Trờng đại học vinh
Khoa lịch sử
----------***---------
đậu thị quế
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu du lịch tâm linh và du lịch biển
Tại xã quỳnh phơng, quỳnh lu, nghệ an
Chuyên ngành: DU LịCH
Lp: 48B2 Du lch (2007 2011)
Giaos viờn hng dn: NGUYễN THị THANH THanh
Vinh 2011
LI CM N
Trong thi gian thc hin khoỏ lun tt nghip, tỏc gi luụn nhn
c s quan tõm, hng dn tn tỡnh ca cụ giỏo Nguyn Th Thanh
Thanh cựng thy cụ trong khoa Lch S, s giỳp ca U ban nhõn dõn
2
xã Quỳnh Phương, sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè cũng như sự
nỗ lực cố gắng hết mình của bản thân.
Qua đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng
dẫn, thầy cô trong khoa Lịch Sử, Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Phương
cùng gia đình, bạn bè để tác giả có thể hoàn thành thành tốt khoá luận tốt
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở mỗi quốc gia, dân tộc có những đặc trưng riêng về tự nhiên, về lịch
sử, về văn hóa, truyền thống… Điều này đã tạo nên những sản phẩm du lịch
độc đáo để thu hút khách du lịch. Con người đi du lịch nhằm những mục đích
khác nhau nhưng nhìn chung đều nhằm nghỉ ngơi, giải trí để thỏa mãn nhu
cầu to lớn về mặt tinh thần. Chính vì vậy, du lịch là một hoạt động không thể
thiếu trong cuộc sống của con người.
Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam uốn khúc theo hình chữ S,
được sự ban tặng của tạo hóa cùng với bàn tay khai phá, chinh phục của con
người theo dòng chảy lịch sử đã sản sinh ra một hệ thống những cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa... hết sức đa dạng và hấp dẫn. Đây là
nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn phục vụ cho ngành du lịch.
Có những tài nguyên đã được khai thác đưa vào hoạt động du lịch rất có hiệu
quả, cũng có những tài nguyên chưa được khai thác, đang ở dạng tiềm năng,
cũng có những tài nguyên mới được khai thác còn rất hạn chế, chưa phát huy
hết giá trị của chúng... Nghệ An cũng là một trong những vùng đất như thế.
Theo các tài liệu nghiên cứu về địa lý đã công bố, Nghệ An là vùng đất được
hình thành do động đất, núi lửa diễn ra cách đây hơn năm mươi triệu năm.
Quá trình kiến tạo địa chất cùng với sự tác động của khí hậu nhiệt đới gió
mùa và bàn tay khai phá của con người đã làm cho Nghệ An có nhiều cảnh
quan, di tích và tài nguyên. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ các địa
phương, vào năm 2006, ở Nghệ An có 1049 di tích, danh thắng; trong đó có
186 di tích, danh thắng đã được xếp hạng quốc gia và cấp tỉnh (Tạp chí thế
giới di sản, số Tết xuân Canh Dần 2010). Ở góc độ nghiên cứu về lịch sử, văn
hóa, số lượng di tích và danh thắng ở Nghệ An có nhiều, loại hình phong phú,
thiêng từ lâu“ nhất Cờn” của xứ Nghệ. Không chỉ nổi tiếng linh thiêng Đền
Cờn còn hấp dẫn du khách bởi cảnh quan thơ mộng, nhất là vẻ đẹp của bãi
biển. Mặc dù hàng năm khách du lịch đến đây để tâm linh và tham quan, nghỉ
dưỡng với số lượng lớn nhưng vấn đề quy hoạch, đầu tư cũng như các dịch vụ
7
phục vụ khách còn hạn chế. Hoạt động du lịch chưa mang lại lợi ích kinh tế
cho người dân địa phương. Vậy, cần tìm ra giải pháp phát triển du lịch tâm
linh và du lịch biển sao cho hoạt động du lịch góp phần cải thiện đời sống
người dân.
