B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
..........*** ..........
NGUYN TUN HON
XÂY DựNG Hệ THốNG CÂU HỏI Và BàI TậP CủNG Cố KIếN THứC, RèN LUYệN
Kỹ NĂNG Về CHủ Đề PHƯƠNG TRìNH Và Hệ PHƯƠNG TRìNH (LớP 10)
CHO HọC SINH TRUNG HọC Hệ Bổ TúC VĂN HóA
Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp dy hc b mụn Toỏn
Mó s: 60.14.10
LUN VN THC S GIO DC HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. CHU TRNG THANH
VINH - 2010
BNG CH THCH CC CH VIT TT TRONG LUN VN
2
Viết tắt
Viết đầy đủ
TTGDTX
Trung tâm giáo dục thường xuyên
TTGDTX – KTTH – HN
Phương pháp
THBTVH
Trung học Bổ túc văn hóa
THPT
Trung học phổ thông
Pt
Phương trình
CH
Câu hỏi
BT
Bài tập
HTCH
Hệ thống câu hỏi
HTCH và BT
Hệ thống câu hỏi và bài tập
1.5.1. Xác lập vị trí chủ thể của người học, bảo đảm tính tự giác, tích cực chủ động
của hoạt động học tập được thực hiện trong học tập hoặc trong giao lưu.................17
1.5.2. Lồng tri thức trong những tình huống có dụng ý sư phạm......................... 18
1.5.3. Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học....................18
1.5.4. Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học......................................... 19
1.5.5. Tạo niềm tin, lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản
thân người học................................................................................................. 19
1.5.6. Xác định vai trò mới của người GV với tư cách người thiết kế, ủy thác
và điều khiển....................................................................................................19
1.6. Thực trạng dạy học môn toán hệ BTVH ở các TTGDTX (Khảo sát tại
TTGDTX Hương Khê – Hà Tĩnh)...................................................................20
1.6.1. Thực trạng về đội ngũ giáo viên...........................................................20
1.6.2. Thực trạng về học sinh (Khảo sát tại TTGDTX Hương Khê, TTGDTX
Vũ Quang, TTGDTX Hương Sơn – Hà Tĩnh)................................................21
1.7. Kết luận chương 1....................................................................................22
Chương 2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập về chủ đề phương trình
và hệ phương trình nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ
năng.................................................................................................................23
2.1. Phân tích nội dung chủ đề phương trình và hệ phương trình trong chương
trình môn toán hệ BTVH.................................................................................23
2.1.1. Nội dung chủ đề phương trình và hệ phương trình............................... 23
2.1.2. Những kiến thức liên quan đến chủ đề phương trình và hệ phương
trình..................................................................................................................31
2.1.3. Vai trò của phương trình và hệ phương trình........................................ 32
2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng
cho học sinh hệ BTVH về chủ đề phương trình và hệ phương trình................... 33
2.2.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập......................................33
2.2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập giúp học sinh củng cố kiến thức
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; cần bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; cần phải đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Điều 45 quy định về Giáo dục thường xuyên: Giáo dục thường xuyên
giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện
nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích
nghi với đời sống xã hội.
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo
dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập.
Đứng trước sự phát triển và đi lên của đất nước, ngành Giáo dục phải tạo
nên những con người, có sức khỏe tốt, có bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức
tốt, năng động, sáng tạo làm trong chủ mọi vấn đề và có khả năng ứng xử
trong cuộc sống.
1.2. Trong hệ thống giáo dục trung học của Việt Nam bên cạnh các trường
THPT còn có các trường THBTVH thu hút một số lượng lớn học sinh vào
học. Sự tồn tại loại hình trường BTVH là một nhu cầu thực tế nhằm đáp ứng
nguyện vọng học tập của xã hội khi các trường THPT trên thực tế chưa đáp
ứng đầy đủ: Xoá mù chữ và tiếp tục dạy văn hoá, phổ cập giáo dục, vừa học
văn hoá kết hợp đào tạo nghề,… Tuy nhiên do đặc điểm công tác, do những
hoàn cảnh kinh tế, xã hội khác nhau, chất lượng đầu vào quá thấp cho nên hầu
hết học sinh THBTVH có những khó khăn nhất định trong học tập. Việc nâng
7
cao chất lượng dạy học đối với hệ THBTVH là một yêu cầu có tính cấp thiết
đối với ngành giáo dục nước ta hiện nay.
