1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------
NGUYỄN VĂN BÌNH
SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG VỪNG
NV10, Ở CÁC MỨC BÓN PHÂN ĐẠM VÀ PHÂN LÂN
KHÁC NHAU TẠI XÃ NGHI PHONG, NGHI LỘC,
NGHỆ AN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
Vinh - 12.2010
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------
SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG VỪNG
NV10, Ở CÁC MỨC BÓN PHÂN ĐẠM VÀ PHÂN LÂN
KHÁC NHAU TẠI XÃ NGHI PHONG, NGHI LỘC,
NGHỆ AN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Xin chân thành cảm ơn Th.S. Nguyễn Tài Toàn và KS. Cao Thị Thu Dung
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Xin
chân thành cảm ơn các thành viên của hội đồng khoa học, tập thể cán bộ khoa
Nông Lâm Ngư đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn thầy Đinh Bạt Dũng đã hướng dẫn, giúp đỡ em về
máy móc, kỹ thuật và dụng cụ trong quá trình nghiên cứu.
Xin bày tỏ lòng cảm ơn tới anh Nguyễn Văn Lan, anh Nguyễn Văn Trung
trong tổ bảo vệ của khoa đã trông coi toàn bộ khu thí nghiệm trong suốt quá trình
tôi làm đề tài.
Qua đây xin được chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, chia
sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2010.
Tác giả
Nguyễn Văn Bình
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Đặt vấn đề
1
2. Mục đích và yêu cầu
1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu cây vừng
6
1.3. Nguồn gốc và tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước
9
1.3.1. Nguồn gốc
9
1.3.2. Tình hình sản xuất
9
1.4. Tình hình nghiên cứu cây vừng trên thế giới và trong nước
11
1.4.1 Tình hình nghiên cứu vừng trên thế giới
11
1.4.2. Tình hình nghiên cứu cây vừng tại Việt Nam
14
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1 Thời vụ gieo
18
2.5.2. Kỹ thuật làm đất
18
2.5.3. Phân bón
18
6
2.5.4. Kỹ thuật gieo
19
2.5.5. Phòng trừ sâu bệnh
19
2.6. Chỉ tiêu theo dõi
19
2.6.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng
19
23
3.2. Sự sinh trưởng của một số tính trạng hình thái theo thời gian của dòng
vừng NV10
28
3.2.1. Chiều cao cây
28
3.2.2. Số lá
30
3.2.3. Số đốt
33
3.2.4. Số hoa
35
3.2.5. Số quả
37
3.3. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến một số tính trạng nông học
của dòng vừng NV10
49
3.4.2. Số quả trên thân chính
51
7
3.4.3. Số hạt của quả
53
3.4.4. Khối lượng 1000 hạt
55
3.5. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất dòng vừng NV10
57
3.5.1. Năng suất cá thể
57
3.5.2. Năng suất lý thuyết
59
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PC
Phân chuồng
N
Đạm
P2O5
Lân
K2 O
Kali
NS
Năng suất
NSCT
Năng suất cá thể
NSLT
Năng suất lý thuyết
DUNCAN
Giá trị F lý thuyết (Giá trị Fisher bảng)
9
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng khí hậu, thuỷ văn năm 2010 tại xã Nghi Phong, huyện
Nghi Lộc, Nghệ An
21
Bảng 3.1. Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng NV 10 (Số liệu nghiên
cứu vụ Hè Thu 2009)
26
Bảng 3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây theo thời gian của các công
thức thí nghiệm trong vụ Xuân 2010
28
Bảng 3.3. Động thái tăng trưởng số lá theo thời gian của các công thức thí
nghiệm trong vụ Xuân 2010
31
Bảng 3.4. Động thái tăng trưởng số đốt của các công thức thí nghiệm theo
thời gian trong vụ Xuân 2010.