Tài nguyên du lịch địa phương còn ở dạng tiềm năng và chưa được
khai thác hiệu quả, đúng mức, du lịch chưa gắn liền với phát triển kinh tế của
địa phương. Từ trước đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu, đánh giá về
hoạt động du lịch tại xã Quỳnh Phương một cách toàn diện.
Vì vậy, việc tác giả chọn đề tài “Tìm hiểu du lịch tâm linh và du lịch
biển tại xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn. Đề tài nhằm đánh giá thực trạng
hoạt động du lịch địa phương tại xã từ đó đưa ra một vài ý kiến đóng góp, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch tại xã Quỳnh Phương.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xã Quỳnh Phương nổi tiếng với ngôi đền linh thiêng từ lâu, được xếp
hạng là di tích lịch sử văn hóa Quốc Gia năm 1993. Gắn liền với địa chỉ tâm
linh tại tích Đền Cờn là cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, bãi tắm mang vẻ đẹp
hoang sơ nhưng còn đang ở dạng tiềm năng. Cho đến nay có rất nhiều công
trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả liên quan đến di tích Đền Cờn, đến
biển tại xã Quỳnh Phương, nhiều nhất là viết về di tích Đền Cờn. Có thể nêu
ra đây một vài công trình tiêu biểu:
- Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản dịch tập II, Nhà xuất bản
KHXH, Hà Nội, 1967.
3.1. Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu
Đây là phương pháp rất cần thiết trong việc thực hiện khóa luận để
hoàn thành chương 1 và chương 2. Tác giả đã tiến hành thu thập thông tin từ
nhiều nguồn tư liệu đáng tin cậy: các báo cáo, tư liệu của địa phương, các bài
báo, công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa, tiềm năng của địa phương… để
đánh giá được tiềm năng và thực trạng hoạt động khai thác du lịch ở đây.
3.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa
9
Tác giả tiến hành nghiên cứu thực địa, thu thập thông tin, quan sát việc
khai thác tiềm năng du lịch, hoạt động tổ chức sự kiện du lịch hàng năm…
nhằm đánh giá hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch. Từ đó, đề xuất một vài
giải pháp khả thi.
3.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng trong việc tìm hiểu về hoạt động phục
vụ trong du lịch như khách du lịch, đánh giá giá trị, tầm quan trọng của di tích
và lễ hội Đền Cờn, bãi biển, thực trạng về cơ sở vật chất, nhân lực phục vụ,
phân tích tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội với
hoạt động du lịch tại xã Quỳnh Phương.
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch và hiện trạng hoạt
động khai thác du lịch tại xã Quỳnh Phương, từ đó đưa ra một số giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch của địa phương tại xã, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của du khách. Đồng thời nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử,
văn hóa tại Đền Cờn và bảo vệ môi trường biển, thu hút khách, phát triển du
lịch cộng đồng với sự tham gia tích cực của người dân địa phương và cùng
chia sẻ các lợi ích từ hoạt động du lịch.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
VÀ BIỂN QUỲNH PHƯƠNG
1.1. Đền Cờn
1.1.1. Vị trí
Đền Cờn nằm ở bờ Nam Lạch Cờn xã Quỳnh Phương, thuộc vùng
Đông Bắc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cách thủ đô Hà Nội 220km về
phía Nam, cách thành phố Vinh 75km về phía Bắc theo quốc lộ 1A.
Di tích Đền Cờn gồm Đền Cờn trong và Đền Cờn ngoài:
Đền Cờn trong nằm trên gò Diệc người ta hay gọi là Đồi Quạ nên Đền
Cờn trong cũng có tên là Đền Quạ. Đây là một khu đất cao khoảng 3,6m so
với mặt nước biển, rộng và mặt đền áp sát bờ sông Mai Giang. Ba phía là nhà
cửa dân cư trù phú rợp bóng hàng dừa xanh bao bọc, xa xa có núi từ bốn phía
chầu về. Người xưa đã làm bài thơ vẽ lại bức tranh miêu tả vị trí của đền:
“ … Tiền hà hậu hải an bài,
Hữu hổ tà long oanh nhiễu.
