chương 1 ...........................................................................................................17
Chương 2. Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập BDHSG phần
hoá học hữu cơ lớp 11 thpt.........................................................................18


3.4. Tiến trình thực nghiệm sư phạm..............................................................................90
3.4.1. Chọn giáo viên thực nghiệm.................................................................................90
3.4.2. Chọn nhóm thực nghiệm và đối chứng...............................................................90
3.4.3. Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm..........................................................................90
3.4.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm...........................................................................91
3.4.5. Kiểm tra mẫu sau khi thực nghiệm ......................................................................91
3.5. Kết quả và xử lí kết quả thực nghiệm .....................................................................92
3.5.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm.....................................................................93
3.5.2. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm........................................................................94
3.6. Phân tích kết quả thực nghiệm ................................................................................98
Tiểu kết chương 3............................................................................................................99
Kết luận..........................................................................................................................100
Tài liệu tham khảo........................................................................................................102
Phụ lục



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân tài có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Trên bia Văn Miếu
Hà Nội, ông cha ta đã khẳng định: “Những người tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chỉnh
thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước phát triển mạnh mẽ và phồn thịnh. Khi yếu tố này
kém đi thì quyền lực đất nước bị suy thoái. Những người giỏi có học thức là một sức mạnh
đặc biệt quan trọng đối với đất nước”. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, và đưa nước ta “sánh ngang
với các cường quốc năm châu trên thế giới”, bên cạnh nâng cao dân trí, Đảng và Nhà nước ta
luôn chú trọng đến bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Trong đó, việc phát hiện và bồi dưỡng
những học sinh có năng khiếu về các môn học ngay ở bậc phổ thông là bước khởi đầu quan
trọng để xây dựng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước. Nhiệm vụ này phải được thực hiện

Khách thể nghiên cứu: Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT.
Đối tượng nghiên cứu: Các dạng bài tập về phần hữu cơ lớp 11 để bồi dưỡng học
sinh giỏi hoá học THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các tài liệu về hoá hữu cơ.
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa hoá học, tài liệu chuyên hoá và
hướng dẫn nội dung thi chọn HSG tỉnh, quốc gia của Sở và Bộ GD - ĐT.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu quá trình dạy và bồi dưỡng HSG hoá học ở khối THPT, từ đó đề xuất vấn
đề cần nghiên cứu.
- Trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về vấn đề bồi dưỡng HSG với các giáo viên có kinh
nghiệm trong lĩnh vực này ở các trường phổ thông.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
- Mục đích: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu quả của
các nội dung đã đề xuất.
- Phương pháp xử lý thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học
giáo dục.
7. Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận:
Đề tài đã góp phần xây dựng được hệ thống các dạng bài tập phần hữu cơ 11 tương
đối phù hợp với yêu cầu và mục đích bồi dưỡng HSG hoá học ở trường phổ thông trong
giai đoạn hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
2


- Xây dựng được hệ thống bài tập cơ bản về phần hữu cơ 11 dùng bồi dưỡng HSG hoá
học.

học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu
khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình.
“ Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào
việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”.
- Bài tập hoá học giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh
động, phong phú. Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm
vững kiến thức một cách sâu sắc.
- Bài tập hóa học là phương tiện để ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất.
4


- Thông qua giải bài tập hoá học, học sinh được rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng
viết và cân bằng phương trình phản ứng, kỹ năng tính theo công thức và phương trình
hóa học, kỹ năng thực hành.
- Bài tập hóa học giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh.
- Bài tập hóa học còn được sử dụng như là một phương tiện để nghiên cứu tài liệu
mới khi trang bị kiến thức mới, giúp cho học sinh tích cực, tự lực, chủ động lĩnh hội kiến
thức một cách sâu sắc và bền vững.
- Bài tập hóa học giúp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và góp phần hình
thành phương pháp học tập hợp lý.
- Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh một
cách chính xác.
- Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục tư tưởng cho học sinh. Thông qua giải bài tập, có
thể rèn luyện học sinh tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học, tính sáng tạo khi giải
quyết các vấn đề xảy ra và nâng cao hứng thu học tập bộ môn.
1.1.4. Quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tư duy cho HS [29], [35]
a. Tư duy và các thao tác tư duy
Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và
nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ nhận thức.
Logic học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Tâm lý học nghiên cứu diễn biến

