Vận dụng lí thuyết về câu hội thoại để dạy tập đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3 nguyễn đình tuấn nghệ an đại học vinh , 2006 113 tr ; 20 x 27 cm + thu qua USB vie 372 2 - Pdf 32

lời cảm ơn

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Giáo s,
Tiến sĩ Đỗ Thị Kim Liên, ngời thầy đã hết lòng tận tình hớng dẫn, giúp đỡ
chúng tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Vận dụng lí thuyết về câu hội thoại để dạy tập đọc cho học sinh lớp 2,
lớp 3 !
Chúng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo giảng
dạy, các Phòng - Ban của trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện và giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài!
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh
Hoá, các Phòng Giáo dục Hậu Lộc, Quan Sơn, TP Thanh Hoá, cùng bạn bè,
đồng nghiệp, những ngời thân đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi để chúng tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất!
Vinh, tháng 12 năm 2006
Tác giả


2

Mục lục
Phần mở đầu
Trang
1. Lí do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3



Vấn đề câu hội thoại trong tiếng Việt

1.2.

Thực trạng dạy học văn bản đọc có lời thoại trong

phân môn Tập đọc ở trờng tiểu học hiện nay

6
24

Chơng 2: Vận dụng lí thuyết về câu hội thoại
để dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3
2.1. Khảo sát các văn bản đọc có lời thoại trong SKG tiếng Việt
lớp 2, lớp 3

32

2.1.1. Khảo sát định lợng các văn bản đoc có lời thoại trong SGK
tiếng Việt lớp 2, lớp 3
2.1.2. Một số nhận xét về nội dung chơng trình phân môn
Tập đọc và thực tiễn văn bản đọc ở lớp 2, lớp 3

32

2.2. Vận dụng lí thuyết về câu hội thoại để dạy Tập đọc
cho học sinh lớp 2, lớp 3
2.2.1. Vận dụng lí thuyết về câu hội thoại để dạy Tập đọc
cho học sinh lớp 2, lớp 3 theo các nhân tố hữu quan

3.4. Tiểu kết chơng 3
Kết luận và đề xuất

90

TàI LIệU THAM KHảO

92

Phụ lục

95


4

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành chơng
trình Tiểu học mới. Đến thời điểm năm học 2005 - 2006 sách giáo khoa tiểu
học thay thế từ lớp 1 đến lớp 4. Theo dự kiến, trong năm học 2006 - 2007,
toàn bộ chơng trình sách giáo khoa tiểu học sẽ đợc thay đổi. Từ những việc
thay đổi đó mà chất lợng dạy - học ở phổ thông nói chung và ở Tiểu học nói
riêng đang có những chuyển biến rõ rệt. Vì vậy, việc nghiên cứu chơng
trình, nội dung sách giáo khoa là một việc làm cần thiết, nhằm giúp cho
việc giảng dạy tiếng Việt có hiệu quả hơn.
1.2. Chơng trình sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học mới (chơng
trình tiểu học năm 2000) có những thay đổi sau:
a. ở giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3), nội dung chơng trình tập trung
hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết trên cơ sở vốn

trọng. Vấn đề dạy học đọc một số kiểu câu hội thoại trong các văn bản
đọc sao cho có hiệu quả, đạt đợc mục tiêu đề ra đang đợc nhiều nhà
nghiên cứu giáo dục quan tâm. Việc nắm vững nội dung chơng trình, vận
dụng lý thuyết về câu hội thoại để dạy một số văn bản đọc có câu thoại
sao cho đạt hiệu quả cao nhất cũng là một mối quan tâm của nhiều cán bộ
giáo dục, giáo viên và phụ huynh. Vịêc dạy câu hội thoại cũng nh một số
văn bản đọc có lời thoại ở nhà trờng tiểu học cũng cha đợc coi trọng, do
cha nắm bắt đúng quan điểm và tinh thần sách giáo khoa mới. Việc vận
dụng các phơng pháp dạy học tích cực vào dạy câu hội thoại của giáo viên
còn thiếu cơ sở khoa học, cũng nh việc phối kết hợp các phong pháp dạy
học cha đợc thành thạo dẫn đến hiệu quả dạy học các văn bản đọc có chứa
câu hội thoại ở tiểu học cha cao nhất là ở lớp 2 và lớp 3.
Từ những yêu cầu về khoa học và thực tế đó chúng tôi đã chọn đề tài: Vận
dụng lý thuyết về câu hội thoại để dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3".
2. Lịch sử vấn đề
Trên bình diện lý thuyết vấn đề hội thoại và câu hội thoại đã đợc
nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu nh: Diệp Quang Ban với Giao tiếp