Núi chầu qua dù dưởng lớp lớp,
Nghìn non chầu lại tiền đường.
Sông kéo đến khúc uốn quanh co,
Muôn nước thu về một nẻo”.
Tạm dịch
… Trước sông sau biển đã sẵn rồi,
Phải hổ, trái rồng rõ đấy thôi.
Núi chầu như vẽ từng lớp lớp,
Lèn, đồi hướng lại trước đền đây.
Sông kia uốn khúc dù trăm nẻo,
Vẫn phải quay về một biển khơi.
(Khuyết danh)
12
Với địa thế giáp sông, kề biển, người xưa đã kè đá tạo ra một bến đền
Tống. Giữa khám thờ đặt tượng Từ Thi Thái Hậu Dương Nguyệt Quả, vợ vua
Tống Độ Tông tức mẹ Đế Bính. Bên ngoài khám thờ, trước mặt Thái Hậu
Dương Nguyệt Qủa đặt ba tượng nhỏ hơn ngang hàng gồm hai tượng công
chúa là Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương - con gái Thái Hậu
Dương Nguyệt Quả, tượng còn lại đặt ở giữa là Quách Thị Hoàng Hậu (bà
nhũ mẫu). Hai gian bên, gian bên phải thờ Cốc thần (thần Lúa), gian bên trái
thờ Mộc thần (thần Gỗ). Thần Lúa và Thần Gỗ đều đặt trong khám thờ. Trước
khám thờ thần Lúa là một bát hương cổ bằng đồng khắc bốn chữ: Càn điện
Thánh Mẫu (điện thờ Thánh Mẫu ở Cửa Càn). Sát hai bên tường đốc đặt bàn
thờ Nam Tào và bàn thờ Bắc Đẩu. Tòa thượng điện chủ yếu là thờ Tứ vị
Thánh Nương nên tòa ca vũ thờ tam tòa tứ phủ theo đạo Mẫu. Trong ba gian,
gian chính giữa đặt tượng Mẫu Thượng Thiên tức Liễu Hạnh công chúa, trước
mặt tượng Mẫu Thượng Thiên là Tượng Mẫu Thoải (Mẫu Thủy), Mẫu Địa và
Mẫu Thượng Ngàn. Bàn thờ đặt tượng ba vị Thánh Mẫu mới được phục hồi.
Đây là tác phẩm nghệ thuật được tạo dựng từ tấm lòng thành kính của thập
phương.
Ngoài ra ở hai bên bàn thờ chính ở tiền đường còn có hệ thống tượng
bằng đá. Phải kể đến tượng nữ tỳ cao 1,24m trong tư thế đứng hầu, chân đi
hài, mình mặc áo thụng tay cầm quạt quạt hầu một cách tự nhiên. Hai bên còn
có tượng nữ tỳ hai tay nâng hộp trầu cau kính cẩn dâng lên Thánh Mẫu.
Đền Cờn trong còn thờ cả Đức Phật nghìn mắt, nghìn tay.
Đền Cờn ngoài:
Đền thờ một vị sư, Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu,Văn Thiên
Tường. Các vị này trước phối thờ ở Đền Cờn trong nhưng do quan niệm nho
giáo bất đồng cung (quan niệm nho giáo không cùng quan niệm thờ Phật, thờ
Thánh) nên đến thời Lê xây dựng đền thờ riêng.
Tòa thượng điện có ba gian, gian giữa thờ Ngũ vị Vương Quan theo
Đạo thần tứ phủ. Sát với mái ngói của gian giữa có một hậu cung. Trong hậu
cung, thờ Đế Bính trong khám thờ trong, trước mặt tượng Đế Bính có ba
bề thế khang trang.