tổng hợp. Sự phân tích sâu sắc, phong phú là điều kiện quan trọng để tổng hợp được
chính xác, trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ tạo tiền đề quan trọng cho sự phân tích.
- So sánh: Là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng và giữa
những khái niệm phản ánh chúng. Muốn thực hiện được việc đó thì so sánh phải kèm
theo sự phân tích và tổng hợp. Ta phân tích các mặt, những thuộc tính của một hiện
tượng hay khái niệm, đối chiếu với những điều đã biết về đối tượng cùng loại, rồi sau đó
tổng hợp tất cả lại xem các đối tượng cùng loại đó giống nhau và khác nhau ở chỗ nào.
Như vậy sự so sánh không những phân biệt và chính xác hóa khái niệm mà còn giúp hệ
thống hóa chúng.
Có hai cách phát triển tư duy so sánh:
+ So sánh liên tiếp (tuần tự): Trong giảng dạy hóa học, thường dùng phương pháp
này khi học sinh tiếp thu kiến thức mới. So sánh kiến thức vừa học với kiến thức đã học
trước đó để học sinh hiểu sâu sắc hơn.
+ So sánh đối chiếu: Nghiên cứu hai đối tượng (hai chất, hai phản ứng, hai phương
pháp ...) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận để đối chiếu với nhau.
- Trừu tượng hóa: Là sự phản ánh bản chất cô lập các dấu hiệu, thuộc tính bản chất.
Tìm hiểu cấu tạo nguyên tử và sự chuyển động của electron trong nguyên tử làm tiền đề

6


để thông hiểu sự hình thành các liên kết hóa học, những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
tính chất lí hóa của các chất.
- Khái quát hóa: Là tìm ra những cái chung và bản chất trong số những dấu hiệu, tính chất
và những mối liên hệ giữa chúng thuộc về một loại vật thể hoặc hiện tượng.
Có ba trình độ khái quát hóa:
+ Khái quát hóa cảm tính: Diễn ra trong hoàn cảnh trực quan, thể hiện ở trình độ
sơ đẳng.
+ Khái quát hóa hình tượng – khái niệm: Là sự khái quát hóa cả những cái bản
chất và chung lẫn cái không bản chất của vật hay hiện tượng dưới dạng những hình tượng

Hoạt động giải BTHH

Nghiên cứu
đề bài

Phân
tích

Tổng
hợp

Xây dựng tiến
trình luận giải

So
sánh

Khái
quát
hóa

Giải

Trừu
tượng
hóa

Quan
sát


- Khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội, môi
trường để xây dựng các bài tập hóa học, làm bài tập hóa học thêm đa dạng, kích thích
được sự đam mê, hứng thú học tập của học sinh.
- Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi
các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều
trong tính toán hóa học.
- Chuyển hóa một số dạng bài tập tự luận sang dạng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập về đồ thị, sơ đồ,
bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm…
Như vậy, xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng
vận dụng kiến thức, phát triển tư duy hóa học cho học sinh. Những bài tập có tính chất học
thuộc và nghèo nàn về nội dung hóa học sẽ giảm dần và được thay bằng các bài tập có nội
dung hóa học phong phú, sâu sắc, đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.
1.2. Học sinh giỏi và việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THPT
1.2.1. Quan niệm về bồi dưỡng HSG ở một số nước phát triển [25]
Trên thế giới, việc phát hiện và bồi dưỡng HSG đã có rất lâu. Ở Trung Quốc, từ đời
nhà Đường những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân Rồng để học tập và được giáo
dục bằng những hình thức đặc biệt.
Trong tác phẩm phương Tây, Plato cũng đã nêu lên các hình thức giáo dục đặc biệt cho
HSG. Ở châu Âu, trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc,
văn học…đều được nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ.
Nước Mỹ mãi đến thế kỷ 19 mới chú ý tới vấn đề giáo dục học sinh giỏi và tài năng. Đầu
tiên là hình thức giáo dục linh hoạt tại trường St.Public Schools Louis (1868) cho phép
những HSG học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm, sau đó lần lượt các trường Woburn,
Elizabeth, Cambridge...Và trong suốt thể kỉ XX, HSG đã trở thành một vấn đề của nước Mỹ
với hàng loạt các tổ chức, trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng HSG ra đời. Nhiều bang của Mỹ
có đạo luật về giáo dục HSG. Luật bang Georgia còn đưa ra cả một định nghĩa về HSG:
“HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện
một động cơ học tập mãnh liệt và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết, khoa học; người cần
9

- Dạy ở nhà (Homeschooling).
- Trường mùa hè (summer school) bao gồm nhiều khóa học được tổ chức vào mùa hè.