43
Bảng 3.9 a. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và
phân lân đến chiều dài quả của dòng vừng NV10
44
Bảng 3.9 b. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều dài quả của
dòng vừng NV10
45
Bảng 3.10 a. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và
phân lân đến chiều rộng quả của dòng vừng NV10
Bảng 3.10 b. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều rộng quả của
45
10
dòng vừng NV10
46
Bảng 3.11 a. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và
phân lân đến độ dày quả của dòng vừng NV10
47
Bảng 3.14 b. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và
phân lân đến khối lương 1000 hạt của dòng vừng NV10
54
Bảng 3.15 a. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến khối lượng 1000 hạt
của dòng vừng NV10
55
Bảng 3.15 b. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón
đạm và lân khác nhau đến năng suất cá thể của dòng vừng NV10
56
Bảng 3.16 a. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến năng suất cá thể của
dòng vừng NV10
57
Bảng 3.16 b. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón
đạm và lân khác nhau đến năng suất lý thuyết của dòng vừng NV10
58
Bảng 3.17 a. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón
59
đạm và lân khác nhau đến năng suất lý thuyết của dòng vừng NV10
Hình 3.5. Động thái ra hoa theo thời gian của dòng vừng NV10
37
Hình 3.6. Sự tăng trưởng số quả trên cây của dòng vừng NV10
39
Hình 3.7. Trung bình về chiều cao cây của mức bón đạm với các mức bón
lân khác nhau của dòng vừng NV10
41
Hình 3.8. Số đốt/thân của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác nhau
của dòng vừng NV10
43
Hình 3.9. Chiều dài quả của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác
nhau của dòng vừng NV10
45
Hình 3.10. Chiều rộng quả của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác
nhau của dòng vừng NV10
46
Hình 3.11. Độ dày quả của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác nhau
của dòng vừng NV10
60
MỞ ĐẦU
12
1. Đặt vấn đề
Vừng, Sesamum indicum L., là một trong những cây lấy dầu quan trọng ở
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Nó được xem là “hoàng hậu” của cây có dầu thông
qua ưu điểm tuyệt hảo của dầu từ hạt vừng (Falusi O.A. và cs., 2001) [22]. Vừng
thuộc họ Pedaliacea và chi Sesamum (Hutchison J và Dalziel 1963) [25]. Chi này
có 36 loài, trong đó 19 loài có nguồn gốc ở châu Phi (Weiss 1983; Uzo 1998) [30],
(Trích dẫn qua Akpan-Iwo G. và cs., 2006) [19] và chỉ có Sesamum indicum L. là
loại duy nhất được sử dụng trong trồng trọt. Hàm lượng dầu bình quân trong hạy
vừng đạt gần 50% và biến động từ 34,4 đến 59,8% (Ashri 1995) [17].
Dầu vừng tinh được xem là loại dầu ăn hảo hạng và ngày càng được sử
dụng nhiều thay thế cho mỡ động vật bởi khi ăn dầu vừng tránh được bệnh xơ
cứng động mạch. Ngoài ra, với đặc tính không bị ôxi hóa, có thể cất giữ được lâu
mà không bị ôi và với hương vị đặc thù nên vừng được sử dụng nhiều trong
ngành công nghiệp thực phẩm. Hạt vừng không chỉ là nguồn cung cấp tuyệt vời
của mangan và đồng, mà còn là nguồn canxi, magie, sắt, phốt pho, vitamin B 1,
kẽm, và chất sơ cung cấp cho con người. Cùng với những dưỡng chất quan trọng
này, hạt vừng còn chứa hai hợp chất hữu cơ độc nhất vô nhị: sesamin và
sesamolin. Cả hai chất này đều thuộc nhóm chất sơ có ích đặc biệt được gọi là
lignan, và có tác dụng làm giảm cholesterol trong người, chống cao huyết áp và
tăng nguồn cung cấp vitamin E ở động vật. Sesamin cũng được biết là có khả
năng bảo vệ gan khỏi tác hại ôxi hóa (Kato và cs., 1998) [24]. Vừng cũng là loại
thực phẩm truyền thống của dân tộc ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới. “Muối
vừng” xưa kia là một món ăn phổ biến trong bữa cơm của các gia đình nông thôn
và thị dân nghèo. Ngày nay đã được mở rộng phạm vi sử dụng. Nhiều người còn
giá trị bán lạc 350 USD/tấn lạc vỏ, năng suất đạt 1.200kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuất
khẩu. Năng suất vừng 500 kg/ha, giá bán 380 USA/tạ thì giá trị thu nhập 1 ngày
công trồng vùng là 1,022 USA/ngày công, còn lạc là 0,736 USA/ngày công. Nếu
vừng được thâm canh tưới nước, đầu tư giống chống chịu sâu bệnh đưa năng suất
đến 800-1000 kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USA/ha, gấp đôi của lạc (Trần Văn Lài
và cs., 1993) [15]; cùng trên 1 diện tích, vừng cho thu hoạch cao gấp 3 lần trồng lúa
mùa cao cây (cây lúa lốc địa phương).