6

văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn; Đỗ Hữu Châu với Đại cơng Ngôn
ngữ học; Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại, Giáo trình
ngôn ngữ học; Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học... Bên cạnh đó còn
có các Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ, các bài viết có liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại và câu hội thoại, nh: Hồ Lê - Tìm
hiểu nội dung và cách thức hỏi trong tiếng Việt hiện đại, Ngôn ngữ năm 1978,
số 2; Lê Đông - Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Ngôn ngữ, số 1, 1985; Hồ
Thị Thuỷ - Cấu trúc câu hỏi câu, câu đáp trong tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ,
khoa Ngữ văn năm 1995; Chu Thị Thuỷ An - Ngữ nghĩa và cách thể hiện lời

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a. Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát các bài tập đọc lớp 2, lớp 3 (chơng trình 2000) có chứa nội
dung hội thoại để nắm đợc các câu hội thoại cần dạy cho học sinh.
- Vận dụng lý thuyết về câu hội thoại vào việc dạy Tập đọc lớp 2, lớp
3 nhằm giải quyết những khó khăn, vớng mắc của giáo viên và học sinh,
nâng cao chất lợng dạy và học.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học tiếng Việt
trong trờng tiểu học.
- Khảo sát các bài tập đọc có chứa câu hội thoại trong sách tiếng Việt
2, lớp 3 để làm rõ nội dung kiến thức và các kỹ năng cần rèn luyện.
- Tìm hiểu việc vận dụng lí thuyết về câu hội thoại để dạy Tập đọc
cho học sinh lớp 2, lớp 3.
- Đề xuất quy trình và thực nghiệm một số tiết tập đọc có chứa câu
hội thoại ở lớp 2, lớp 3.
4. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn tiếng Việt ở tiểu học.
- Đối tợng nghiên cứu:
+ Thực trạng dạy học phân môn tập đọc ở lớp 2, 3 của giáo
viên và học sinh.


8

+ Vận dụng lí luận dạy học Tập đọc ở Tiểu học và lí thuyết câu
hội thoại để dạy học một số văn bản đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3.
5. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả đình rằng, nếu vận dụng đợc lí thuyết về câu hội thoại
vào dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3 thì hiệu quả của giờ học sẽ

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngời. Hoạt
động giao tiếp gồm giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Giao tiếp một
chiều là giao tiếp chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận hay còn gọi là
độc thoại. Giao tiếp hai chiều là bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở
lại. lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên
nói lại trở thành bên nghe, đó là hội thoại. Hoạt động giao tiếp phổ biến
nhất, căn bản nhất của con ngời là hội thoại.
Hội thoại là một dạng hoạt động ngôn ngữ khác với hoạt động vật lí.
Nó bao gồm ít nhất là hai nhân vật, có thể hơn hai (đa thoại). Hội thoại có
thể dới hai dạng hoặc là lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt hàng ngày của con
ngời nói chung hoặc lời trao đáp giữa các nhân vật trong các văn bản.
Khi bàn về hội thoại có rất nhiều định nghĩa. Chúng tôi xin đa ra một
quan niệm về hội thoại nh sau: Hội thoại là một trong những hoạt động
ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ
cảnh nhất định mà giữ họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay
hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định.
1.1.1.2. Các đơn vị hội thoại
Cặp thoại, tham thoại, hành động ngôn ngữ là các đơn vị hội thoại. Ngoài
ra hội thoại còn có một số đơn vị lớn hơn nh: cuộc thoại, đoạn thoại.
a. Cặp thoại: Cặp thoại là đơn vị lỡng thoại tối thiểu. Cặp thoại đợc
hiện thực hoá qua tham thoại trao đáp.
(1)- Các cô có mắng phạt các cháu không?
- Không ạ!
(Ai ngoan sẽ đợc thởng, tiếng Việt 2, tập 2, trang 100)