10


- Sở thích riêng (Hobby): Một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức cho học sinh
thử trí tuệ sau giờ học ở trường.
Phần lớn các nước đều chú ý bồi dưỡng HSG từ tiểu học. Cách thức tổ chức dạy cũng
rất đa dạng: có nước tổ chức thành lớp, trường riêng một số nước tổ chức dưới hình thức
tự chọn hoặc khóa học mùa hè, một số nước khác do các trung tâm tư nhân hoặc các
trường đại học đảm nhận.
1.2.2. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG
Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam rất coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng
HSG trong chiến lược giáo dục phổ thông của mình. Vào những năm đất nước còn chiến
tranh gian khổ, chúng ta đã quan tâm đến vần đề này. Năm 1962, kì thi chọn HSG toán
và văn lớp 10 toàn miền bắc đã được tổ chức (được xem là kì thi chọn HSG quốc gia đầu
tiên của nước ta). Và đến năm 1966, hệ thống trung học phổ thông chuyên được lập ra,
bắt đầu với những lớp chuyên toán tại các trường đại học lớn về khoa học cơ bản. Từ đó
đến nay, hệ thống trường chuyên cùng với các trường trung học phổ thông không chuyên
ở tất cả các tỉnh thành đã trở thành cái nôi bồi dưỡng biết bao thế hệ học sinh giỏi.
Vì sao công tác bồi dưỡng HSG lại được nước ta cũng như các nước khác trên thế giới
quan tâm nhiều đến vậy? Để các em đạt kết quả cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế? Theo
tôi, đây chưa phải là lí do để các nước phải coi trọng vấn đề này, lí do chính ở đây là để nuôi
dưỡng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước. “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà
phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được
phát hiện và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ...” (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng
tại Đại hội VI năm 1996).
Như vậy, việc phát hiện sớm và tổ chức bồi dưỡng HSG đóng vai trò hết sức quan
trọng trong sự phát triển xã hội tương lai.

b. Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học
- Có kiến thức hoá học cơ bản, vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Để có được phẩm chất này đòi
hỏi học sinh phải có năng lực tiếp thu kiến thức, tức là có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ
ràng; có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức ngay ở dạng sơ khởi.
- Có trình độ tư duy hoá học phát triển, có tính sáng tạo cao. Để có được những phẩm
chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực suy luận logic, năng lực kiểm chứng, năng lực
diễn đạt.
- Có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng hoá học. Phẩm chất này được hình
thành từ năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hoá học,
năng lực thực hành của học sinh.
- Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kỹ năng đã có để giải
quyết vấn đề, các tình huống xảy ra. Đây là phẩm chất cao nhất cần có ở một học sinh
giỏi.
12


1.2.3.2. Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc THPT
Để xác định được những học sinh học giỏi hóa học, giáo viên cần phải làm rõ:
- Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh theo tiêu chuẩn kiến
thức, kỹ năng của chương trình và sách giáo khoa.
- Trình độ nhận thức, mức độ tư duy của từng học sinh và đặc biệt là đánh giá được
khả năng vận dụng kiến thức linh hoạt, sáng tạo của học sinh.
Muốn vậy, giáo viên phải theo dõi quá trình học tập trên lớp của học sinh và tiến hành
kiểm tra toàn diện kiến thức của học sinh. Thông qua bài kiểm tra, giáo viên có thể phát
hiện HSG hoá học theo các tiêu chí:
- Mức độ đầy đủ, rõ ràng về mặt kiến thức.
- Tính logic trong bài làm của học sinh đối với từng yêu cầu cụ thể.
- Tính khoa học, chi tiết, độc đáo được thể hiện trong bài làm của học sinh.
- Tính mới, tính sáng tạo (những đề xuất mới, những giải pháp có tính mới về mặt bản
chất, cách giải bài tập hay, ngắn gọn...).

giúp các em học tốt môn hóa cũng như các môn học khác trên lớp.
Hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh là cả một quá trình lâu dài. Nó được
hình thành dần trong quá trình học sinh ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới
sự tổ chức và điều khiển của giáo viên. Vì vậy, giáo viên cần phải chú ý hình thành động cơ
học tập cho học sinh ngay từ trên lớp. Nếu trong dạy học, giáo viên luôn thành công trong
việc tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điều mới lạ, cách giải quyết thông minh các
nhiệm vụ học tập, tạo ra được những ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy
sinh nhu cầu của các em đối với tri thức khoa học. Học tập sẽ trở thành nhu cầu không thể
thiếu được của các em.
b. Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý
Nội dung dạy học gồm hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tập tương ứng. Trong đó, hệ
thống lý thuyết phải được biên soạn đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát yêu cầu của
chương trình; soạn thảo, lựa chọn hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp học sinh nắm
vững kiến thức, đào sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời phát triển được tư duy
cho học sinh.
Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho học sinh không cảm thấy căng thẳng,
mệt mỏi và quá tải, đồng thời phát huy được tối đa tính tích cực, tính sáng tạo và nội lực
tự học tiềm ẩn trong mỗi học sinh.
c. Kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình dạy đội tuyển, giáo viên có thể đánh giá khả năng, kết quả học tập của học
sinh thông qua việc quan sát hành động của từng em trong quá trình dạy học, kiểm tra hoặc
phỏng vấn, trao đổi. Hiện nay, thường đánh giá kết quả học tập của học sinh trong đội tuyển
bằng các bài kiểm tra, bài thi (bài tự luận, trắc nghiệm hoặc bài thi hỗn hợp). Tuy nhiên cần
14