Tuy nhiên vừng là loại cây trồng có độ rủi ro cao, tập quán trồng vừng của
14
nông dân là ít đầu tư phân bón, thâm canh, chăm sóc dẫn đến sản lượng thấp. Do
sản lượng thấp và không ổn định vừng lại bị đẩy vào các vùng đất nghèo dinh
dưỡng hơn nên sản lượng lại tiếp tục bị giảm sút, điều đó làm cho một số người
đánh giá thấp vị trí của cây vừng là loại cây trồng không có tính kinh tế.
Trong những năm gần đây, Nghệ An là một trong những vùng trồng vừng
trọng điểm của Việt Nam. Vừng của Nghệ An được đánh giá là có chất lượng tốt
nhất so với các địa phương khác trong nước, có hàm lượng dầu cao nhất và đã được
người Nhật Bản thu mua với giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì
nghề trồng vừng của tỉnh nhà còn gặp một số hạn chế, khó khăn như: chưa có sự đa
dạng về giống, một số giống địa phương có năng suất thấp, không ổn định, dễ mắc
các loại sâu bệnh, độ thuần chủng không đảm bảo, biểu hiện về sự thoái hoá. Đứng
trước những khó khăn như vậy, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đã
tiến hành nhập nội một số giống vừng mới có nguồn gốc từ Nhật Bản như: vừng
trắng V6 và vừng đen V36 có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao, phẩm
chất tốt, thích hợp với chân đất ở Nghệ An và đã tiến hành đưa vào sản xuất đại trà
qua nhiều vụ. Tuy nhiên tập quán trồng vừng của nông dân ta còn ít đầu tư phân
bón, thâm canh, chăm sóc do đó năng suất chưa cao, trong những năm trở lại đây đã
và đang bộc lộ một số đặc điểm xấu, năng suất thấp, chất lượng kém.
- Giống là yếu tố hàng đầu quyết định đến năng suất của cây trồng, đồng
thời cũng là yếu tố có tầm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Giống có năng
suất cao, chất lượng tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất. Về
số lượng các giống vừng ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng chưa
nhiều, cần nghiên cứu để bổ sung làm phong phú đa dang thêm về giống, mang
lại giá trị kinh tế cho cây vừng.
- Phân bón là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ một loại cây trồng nào, phân
bón giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao. Nhưng để sử dụng
phân bón một cách phù hợp, có hiệu quả thì không phải ai cũng làm được. Sử dụng
phân bón không hợp lý sẽ làm giảm năng suất cây trồng. Cần nghiên cứu để đưa ra mức
bón hợp lý cho từng loại cây trồng nói chung và cây vừng nói riêng.
- Những nghiên cứu theo hướng này sẽ giúp cho các nhà khoa học nông
nghiệp đưa ra được lượng phân bón hợp lý cho cây trồng. Từ đó có thể phổ biến
cho bà con nông dân mức bón phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế ở mức tối đa.
16
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nông dân Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đã có tập quán trồng
cây vừng lâu đời nhưng việc trồng trọt chủ yếu theo hình thức quản canh, dựa
vào kinh nghiệm được tích lũy từ đời này qua đời khác mà chưa có những hướng
dẫn theo quy trình chăm sóc như những cây trồng khác. Từ năm 1994, vị trí cây
vừng trong nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã được chú trọng, đây là 1 trong 10
cây trồng ưu tiên của tỉnh và Nghệ An được xem là vùng trồng vừng trọng điểm
của Việt Nam. Tại tỉnh Nghệ An, riêng vụ hè năm 2002 diện tích các loại vừng
trên toàn tỉnh là 9.957 ha, chủ yếu các vùng đất cát ven biển như Diễn Châu
(3.050 ha), Nghi Lộc (3.303 ha), Quỳnh Lưu (586 ha),… với 3 giống vừng được
trồng phổ biến vừng vàng, vừng đen và vừng V 6. Trong đó, hai giống vừng vàng
và vừng đen là giống địa phương, còn V6 là giống nhập nội.
cuối cùng là tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng
chống chịu với các điều kiện bất thuận cũng như các đối tượng sâu bệnh hại.
Trong các khâu của quá trình sản xuất thì việc bón phân là một yếu tố hết
sức quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng nông sản.
Việc bón phân cho cây trồng mang tính khu vực hoá cao, mỗi chân đất và
vùng sinh thái khác nhau yêu cầu liều lượng phân bón là khác nhau, nó phụ thuộc
dinh dưỡng của đất, thành phần lý hóa tính của đất và điều kiện khí hậu.