15
Triều Nguyễn cũng rất quan tâm đến việc sửa sang nâng cấp Đền Cờn.
Thời Gia Long (1807-1828) rất quan tâm đến việc sửa lại đền chính (Đền Cờn
trong). Thời Tự Đức sửa cả đền chính và đền ngoài. Có thể nói các triều đại
từ Trần, Lê, Nguyễn đặc biệt quan tâm đến Đền Cờn nên mãi đến ngày nay
Đền Cờn vẫn còn nguyên giá trị lịch sử.
Trong hồ sơ khoa học về di tích Đền Cờn có đoạn (hồ sơ này còn lưu
giữ tại bảo tàng tỉnh Nghệ An, người viết là Trương Đắc Thành, phó giám đốc
Bảo tàng tỉnh Nghệ An): “Thời Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh,
giai đoạn “ đứng chân” ở đất Nghệ An đã cho người về cầu đảo ở Đền Cờn.
Sau ngày thiên hạ đại định, Lê Thái Tổ thấy có công trợ thuận đã phong là
“Hoàng Kim ngọc tổ” và ban cho đền một số đồ thờ bằng vàng bạc”.
1.1.4. Giá trị về mặt kiến trúc - điêu khắc
Quỳnh Lưu trước đây có nhiều kiến trúc đền, đình, chùa, miếu, nhà thờ
họ khá cổ kính nhưng giờ đây không còn nữa vì một phần do chiến tranh tàn
phá và một phần do nhận thức kém của con người.
Đền Cờn trong:
Hiện nay, tại hồi bên trái đền còn lưu giữ lại một bảng khắc gỗ, kích
thước 0,60x40m, ghi rằng: “Lê Triều Cảnh Hưng tam thập niên, Kỷ Sửu niên,
Phụng Đại lý tác, tam nguyệt Sơ tứ nhật khởi công, bát nguyệt sơ nhị nhật
hoàn thành”, nghĩa là: “Triều Lê Cảnh Hưng thứ 30, năm Kỷ Sửu (1769),
vâng lệnh Đại Lý làm khởi công ngày mồng 4 tháng 3 đến ngày mồng 2 tháng
8 thì xong”. Đời Gia Long trùng tu cẩn thận hơn, quy mô hơn, nhất là tòa ca
vũ. Ngoài trùng tu còn làm thêm tiền môn.
Đền Cờn có quy mô kiến trúc khá đồ sộ, thời gian và bom đạn hai cuộc
kháng chiến đã hủy hoại nhiều công trình. Đặc biệt vào năm 1965, Mỹ đưa
còn có voi chầu và cột cờ bằng đá cân đối hai bên khiến công trình không chỉ
có vẻ nghiêm túc mà còn hoành tráng như cao vời vợi đượm nét oai phong.
Từ sân đền lên tòa ca vũ phải leo mười một bậc đá với chiều cao 3m60.
Đây là tài nghệ của người xưa nên trải qua nhiều đời mà vẫn giữ được quy
cách lúc ban đầu. Chính các bậc đá này đã làm tăng vẻ bề thế cho khu đền.
17
Bởi có các bậc đá này mà việc tế Thánh trong tục tế bánh dầy, tế trâu lại thêm
vẻ tôn nghiêm, lại sinh động, hợp cách trong tế tam sinh.
Lên Đền Cờn có hai đường tả vu và hữu vu. Đây là hai con đường cân
đối ở hai bên dài 25m, độ cao với sân đền là 3m nên đều phải làm bậc đá ở
hai phía và phải xây tường đá kè giữ đất vừa để bảo vệ đường, bảo vệ khuôn
viên lại làm đẹp cho toàn cảnh. Dưới chân đường có hàng cây cổ thụ khiến
khách hành hương khi lên đền còn được dạo dưới hàng cây râm mát, nên thơ.