1.3. Nhiệm vụ của việc dạy học môn toán trong các trường học là trang bị cho
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn của mình là: “Xây
dựng hệ thống câu hỏi và bài tập củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng về chủ
đề phương trình và hệ phương trình cho học sinh trung học hệ BTVH”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một hệ thống câu hỏi và bài tập về chủ đề phương trình, hệ
phương trình theo chuẩn kiến thức nhằm giúp học sinh bổ túc văn hóa trung
học củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng đáp ứng yêu cầu học tập tại các
TTGDTX và các lớp bổ túc văn hóa, thông qua đó góp phần đổi mới phương
pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học môn toán trong các hệ vừa làm
vừa học.
3. Giả thuyết khoa học
Khi dạy học môn toán ở các TTGDTX (THBTVH) nếu giáo viên quan
tâm đến việc xây dựng và khai thác thích hợp hệ thống câu hỏi, bài tập theo
chuẩn kiến thức thông qua chủ đề phương trình và hệ phương trình thì sẽ giúp
học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Từ đó góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn toán.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
– Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các chủ trương và
chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến nhiệm vụ dạy học
Toán ở hệ BTVH
– Nghiên cứu các tài liệu triết học, tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy
học bộ môn toán có liên quan đến đề tài.
– Phân tích nội dung kiến thức toán hệ BTVH với chủ đề đã chọn.
9
10
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương:
Chương 1.Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập về chủ đề phương trình và
hệ phương trình nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
11
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái niệm về câu hỏi và hệ thống câu hỏi
1.1.1. Khái niệm câu hỏi
Khái niệm về câu hỏi đã được nhiều tài liệu đề cập đến, tuy nhiên đến
nay cũng chưa thấy có một tài liệu nào đưa ra khái niệm câu hỏi chung nhất.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu khái niệm câu hỏi của một số tài liệu đã được
dẫn ra trong [10, tr. 16 – 17].
Theo từ điển tiếng việt (1992) thì câu hỏi là: Nói ra những điều mình
mong muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời.
Theo từ điển giáo dục thì câu hỏi là câu: Câu nói lên vấn đề đòi hỏi phải
suy nghĩ, cân nhắc rồi đưa ra câu trả lời tương ứng.
Theo giáo trình ngôn ngữ tiếng Việt thì: Câu hỏi là một loại câu nghi vấn
nêu điều chưa biết hoặc còn hoài nghi mà người nói muốn nghe trả lời hoặc
giải thích rõ.
+ Câu hỏi hiểu: Mô tả, so sánh, Giải thích, phát biểu ý chính, dấu hiệu cơ
bản của đối tượng,…
+ Câu hỏi áp dụng: Áp dụng định nghĩa, định lí, quy tắc, tính chất, bài
tập tương tự, phương pháp tương tự,…
+ Câu hỏi phân tích: Tại sao, vì sao, như thế nào ?
+ Câu hỏi tổng hợp: Nhận thấy gì, yếu tố nào, biết gì về,…
+ Câu hỏi đánh giá: Vì sao điều đó là đúng/ sai, tốt/ xấu, được/ chưa
được, nhận xét kết quả,…
Phân loại câu hỏi theo mục tiêu lí luận dạy học của bài
Căn cứ vào mục tiêu bài học theo hướng đổi mới PPDH về kiến thức, kĩ
năng, thái độ gồm:
13
+ Câu hỏi kiểm tra kiến thức, kỹ năng [ 10, tr.24]
+ Câu hỏi thu hút sự chú ý, gợi tính tò mò, hứng thú của học sinh vào bài học.
+ Câu hỏi cho mục tiêu khai thác kiến thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng
bài,… [ 10, tr.24]
+ Câu hỏi tạo sự giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò
+ Câu hỏi cho hoạt động nhóm.
+ Câu hỏi yêu cầu tự nghiên cứu trong lớp.
+ Câu hỏi nhằm giáo dục ý thức, thái độ học sinh tuỳ theo từng loại kiến
thức và yêu cầu kỹ năng của bài học [ 10,tr.24].
Phân loại câu hỏi theo mức độ tư duy
Cách này được chia làm 3 mức độ:
+ Câu hỏi mức độ bình thường học sinh có thể trả lời nhằm kiểm tra mức
độ ghi nhớ kiến thức.
+ Câu hỏi nhằm gợi ý tư duy.