10

b. Tham thoại: Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra
cùng với tham thoại khác lập thành một cặp thoại. Tham thoại có thể trùng,


định câu hỏi, hành động (2) và hành động (3) nhằm giải thích cho hành
động phủ định.
Trong đề tài này, chúng tôi gọi phát ngôn tơng đơng với đơn vị câu
trong Hệ thống ngữ pháp truyền thống - câu phân loại theo câu trúc.
1.1.2. Một số kiểu câu thờng gặp trong văn bản hội thoại.
1.1.2.1. ở lời trao
a. Định nghĩa lời trao
Sự trao lời là vận động của ngời nói A hớng lời nói của mình về phía
ngời nghe B.
(6) Đông cầm tay Xuân, bảo:
- Chị là ngời sung sớng nhất đấy! Ai cũng yêu chị. Chị về, vờn cây
nào cũng đâm chồi nảy lộc.
(Chuyện bốn mùa, tiếng Việt 2, tập 2, trang 4)
b. Một số nhân tố chi phối lời trao
b1. Từ xng hô:
Từ xng hô là những từ dùng để xng hô giữa các nhân vật khi giao
tiếp. Từ xng hô gồm hai nhóm: đại từ xng hô đích thực và danh từ xng hô
thân tộc.
Khi giao tiếp từ xng hô có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng định vị: Chức năng định vị là chức năng thể hiện sự qui
chiếu của ngời nói và ngời nghe về vai giao tiếp của mình đối với cái đối tợng, sự vật, hành động, tính chất của chúng trong môt hoàn cảnh không
gian thời gian cụ thể.
- Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân: Do trong xã hội luôn có mối quan
hệ đan xen, phức tạp mà nó cũng tạo nên mối quan hệ liên nhân đan chéo phức
tạp. Tính chất phức tạp này, một phần đợc thể hiện qua sử dụng từ xng hô.
Việc sử dụng từ xng hô trong hội thoại có các đặc trng sau:
- Đặc trng về sự qui chiếu giữa vai nói và vai nghe sao cho thích hợp.
Chúng luôn xuất hiện thành từng cặp tơng tác. Để có sự qui chiếu này, đòi


toàn tơng ứng.


13

b4. Thái độ nói: Ngời nói đa ra nội dung lời trao luôn thể hiện thái độ của
mình vào trong câu nói. Điều này có thể đa đến sự khác biệt trong nội dung ngữ
nghĩa của lời, đó là thái độ bực tức, thái độ đồng tình, thái độ phản đối, thái độ
lấp lửng Thái độ ngời nói có khi nằm ẩn đằng sau nội dung của lời hoặc đi
kém các dấu hiệu cao giọng, động tác của cơ thể nh giơ tay, trợn mắt, giậm chân,
hét, gào chứ không phải lúc nào cũng tơng ứng trên bề mặt câu chữ.
b5. Ngữ cảnh: Ngữ cảnh chính là một trong những yếu tố ảnh hởng
đến ý nghĩa của câu. Mỗi câu nói bao giờ cũng gắn với hoàn cảnh thời gian,
không gian cụ thể. Ngữ cảnh là nhân tố không thể hiện qua từ ngữ nhng ảnh
hởng đến nội dung ngữ nghĩa của câu, giúp ngời nghe hình dung đầy đủ
nghĩa của câu.
c. Một số kiểu câu điển hình ở lời trao
c1. Câu trao là câu hỏi
Khái niệm: Câu hỏi là câu có mục đích thúc giục ngời nghe thông
báo một điều gì đó mà ngời nói nghe cha rõ hoặc ngời nói đa ra nh một yêu
cầu cần làm sáng rõ. Vậy, câu hỏi trong hội thoại là đơn vị của lời nói dùng
để nêu lên một sự chất vấn về những điều cha biết hoặc cần làm sáng rõ và
trực tiếp chờ ngời đáp trả lời.
Xét về chức năng giao tiếp, câu hỏi có nhiều mục đích khác nhau:
Loại phổ biến nhất là câu hỏi có mục đích tơng ứng: chờ đợi một sự
trả lời.
(7) Tôi hỏi:
- Hằng ngày, các em làm gì?
- Buổi sáng, chúng em học trên lớp, buổi chiều làm bài. Ngoài giờ học,
chúng em hát múa, chơi thể thao hoặc trồng rau, nuôi gà để cải thiện bữa ăn.