Trên nền cao, toà nghi môn sừng sững ở vị trí trung tâm mặt tiền.
Nguyên xưa đây là công trình mái cong kiểu chồng diềm hai tầng khiến ai tới
đền cũng cảm nhận sự nhẹ nhàng duyên dáng. Công trình này được cư dân địa
phương gọi là toà ca vũ. Vì trước đây thường tổ chức ca hát, bái vọng mỗi khi
có đại lễ, nhất là vào dịp lễ hội tháng Chạp và tháng Giêng. Phía trong toà
nghi môn có công trình tiền đường, được tồn tại từ lâu đời mặc dù đã trải qua
nhiều trận bom đạn và pháo kích của địch từ biển bắn vào. Tiền đường làm
vào năm 1663, được sửa vào thời Lê Cảnh Hưng. Đây là toà nhà kiến trúc cổ
dài 17m40, rộng 10m làm kiểu mái cong gồm 6 vì theo phong cách dân tộc.
Các vì làm theo lối tứ trụ. Cột cái có đường kính 0,5m, cột quân đường kính
nhỏ hơn nhưng đều làm lối búp đòng nên quy cách lớn mà vẫn dáng vẻ thanh
thoát.
Hệ thống bảy tiền, bảy hậu, kẻ góc, con giường đều mập mạp để phù
hợp với quy cách bộ khung, lại chạm khắc kênh bong, các đề tài long vân tinh
trên đây còn thể hiện bàn tay khéo léo, khối óc thông minh và sự suy tưởng
hóm hỉnh của các nghệ nhân tiền bối. Phần mái của tiền đường lợp bằng loại
ngói làm kiểu móng rồng. Các hàng ngói ngang dọc được kê độn công phu
khiến lớp lớp bằng phẳng trải đều như tấm thảm, lại cong cong hài hoà với
con kìm, đao góc mang hoạ tiết rồng phượng mớm sinh động, nghệ thuật.
Điều ít thấy ở các công trình kiến trúc cổ là hệ thống chân tảng. Ngoài việc
tạo gương tròn hoạ tiết, gờ chỉ trang trí còn đục rãnh vòng quanh chân cột để
tra dầu, tạo lớp ngăn cách giữa nền nhà và cột, giúp cho công trình không bị
mối xông. Đây cũng là sự cẩn thận mà ban hưng công đặt ra, làm cho bộ
khung thêm bền vững.
19
Đền Cờn ở vùng biển ngoài khí hậu ẩm thấp lại có hơi mặn dễ làm mục
ải gỗ, do đó từng thanh dui trên mái còn được phủ sơn ngăn cách, tạo cho độ
bền của giàn mái được nhân thêm, cũng chứng minh cho tay nghề, lại có
lương tâm với nghề của thợ.
Tiền đường là công trình kiến trúc quy mô với sự gia công kĩ thuật,
nghệ thuật hoàn mỹ và trải qua nhiều sự thử thách bởi gió bão, nước sông
dâng cao ngập nền, lại bị bom Mỹ, pháo kích nhiều lần bắn phá mà bộ khung
vẫn cố kết như xưa, giữ cho công trình đứng vững không bị sụp đổ. Điều đáng
đề cập là tuy tiền đường nhiều lần đã tu bổ nhưng vẫn giữ kiểu dáng thấp,
rộng mái cong với bộ khung cổ truyền của thế kỉ XVII, chứng tỏ sự giữ gìn
bản sắc tinh hoa từ thời hậu Lê luôn luôn được các nghệ nhân trân trọng.
Nếu không vì chiến tranh thì công trình Đền Cờn còn có toà đệ nhất, đệ
nhị cùng các toà ngang, dãy dọc hai bên và phía sau; cả khu vườn cảnh trong
khu vực làm cho tổng thể khép kín, chắc chắn còn đẹp hơn nhiều.