Thưc tế cho thấy một số giống tốt được đưa vào sản xuất qua một số năm
đã trở nên thoái hoá giữa tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên như: thời tiết,
khí hậu và trình độ thâm canh của người dân làm cho năng suất, phẩm chất và
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy việc chọn tạo thử nghiệm và so
sánh, khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm nông học để tạo ra các giống ưu
việt nhất, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với từng vùng sinh thái và khả năng
chống chịu với sâu bệnh hại chính đang là vấn đề đáng quan tâm hiện nay của
các nhà chọn giống. Tuy nhiên đi kèm với giống, đặc biệt là các giống nhập nội
thì yếu tố phân bón cần phải được quan tâm hàng đầu. Vì thế cần nghiên cứu kỹ
về chế độ dinh dưỡng của giống để từ đó đưa ra mức bón hợp lý cho cây vừng
nhằm đạt được năng suất cao nhất mà giống có thể đạt được.
1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu cây vừng
Có hai yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng vừng trên thế giới. Yếu tố thứ
nhất là chất lượng hạt và hàm lượng dầu vừng rất tốt. Dầu vừng rất hợp khẩu vị,
18
dễ phối hợp với các loại khác trong chế biến các món ăn. Yếu tố thứ hai liên
quan đến văn hoá ẩm thực của nhiều dân tộc, có nhiều món ăn còn có ý nghĩa
phòng trị bệnh rất tốt trong đó có vừng. Vì vậy vừng là loại thực phẩm truyền
thống của dân tộc ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới. Muối vừng xưa kia là
món ăn thường ngày trong các bữa cơm đạm bạc, ngày nay người ta đã thấy nó
làm thức ăn gia súc rất tốt, có nơi dùng khô dầu để cất rượu, làm giấm. Ngoài ra
trong khô dầu còn chứa 5,8% đạm, 3,25% lân, 1,45% kali nguyên chất nên dùng
làm phân bón cho cây công nghiệp, nhất là thuốc lá rất tốt. Vừng được sử dụng
trong nhiều ngành công nghiệp. Người Châu Phi đã dùng vừng để chế tạo nước
hoa và loại nước hoa Cô-lô-nhơ nổi tiếng được sản xuất từ hoa vừng.
Axitmyristic có trong hạt vừng được xem là một thành phần không thể thiếu
trong ngành công nghiệp mỹ phẩm. Chất sesamin, sesalomin trong hạt vừng có
các hoạt tính diệt khuẩn và sâu bọ nên được dùng làm chất tăng cường tác dụng
cho thuốc trừ sâu. Dầu vừng được làm dung môi hoà tan cho nhiều loài dược
phẩm, thuốc làm mịn da, trong sản xuất bơ thực vật và xà phòng.
Vừng còn được ứng dụng nhiều trong việc bồi bổ sức khoẻ và trong công
nghiệp dược phẩm. Lignan của vừng có đặc tính chống oxi hoá và có hoạt tính
tăng cường sức khoẻ (Kato et al., 1998 ) [22]. Cả sesamin và sesalomin đã được
xác định có hàm lượng cao trong vừng đều có tác dụng tăng tốc độ oxi hoá các
axit béo trong peroxyxom và trong ty thể (Sirato-Yasumoto et al., 2001) [26].
Dùng vừng hạt làm thực phẩm dường như có tác dụng làm tăng hoạt tính của γ tôcpherol (C29H5O2) là chất được xem là có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư và
bệnh tim, axitmyristic với tỷ lệ trong vừng hạt từ 328 - 1,728 phần triệu cũng có
khả năng ngăn ngừa ung thư. Cephalin từ hạt vừng có hoạt tính cầm máu. Hạt
vừng chứa lecithin với hàm lượng từ 58 - 395 phần triệu là chất có hoạt tính
chống oxi hoá và bảo vệ gan. Lecithin có trong hạt vừng cũng có hiệu quả trong
việc giảm chứng mỡ của gan đối với các bệnh nhân dinh dưỡng ngoài ruột trong
một thời gian dài và được dùng để điều trị bệnh viêm da và khô da rất hiệu quả.
Dầu vừng còn được dùng làm dung môi cho một số thuốc tiêm vào cơ, dầu vừng
có những đặc tính bổ dưỡng, làm dịu vết viêm, mềm cơ và làm thuốc nhuận
tràng. Vào thế kỷ IV, người Trung Quốc đã dùng dầu vừng để trị để trị đau răng
và viêm lợi. Dầu vừng còn được biết đến trong việc giảm colesterol do có hàm
20
21
Ouganda, Megeria.