chú ý là các câu hỏi trong bài thi nên được biên soạn sao cho có nội dung khuyến khích tư duy
độc lập, sáng tạo của học sinh.
1.3. Thực trạng việc bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT hiện nay
1.3.1. Thuận lợi


HSG. Tâm lí của các em HSG là học để thi đậu vào một trường Đại học nào đó mà các
em và gia đình lựa chọn.
- Nội dung, phương pháp giảng dạy bồi dưỡng HSG còn dựa vào kinh nghiệm của
giáo viên trực tiếp giảng dạy là chính.
- Giáo viên bồi dưỡng HSG vẫn phải hoàn thành tất cả công tác giảng dạy như các giáo
viên khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác như chủ nhiệm, tổ trưởng bộ môn...
nên việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng cũng có phần hạn chế.
- Chế độ chính sách hiện nay cho giáo viên bồi dưỡng HSG còn thấp, không đủ sức
thu hút giáo viên giỏi đầu tư nghiên cứu để bồi dưỡng HSG.
1.4. Kết quả thi HSG tỉnh môn hóa học lớp 12 năm học 2011–2012 của một số
trường ở tỉnh Đồng Tháp
THỐNG KÊ HỌC SINH GIỎI LỚP 12 CẤP TỈNH NĂM HỌC 2011 - 2012
TS Dự
Đạt giải
TT
Trường
thi
I II III KK TC Tỉ lệ (%)
1
Nguyễn Đình Chiểu
9
1 5
3
9
100
2
Nguyễn Quang Diêu
10
1 1 5

5
1
1
2
40
8
Tháp Mười
5
4
1
5
100
9
Cao Lãnh 2
5
1
1
20
10
TP Cao Lãnh
5
1
1
20
11
Lấp Vò 3
3
0
0
12

1
1
25
18
Phú Điền
3
0
0
19
Châu Thành 2
2
0
0
20
TX Sa Đéc
2
1
1
50
21
Tam Nông
5
0
0
22
Trường Xuân
2
1
1
50

Long Khánh A
Mỹ Quý

3
1
2
3

1

0
1
0
0

0
100
0
0

Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã giải quyết được các vấn đề:
- Tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng nhân tài mà bước đầu là việc phát hiện và
bồi dưỡng HSG ở bậc phổ thông.
- Bài tập hoá học và tác dụng của bài tập hoá học trong việc phát triển tư duy cho HS.
- Thực trạng vấn đề bồi dưỡng HSG trong giai đoạn hiện nay - những thuận lợi và khó
khăn.

Chương 2
XÂY DỰNG, TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP BDHSG PHẦN

lầm đó, bài toán sẽ trở nên đơn giản và thừa dữ kiện. Vậy, khi giải bài tập này, vấn đề cần
HS phát hiện là dựa vào dữ kiện bài toán cho: phản ứng xảy ra hoàn toàn và sau phản ứng
thu được một phần chất rắn không tan, đó chính là kim loại Cu phản ứng còn dư, do đó
dung dịch A thu được là dung dịch chứa muối Fe2+ và Cu2+.
Ví dụ 2: Cho 47 gam hỗn hợp hơi của hai ancol đi qua Al 2O3 nung nóng ta thu được hỗn
hợp A gồm ete, olefin, ancol dư và hơi nước. Tách hơi nước khỏi hỗn hợp A ta được hỗn
hợp khí B. Lấy nước tách ra ở trên cho tác dụng hết với natri thu được 4,704 lít H 2 (đktc).
Lượng olefin có trong B được no hoá vừa đủ bởi 1,35 lít dd Br 2 0,2M. Phần ete và ancol
có trong B chiếm thể tích 16,128 lít ở 136,50C và 1atm.
a. Tính hiệu suất ancol bị loại nước thành olefin, biết rằng, hiệu suất đối với mỗi ancol
như nhau và số mol các ete bằng nhau.
b. Xác định CTPT hai ancol.

18


Trích đoạn Bài tập để rèn luyện khả năng suy luận, năng lực tư duy độc lập, diễn Bài tập để rèn luyện năng lực tư duy trừu tượng, đa hướng, khái quát, Phân tích kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status