Đến năm 2002, toà thượng điện mới xây dựng lại gồm một gian, hai
hồi. Gian giữa rộng khoảng 4m; hai hồi mỗi hồi rộng khoảng 2,5m. Như vậy
nhà dài khoảng 11m, chiều rộng khoảng 8m, trong đó hè rộng khoảng hơn
Hưng ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Thân (1752), về kiểu dáng không khác lạ
nhưng phần trang trí ở phần diềm chân chuông với những cánh hoa sen kép,
nổi đường viền, với những hạt chấm tròn khá kì công. Chuông phân làm bốn
múi, có hoạ tiết long dáng ở góc trên của múi chuông. Đây cũng là cách bố
cục ít thấy ở các chuông khác, nó là nét độc đáo của Đền Cờn.
Phần văn tự trên chuông rất phong phú ghi chép lòng từ thiện của quần
chúng cũng như khách thập phương, nhân dân trong xã đóng góp vàng bạc
đúc chuông, cũng như tu bổ đền trong một hoàn cảnh xã hội đang có nhiều bế
tắc thời Lê - Trịnh, chứng tỏ sự ảnh hưởng rộng khắp đến mọi nơi cũng rất bổ
ích cho việc nghiên cứu xã hội học thế kỉ XVII, XVIII. Mặc dù chuông Đền
Cờn bị bom Mỹ xuyên thủng hai chỗ nhưng tiếng ngân vang vẫn ấm, vẫn
vọng xa. Điều này chứng tỏ nghệ thuật đúc chuông thời bấy giờ.
Chiếc triện đồng hình vuông có cạnh 4cm, trên cán có đề chữ “Hồng
Đức” niên hiệu thời vua Lê Thánh Tông. Mặt triện khắc bốn chữ “chiêu minh
21
cảm ứng” (có sự báo rõ ràng) như người xưa muốn nhắc nhở hậu thế chớ coi
thường việc phụng sự đền thờ “Đại Càn Tứ vị Thánh Nương”. Đây là di vật
độc đáo của Đền Cờn.
Trong khuôn viên đền hiện còn ba tấm bia đá nhưng do chiến tranh, do
ý thức con người nên tấm thì bị bom Mỹ đánh vỡ làm ba mảnh, tấm thì bị bào
mòn hết chữ chỉ loáng thoáng đường nét hoa văn ở diềm bia. Dù sao sự hiện
diện của các văn bia cũng đáng quý nhất là tấm bia tạo lệ ở đền.
Bia tạo lệ bị vỡ nay được gắn và dựng ở vị trí cũ. Tấm bia cao 1m60,
rộng 1m20 đặt trên bệ đá hình khối chữ nhật bốn mặt chạm hoa văn cánh sen
cách điệu. Trán bia, diềm bia chạm nổi cảnh lưỡng long chầu nguyệt, họa tiết
long vân, hoa lá cách điệu mềm mại, công phu mang màu sắc văn hóa thời Lê.
Riêng văn tự trên bia mới đáng quý. Vừa qua chính quyền và nhân dân địa
phương đã thu thập và hàn gắn lại, coi như là một di sản quý của đền.
là đặc điểm chung của ngôi đền, chùa, đình ở duyên hải miền Trung Nghệ An
nói chung. Có thể nói Đền Cờn là một công trình lịch sử văn hóa quan trọng
đang bồi đắp thêm cho kho tàng lịch sử văn hóa của xứ Nghệ nói riêng, Việt
Nam nói chung.
Đền Cờn ngoài:
Kết cấu các tòa vẫn không thể bằng đền chính trong làng. Đền ngoài do
bị tàn phá để trơ lại với trời đất một số hiện vật bằng đá thời Nguyễn. Dù sao
những con nghê đá, phỗng đá nơi đây cũng là dấu tích của một công trình, là
gợi ý mai đây phục hồi làm cho cảnh trí núi Hùng Vương thêm đẹp, thu hút
khách du lịch về tham quan và hành hương.