+ Câu hỏi tạo tình huống, chứa đựng một trở ngại về nhận thức yêu cầu
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng để kiểm tra kiến thức học
sinh một cách tổng hợp, dàn trải khắp chương trình và khả năng tư duy của
học sinh ( khi sử dụng loại này cần chú ý cân nhắc độ khó, tính phức tạp của
câu hỏi).
1.2. Hệ thống câu hỏi
1.2.1. Khái niệm hệ thống câu hỏi
Khi dạy học chúng ta vẫn thường sử dụng HTCH nhưng có lẽ cũng ít
thầy cô gáo đi sâu vào tìm hiểu khái niệm HTCH là gì? Tính hệ thống của nó
ra sao?
Thực chất cũng chưa có một định nghĩa chính thức nào về HTCH, tuy
nhiên một bộ câu hỏi nếu không đi theo một mục đích nào đó xác định thì nó
cũng chỉ là một tập hợp câu hỏi chứ không phải là HTCH. Một hệ thống câu
15
hỏi phải có 3 thành tố là: Đầu vào, đầu ra và quá trình [10, tr.30], do đó
HTCH phải gồm một số câu hỏi có chức năng như: Đặt vấn đề, giải quyết vấn
đề, kết thúc vấn đề.
Như vậy: HTCH là một bộ câu hỏi liên hệ chặt chẽ với nhau theo một
nguyên tắc nhất định [10, tr.30], nhằm mục đích tìm hiểu, làm sáng tỏ một nội
dung của một vấn đề nào đó.
Trong dạy học, HTCH được gắn với từng bài học cụ thể, từng chủ đề,
từng chương. Khi học sinh trả lời được câu hỏi tức là đã làm được sáng tỏ vấn
đề đặt ra.
1.2.2. Trúc hệ thống câu hỏi
Một HTCH trong dạy học thường có các nhóm câu hỏi sau:
+ Nhóm câu hỏi đặt vấn đề.
+ Nhóm câu hỏi dẫn dắt, giợi mở nhằm giải quyết vấn đề.
thức để sử dụng mô hình nào đó cho phù hợp với đối tượng học sinh để thiết
kế câu hỏi cho hợp lí.
1.2.3. Bản chất, Ý nghĩa câu hỏi, HTCH và BT trong dạy học
Câu hỏi trong dạy học khác với câu hỏi trong đời sống vì nó có chức
năng cơ bản là tổ chức, điều khiển quà trình lĩnh hội tri thức cho học sinh,
ngoài ra còn có chức năng khích thích khả năng tư duy của học sinh, dẫn dắt
học sinh vào tình huống có vấn đề, giao nhiệm vụ cho học sinh và đòi hỏi học
sinh dùng các thao tác tư duy như : phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát,
trừu tượng hoá khái quát hoá, cụ thể hoá, ... để tìm hiểu, giải đáp vấn đề.
Câu hỏi cũng còn có ý nghĩa tập cho học sinh suy luận, giải thích, chứng
minh, trình bày,...Giáo viên thực hiện ý định truyền thụ tri thức của mình
thông qua HTCH dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề theo định hướng của
mình, nhằm đạt được kiến thức, kỷ năng cần thiết.
Trong dạy học nói chung và dạy toán nói riêng theo định hướng đổi
mới PPDH, nếu xây dựng được HTCH tốt, phù hợp với nội dung kiến thức,
phù hợp đối tượng học sinh, đảm bảo tính khoa học, thì HTCH có những ý
nghĩa sau:
+ Kiểm tra được kiến thức, kĩ năng của học sinh, làm lộ rõ những ưu
điểm, nhược điểm trong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
+ Dẫn dắt học sinh xây dựng bài học theo chủ ý của giáo viên để đạt
được mục đích của bài học với hiệu quả cao.
+ Rèn luyện cho học sinh khả năng liên kết, liên tưởng giữa cái đã biết
và cái chưa biết.
+ Tạo tình huống có vấn đề, gây được hứng thú cho học sinh, học sinh
hoạt động tự giác, tích cực để chiếm lĩnh tri thức.