câu vắng chủ ngữ nhng lại có từ, cụm từ thể hiện mục đích, qua đó hớng ngời
nghe vào chính cuộc thoại; câu đặc biệt chỉ có đại từ để hỏi về các lí do xảy ra
sự kiện; câu chỉ có thành tố phụ để hỏi nhờ ngôn cảnh.
c2. Câu trao là câu cầu khiến
Khái niệm câu cầu khiến: Khi bàn đến khái niệm câu cầu khiến các
nhà ngữ pháp có nhiều ý kiến khác nhau:


15

Theo tác giả Diệp Quang Ban: Câu mệnh lệnh (còn đợc gọi là câu
cầu khiến) đợc dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc ngời nghe thực
hiện điều đợc nêu lên trong câu và có những dấu hiệu hình thức nhất định.
Tác giả Nguyễn Kim Thản viết Câu cầu khiến nhằm mục đích nói
lên ý chí của ngời nói và đòi hỏi, mong muốn đối phơng thực hiện những
điều nêu ra trong câu.
Tác giả Hoàng Trọng Phiến nhận định Câu cầu khiến có nhu cầu
của ý chí làm thành yếu tố thờng trực của câu. Nó nêu lên ý muốn của chủ
thể phát ngôn và yêu cầu ngời nghe đáp lại bằng hành động.
Các tác giả Lê Cận, Phan Thiều, viết Câu cầu khiến là loại câu
trong đó nói lên ý muốn, lời cầu mong, mệnh lệnh của ngời nói muốn
truyền đạt cho ngời đối thoại với yêu cầu ngời đối thoại thực hiện những
điều ở trong câu. Trong đề tài này, chúng tôi chọn khái niệm câu cầu
khiến theo cách dùng của Diệp Quang Ban.
Qua khảo sát câu trao là câu cầu khiến trong sự tơng tác với câu đáp,
chúng tôi thấy thái độ của chủ thể phát ngôn đóng vai trò hết sức quan
trọng. Thái độ đó cho phép lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ đi kèm những sắc
thái đánh giá khác nhau để tạo nên giá trị ngữ nghĩa của câu. Đó là sự tinh
tế, sự mềm dẻo, sự cơng quyết, sự phản đối, sự chối từ hay thái độ lấp lửng.
Cùng một câu trao hớng đến ngời nghe nhằm yêu cầu ngời đó thựuc hiện một

Anh Thế cời:
- Không, tỉnh kêu anh đi đấy. Đi để mà học.
(Ngời con của Tây Nguyên, Tiếng Việt 3,tập 1, trang 103)
Câu mệnh lệnh: Ngời nói đa ra lời trao với thái độ nghiêm trang, bực
tức hay căng thẳng bắt ngời nghe thực hiện theo hành vi mệnh lệnh.
(13) Viên tớng khoát tay:
- Về thôi!
- Nhng nh vậy là hèn.
(Ngời lính dũng cảm, Tiếng Việt 3,tập 1, trang 38)
c3. Câu trao là câu tờng thuật


17

Câu tờng thuật thòng đợc xác định là loại câu đợc dùng để kể, nhận
xét, xác nhận, giải thích, mô tả sự vật với những đặc trng của nó, hoặc việc,
hiện tợng với những chi tiết nào đó. Câu tờng thuật không có dấu hiệu riêng
của mình trong cấu tạo. Hình thức chuyên dùng để biểu thị đồng thời thực
hiện chúng lại chính là cấu trúc cú pháp hai thành phần chính (chủ ngữ - vị
ngữ) hoặc một thành phần chính biểu thị nội dung mệnh đề. Có điều, cái
hình thức đó không phải là của riêng câu tờng thuật. Câu cầu khiến, câu
nghi vấn đều có nội dung mệnh đề nên đều có cấu trúc ngữ pháp cơ bản.
Khi ngời trao lời đa ra câu tờng thuật thì ngời trao chờ đợi ở ngời đáp một
sự đồng tình, hởng ứng. Tuy nhiên, ngời đáp tuỳ vào hoàn cảnh cũng nh chủ
ý của mình mà có các hình thức đáp khác nhau.
(14) Cô bé Vân nói với vẻ tiếc rẻ:
- Đào ngon quá, cháu ăn hết mà vẫn thèm. Còn hạt thì cháu vứt đi
rồi.
- Ôi! Cháu của ông thơ dại quá!
(Những quả đào, tiếng Việt 2, tập 2, trang 92)