Trước đây, Đền Cờn ngoài gồm ba tòa xây theo kiểu chữ tam. Hiện
nay, đền phục hồi lại còn hai tòa gồm tòa thượng điện và tòa hạ điện.
Tòa thượng điện gồm ba gian dài 9m; hậu cung dài 4m.
Tòa ngoài là hạ điện.
Do mới làm lại nên giá trị điêu khắc, kiến trúc, các hoa văn trang trí rất
đơn giản, mà không có sự chạm khắc đặc biệt tinh tế như đền trong.
1.1.5. Giá trị về mặt tâm linh
23
Từ lịch sử đến huyền thoại Đền Cờn đều mang ý nghĩa về mặt tâm linh.
Ở huyện Quỳnh Lưu, ngoài Đền Cờn là đền chính được cả nước biết đến, có
đến 30 làng nữa cũng thờ Tứ vị Thánh Nương. Ở Diễn Châu, Yên Thành,
Nghi Lộc, Nam Đàn… đều có đền thờ Tứ vị rồi đến cả Thanh Hóa, Hà
Tĩnh… Không chỉ ở ngoài Bắc mà cả trong Nam Bộ như tỉnh Đồng Nai, Sông
Bé… cũng có đền thờ. Theo các tác giả thì việc thờ Tứ vị Thánh Nương có
thể do phát tích ở Cửa Cờn dần dần phát triển rộng rãi trong cả nước.
Đã có nhiều sách viết về Đền Cờn và Tứ vị Thánh Nương từ Quốc Sử
Đại Việt, Sử Kí Toàn Thư, Đại Nam Nhất Thống Chí, Thanh Chương huyện
phải ra bài kinh cầu chúa cứu giúp khỏi cơn thịnh nộ. Giáo hoàng La Mã
Gorgeor 9 kêu gọi tổ chức thập tự quân chống lại đế quốc Mông Cổ.
Tống Độ Tống Hoàng đế mất, con là Cung Tống nối ngôi vào năm
1274. Trước thế lực hung bạo của Mông Cổ, kinh đô nhà Tống bị thất thủ,
triều đình phải bỏ chạy về phía Nam để lo tổ chức kháng chiến phục quốc.
Nhưng tình hình nhà Tống ngày càng yếu đi, các quan đại thần phù giá Thái
Hậu họ Dương và các công chúa cùng chạy về Quảng Châu. Lúc này Văn
Thiên Tường là tướng trấn giữ ở Trấn Giang cùng kéo quân theo đường
biển về Nhai Sơn, để hợp sức kháng chiến lại ngoại xâm.
Triều đình Nam Tống tôn Ích Vương lên ngôi ở Phúc Châu, tức Đoan
Tống hoàng đế, tôn mẹ làm Hoàng Thái Hậu buông rèm coi chính sự, phong
Văn Thiên Tường là hữu thừa tướng, ban hịch kêu gọi cả nước kháng chiến
dành lại đất đai cho tổ quốc. Văn Thiên Tường đã đem quân đánh Mông Cổ
lấy lại được Mai Châu, lại đánh bại quân địch ở Vũ Châu. Trong khi đó thì
Trương Thế Kiệt cũng đem quân đánh bại quân giặc, lấy lại được huyện Cát
Công.
Nhưng quân Mông Cổ tăng thêm viện binh và giữ chiến thuật đánh úp
quân ở Hưng Quốc, sau đó thắng liên tiếp ở nhiều nơi khiến quân Tống ngày
càng nao núng. Theo lục phả thì lúc này Tống Ích Vương đóng ở Phúc Châu
bị quân địch bao vây rời về Triều Châu, Hồ Châu rồi mất. Em vua là Quảng
Vương Húy Bích nối ngôi rồi rời quân về Nhai Sơn thuộc Tân Hội, Quảng
Châu. Nhai Sơn là nơi có địa thế phòng thủ, Trương Thế Kiệt cho đây là đắc
25