+ Giúp học sinh phát hiện cách huy động kiến thức để giải quyết vấn đề
17
Làm cho học sinh thấy được mối liên hệ giữa toán học và thực tiễn, làm
cho học sinh thấy được yếu tố của phép biện chứng, chẳng hạn sự tương quan
và vận động của các sự vật và hiện tượng, sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập, sự biện chứng giữa cái chung và cái riêng của cái cụ thể và cái
trừu tượng,…
+ Giáo dục phẩm chất đạo đức
Tính cẩn thận, chính xác, tính kế hoạch, kỉ luật, tính kiên trì vượt khó, ý
chí tiến công, tinh thần trách nhiệm, khả năng hợp tác lao động, thói quen học
hỏi, rút kinh nghiệm, thái độ phê phán, thói quen tự kiểm tra,…
+ Giáo dục thẩm mĩ
Môn toán có những cơ hội để học sinh cảm nhận và thể hiện cái đẹp theo
nghĩa thông thường trong đời sống. Những hình vẽ đẹp trong sách báo, cách
trình bày sáng sủa của thầy, cô giáo, giữ vở sạch, viết chữ đẹp, vẽ hình rõ
ràng, sáng sủa, vẽ đồ thị với đường nét đích trơn tru, trình bày những phép
tính ngắn gọn, chặt chẽ, chính xác,… sẽ góp phần giáo dục HS biết thể hiện
và sáng tạo cái đẹp.
1.2.4.4. Chức năng kiểm tra, đánh giá
HTCH và BT có chức năng kiểm tra thường xuyên (kiểm tra miệng),
liên tục đối với từng cá nhân học sinh như thế sẽ cho thầy trò thấy được
những thông tin về kết quả dạy học, trước hết là về kiến thức, kĩ năng của học
sinh nhưng cũng lưu ý về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ cùng với
sự diễn biến của quà trình dạy học. Đảm bảo tính toàn diện (không thiên về trí
nhớ hoặc lí thuyết). Tạo điều kiện để HS tự đánh giá và tham gia đánh giá kết
quả của bạn (trong nhóm hoặc trong lớp) khi học Toán. Công khai kịp thời
kết quả đánh giá, đảm bảo phát huy tác dụng điều chỉnh của hoạt động đánh
giá đối với HS học Toán cũng như đối với giáo viên dạy Toán. Như thế sẽ
tránh được tình trạng hổng kiến thức của học sinh.
19
20
Có thể dạy cho học sinh kỹ năng bằng con đường sau:
Sau khi cung cấp, truyền thụ cho học sinh vốn tri thức cần thiết thì yêu
cầu học sinh vận dụng tri thức đó để giải các bài toán theo mức độ tăng dần.
1.3.2.1. Rèn luyện kỹ năng nhắc lại
Kỹ năng nhắc lại là những hoạt động nói lại hoặc khôi phục một thông
tin được học hay được cung cấp mà không có biến đổi gì đáng kể.
Học sinh cần phân biệt:
– Kỹ năng nhắc lại nguyên văn, tức là nhắc lại từng từ một
– Kỹ năng nhắc lại chuyển đổi, tức là học sinh nhắc lại cùng một vấn đề
bằng cách diễn đạt riêng hoặc dưới một hình thức khác.
Ví dụ: GV yêu cầu học sinh nhắc lại các hằng đẳng thức đáng nhớ
CH1: Phát biểu hằng đẳng thức bình phương của một tổng? (bằng lời)
CH2: Phát biểu bằng ngôn ngữ Toán học?
Quá trình nhắc lại như vậy sẽ làm cho học sinh cũng cố được kiến thức
cơ bản ở lớp dưới đã học.
1.3.2.2. Rèn luyện kỹ năng nhận thức
HTCH và BT giúp cho học sinh BTVH rèn luyện các kỹ năng như: Kỹ
năng tính toán, kỹ năng biến đổi, kỹ năng giải phương trình, kỹ năng vẽ đồ
thị, đọc đồ thị, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Ví dụ: so sánh hai phương trình sau
CH1: 2x = 1 và 4x – 2 = 0 có tương đương với nhau không?
CH2: Vì sao hai phương trình trên lại tương đương?
Ví dụ: GV yêu cầu học sinh vẽ đồ thị hàm y = 2x +1
CH1: Để vẽ được đồ thị của hàm số trên trước hết ta phải làm gì?
Câu trả lời mong muốn là: phải xác định được tọa độ của nó trên mp.
CH2: Để xác định được tọa độ ta phải làm gì?
Câu trả lời mong muốn là: giải pt 2x + 1 = 0.
như:
22
Chương trình Toán lớp 10 THPT
Chương trình Toán lớp 10 GDTX
– Giải thành thạo phương trình bậc – Giải tương đối thành thạo phương
nhất, bậc hai, hệ phương trình bậc trình bậc nhất, bậc hai một ẩn, hệ
nhất.
phương trinh bậc nhất hai ẩn.