- Chị bắt tép vất vả thế, chẳng sợ bún bắn bẩn hết áo trắng sao?
Cò vui vẻ trả lời:
- Khi làm việc, ngại gì bẩn hả chị?
(Cò và Cuốc, tiếng Việt 2, tập 2, trang 37)
Trong cặp trao đáp này cả hai nhân vật Cò và Cuốc đều gọi nhau là
chị và tự qui chiếu mình ở vị thế thấp tuổi hơn nhằm đề cao ngời nghe.
b2. Sự kế thừa nội dung lời trao: Câu trao bao giờ cũng có các nội
dung cụ thể nằm trong những cấu trúc cụ thể. Chúng thờng có dạng: câu
hỏi, câu đề nghị - cầu khiến - mệnh lệnh, Vì vậy, nội dung câu đáp cũng
luôn chịu sự chi phối bởi nội dung ngữ nghĩa lời trao. Nội dung lời đáp phải
hớng vào những trọng điểm nội dung mà lời trao đa ra để tạo nên sự liên kết
nội dung. Chúng làm thành cặp tơng tác cũng nh có sự kết gắn về nội dung.
Đây là nhân tố cần thiết trong cuộc hội thoại trao đáp.
(18) Câu trao là câu hỏi và câu đáp là câu trả lời vào trọng điểm hỏi.


19

- Đi học cả tuần, Dìn có nhớ nhà không?
- Lúc đầu, chúng em cũng nhớ, nhng ở trờng rất vui. Về nhà, ai
cũng mong sớm đến sáng thứ hai để đợc gặp nhau.
(Một trờng tiểu học vùng cao, tiếng Việt 3, tập 1)
(19) Câu trao là câu đề nghị, câu đáp là câu từ chối
- Chị Ngựa ơi! Chúng ta là bạn đờng. Chị mang đỡ tôi với, dù
chỉ chút it thôi cũng đợc. Tôi kiệt sức rồi.
- Thôi, việc ai ngời nấy lo. Tôi không giúp chị đợc đâu.
(Lừa và Ngựa, tiếng Việt 3, tập 1, trang 57)
(20) Câu trao là câu mệnh lệnh và câu đáp là câu phản đối.
Viên tớng khoát tay:
- Về thôi!

Câu trả lời khẳng định là câu của ngời đáp hớng đến trọng điểm hỏi
nhằm làm sáng tỏ những trọng điểm hỏi đặt ra.
Một số kiểu câu trả lời khẳng định
Câu trả lời khẳng định nhng hình thức là câu hỏi. Do câu hỏi có
trọng điểm hỏi xác định nên cẩu trả lời phải hớng đến trọng điểm hỏi đó
nhng theo chiều khẳng định. Tuy nhiên, câu trả lời này lại có hình thức là
câu hỏi.
(22) Cuốc thấy vậy từ trong bụi rậm lần ra, hỏi:
- Chị bắt tép vất vả thế, chẳng sợ bùn bắn bẩn hết áo trắng
sao?
Cò vui vẻ trả lời:
- Khi làm việc, ngại gì bẩn hở chị?
(Cò và Cuốc, tiếng Việt 2, tập 2, trang 37)
Câu trả lời khẳng định nhng hình thức không phải là câu hỏi. Loại
này gồm:
Câu trả lời nhằm hớng vào trọng điểm là những đối tợng mà câu hỏi
đặt ra. Câu hỏi có cấu tạo gồm một kết cấu C - V hay kết cấu một thành
phần (thể hiện một thông tin nhất định) và một đại từ nghi vấn (gì, nào,
ai,...). Câu trả lời nhằm vào các trọng điểm nghi vấn đó: Trả lời cho đối tợng là chủ ngữ, trả lời cho đối tợng làm vị ngữ, trả lời cho đối tợng là định


21

ngữ của danh từ, trả lời cho đối tợng là bổ ngữ, trả lời cho đối tợng là bổ
ngữ phơng tiện, trả lời cho đối tợng là bổ ngữ so sánh, trả lời cho đối tợng là
một phơng diện của hành động, trả lời cho đối tợng là kết quả của sự lựa
chọn.
Trả lời cho chủ ngữ
(23)- Ai vậy?
- Thằng bạn thời Phổ thông.