– Giải được một số hệ phương trình – Giải được hệ phương trình bậc nhất
bậc hai.
ba ẩn đơn giản.
(Giảm nhẹ mức độ thành thạo, giới
hạn về số ẩn).
+ Nội dung : Theo bản phân phối chương trình DGTX cấp THPT mà bộ
giáo dục đào tạo ban hành ngày 9/11/2006, nội dung kiến thức của từng phân
môn được quy định đến từng tiết. So với chương trình THPT thì giảm nhẹ lí
thuyết, tăng cường tiết luyện tập, ôn tập.
1.5. Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Vận dụng đổi mới phương pháp môn Toán ở trường phổ thông của G.S
Nguyễn Bá Kim vào trong giáo dục thường xuyên được thể hiện qua các
hướng sau:
1.5.1. Xác lập vị trí chủ thể của người học, bảo đảm tính tự giác, tích cực
vị kiến thức nào đó mà sống và làm việc thì sẽ trở thành người tụt hậu của xã
hội. Như vậy để đạt được mục tiêu học suốt đời thì phải có khả năng tự học,
khả năng này cần được rèn luyện khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường. Cho
nên GV cần chú trọng quá trình dạy học cần phải bao hàm cả dạy tự học.
Việc nhấn mạnh vai trò của tự học và dạy tự học không có nghĩa là phủ
nhận bản chất xã hội của viêc học tập. Tự học không có nghĩa là cô lập người
học khỏi xã hội, không có nghĩa là để người học ‘‘đơn thương độc mã’’ suy
nghĩ một mình. Biết tự học cũng có nghĩa là biết kế thừa di sản văn hóa của
nhân loại, biết khai thác những phương tiện mà loài người cung cấp cho mình
để thực hiện quá trình học tập. Chẳng hạn: Khi giải một bài toán mà tự bản
thân học sinh đó không thể giải được vấn đề đặt ra thì các em có thể đọc sách
24
tham khảo, tìm những bài toán tương tự mà đã có lời giải hoặc đã có hướng
dẫn để vận dụng vào giải bài toán mình cần giải quyết.
1.5.4. Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học
Các phương tiện dạy học như: Tài liệu, các mô hình, đồ dùng dạy học,
thiết bị nghe nhìn, công nghệ thông tin và truyền thông,…giúp thiết lập những
tình huống có dụng ý sư phạm, tổ chức các hoạt động giao lưu giữu thầy và
trò, giữa trò và trò
Đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông để cập nhật các thông tin
mới mẻ mang tính thời sự cao, dùng máy tính cầm tay hỗ trợ giải các bài toán
phức tạp.
GV cần chú ý đến việc khai thác triển để đồ dùng sẵn có và tự tạo thêm
những đồ dùng cần thiết nhằm phục vụ cho quá trình dạy học.
1.5.5. Tạo niềm tin, lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của
bản thân người học
Tôn trọng người học, tạo không khí vui vẽ, thoải mái khi học. Niềm vui
quản lí là 03 người, giáo viên trực tiếp dạy học là 18 người. Giáo viên dạy
toán là 03 người). Đa số giáo viên trong Trung tâm có tuổi đời và tuổi nghề
còn đang rất trẻ, có sức khỏe tốt, lại có thêm lòng nhiệt huyết yêu nghề, cho
nên giáo viên nắm rất vững mục tiêu chương trình bộ môn và các quy định về
chuyên môn. Giáo viên thực hiện tốt chương trình, kế hoạch giảng dạy, tích
cực đổi mới phương pháp dạy học. Mặc dù vậy cũng đang còn nhiều giáo
viên chưa thật sự đổi mới phương pháp dạy học, lâu nay vẫn dang còn sử
dụng các PPGD truyền thống, nặng nề về phương pháp thuyết trình, đọc
thoại. HS thụ động lắng nghe giảng và chép lại bài trên bảng, chưa thật sự thể
hiện vai trò tích cực, chủ động của mình trong quá trình tiếp thu bài mới. Hầu
như chưa có giáo viên nào chú ý đến việc “xây dựng hệ thống câu hỏi và bài
tập nhắm giúp học sinh cũng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh”
vì đây là một trong những hoạt động giao lưu giữa thầy với trò và giữa trò với
trò, tạo nên niền tin ở bản thân.