- Đào có vị ngon và mùi thật là thơm. Cháu đã đem hạt trồng vào một
cái vò. Chẳng bào lâu, nó sẽ mọc thành một cây đào to đấy, ông nhỉ?
- Mai sau cháu sẽ làm vờn giỏi - ông hài lòng nhận xét.
(Những quả đào, tiếng Việt 2, tập 2, trang 91)
(28) - Này, vì sao cậu không khắc tên lên ngời cậu? Nh thế có phải
tiện hơn không? - cây hỏi.
Cậu bé rùng mình lắc đầu:
- Đau lắm, cháu chịu thôi!
(Cậu bé và cây si già, tiếng Việt 2, tập 2, trang 96)
Câu trả lời khẳng định nhằm cung cấp thông tin mới: Câu hỏi có cấu
tạo gồm hai bộ phận: một bộ phận vị ngữ do động từ (hoặc cụm động từ),
tính từ (hoặc cụm tính từ) đảm nhận và một bộ phận do các đại từ nghi vấn
thể hiện nhằm hỏi về các phạm vi nh: vị trí, nguyên nhân, mục đích, thời
gian, số lợng, cách thức, Câu trả lời hớng đến các trọng điểm hỏi đó.
Chúng gồm các kiểu: Câu trả lời cung cấp thông tin về mục đích hành
động; câu trả lời cung cấp thông tin về nguyên do; câu trả lời cung cấp
thông tin về nội dung, đối tợng của hành động; câu trả lời cung cấp thông
tin về sự kiện; câu trả lời cung cấp thông tin về thời gian; câu trả lời cung
cấp thông tin về vị trí; câu trả lời cung cấp thông tin về số lợng.
(29) Thấy lạ cậu bé hỏi:
- Bà ơi, bà làm gì thế?
Bà cụ trả lời:
- Bà mài thỏi sắt này thành một chiếc kim để khâu vá quần áo.
(Câu trả lời cung cấp thông tin về hành động.)


23

(Có công mai sắt, có ngày nên kim, tiếng Việt 2, tập 1)
(30) Lân vội can:

về?
Bố không cời nữa:
- Tuần sau bố về. Con học giỏi nhé! (Câu trả lời cung cấp thông tin
về thời gian.)
(Điện thoại, tiếng Việt 2, tập 1)
(35) - Chào Cá Con. Bạn cũng ở sông này sao?
- Chúng tôi cũng sống dới nớc nh nhà Tôm các bạn. Có loài cá
sống sông ngòi, có loài ở hồ ao, có loài ở biển cả. (Câu trả lời cung cấp
thông tin về vị trí.)
(Tôm Càng và Cá Con, tiếng Việt 2, tập 2)
(36) - Em bán đợc thật ? Giá bao nhiêu?
Giang đáp:
- Hai mơi ngàn đồng ạ. (Câu trả lời cung cấp thông tin về số
lợng.)
(Bán chó, tiếng Việt 2, tập 1)
Câu trả lời khẳng định nhng mức độ còn lấp lửng: Câu hỏi có cấu tạo
gồm hai phần, một phần mang thông tin sự kiện và một phần thể hiện tình
thái nghi vấn do các tình thái từ và ngữ điệu đảm nhận. Câu trả lời khẳng
định lặp lại chính thông tin do câu hỏi đặt ra nhng mức độ không chắc chắn
nhờ những từ, tổ hợp từ thể hiện tình thái lấp lửng.
(37) Chú cần vụ thắc mắc:
- Tha Bác, làm thế để làm gì ạ?
Bác khẽ cời:
- Rồi chú sẽ biết.
(Chiếc rể đa tròn, tiếng Việt 2, tập 2)
Trên đây là những câu trả lời khẳng định trong sự tơng tác với câu
hỏi. Trên thực tế, cùng một kiểu câu hỏi nhng có thể đợc thể hiện bằng một


25

Trích đoạn Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status