Sản lượng vừng toàn thế giới năm 1986 khoảng 2,4 triệu tấn, trong đó Châu
Á chiếm khoảng 65% về sản lượng (FAO, 1987) [21].
Hiện nay mặc dù với diện tích không nhiều nhưng vừng đã được trồng khắp
các châu lục trên toàn thế giới.
Sản lượng vừng hàng năm khoảng 2 triệu tấn.
Các vùng trồng chính:
- Châu Á: Sản xuất 55 - 60% sản lượng trên thế giới.
- Châu Mỹ: 18 - 20%.
- Châu Phi: 18 - 20%.
Ngoài ra, Châu Âu và Châu Đại Dương cũng có trồng rải rác nhưng không
đáng kể.
+ Ấn Độ: Đứng đầu thế giới với sản lượng vừng khoảng 400.000 tấn/năm.
+ Trung Quốc nước sản xuất lớn thứ 2:
320.000 – 350.000 tấn.
+ Sudan (Châu Phi):
150.000 – 200.000 tấn.
+ Mexico (Châu Mỹ):
150.000 – 180.000 tấn.
Các nước có sản lương tương đối lớn khác là: Burma, Pakistan, Thái Lan,
Nigieria, Tanazania, Uganda, Colombia, Venezuela.
Năng suất nói chung còn thấp, năng suất bình quân thế giới chỉ khoảng 300
như điều tra, thu thập, chọn giống, nông học, hoá sinh,…(Ashri, 1995) [17].
Theo nghiên cứu của Thiagalingham và Bennett, với lượng phân bón Nitơ
60 kg/ha bón vào thời điểm gieo dường như là thích hợp đối với các giống Yori
77. Khi lượng phân Nitơ được chia đôi, sự bón Nitơ sau khi ra hoa làm sản lượng
bị sụt giảm. Rất ít công trình về phản ứng của vừng đối với phân phốt phát và
những kết quả sơ bộ không mang tính thuyết phục. Về các dinh dưỡng vi lượng,
bón 1 mg Bo/kg đất ở các mảnh ruộng thí nghiệm thì tăng lượng quả và trọng
lượng hạt trên cây nhưng bón Bo với mức cao hơn làm giảm sự phát triển của rễ
và tăng tỷ lệ chồi cây/rễ.
Sản lượng hạt và phản ứng sản lượng của vừng với phân bón bị ảnh hưởng
bởi dinh dưỡng đất, ngày gieo, giống, mật độ, khoảng cách hàng và độ ẩm. Mỗi
yếu tố này có thể ảnh hưởng đến yêu c ầu dinh dưỡng của cây và lượng phân bón
23
tối thích. Ước tính từ sự phân tích hạt vừng được thu hoạch, ở các vùng đất khác
nhau của Australia rằng một tấn hạt vừng sẽ lấy khoảng 35 - 48 kg N/ha tuỳ
thuộc vào mức dinh dưỡng của đất và địa phương.
Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọng
cho sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây Bắc
Australia vào những năm 80, từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm tra, hai
dạng đã được chọn cho sự đánh giá. Hnan Dun một giống của Myanma, với đặc
điểm hạt màu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho sản lượng 1,2 tấn/ha. Được
trồng trên đát sét Cunurra có tưới nước, chín trong 105 ngày. Trên đất cát
Cockatoo, sản lượng hạt của Hnan Dun là 1,3 - 1,6 tấn/ha. Pachequino, một
giống không phân nhánh, có nguồn gốc từ Mêhicô, chín chậm hơn so với Hnan
Dun, cho sản lượng lên tới 1,8 tấn/ha trong các thử nghiệm ở trên đất sét Cunurra
và hạt có màu trắng rõ nét được ưa thích trong việc dùng làm bánh kẹo.
Trong hai thử nghiệm về phương pháp điều tra thu hoạch. Thời điểm tối
Martin đã đề nghị những thủ tục sau đây để kiểm soát cỏ dại các vụ trồng vừng:
1. Sau khi trồng có mưa, áp dụng thuốc diệt cỏ vào ngày trước khi gieo vãi một
lớp thực vật để cung cấp một lớp phủ bề mặt có hiệu quả; 2. Gieo ở tỷ lệ cây non
để diệt trừ cỏ dại; 3. Phun thuốc diệt cỏ trước nảy mầm; 4. Trước khi có sự khép
tán, đánh giá chắc chắn những thiệt hại do cỏ dai gây ra tại thời điểm khép tán từ
việc chuyển đổi trong diện tích bề mặt lá liên quan của cỏ dại; 5. Phun thuốc diệt
cỏ sau khi nảy mầm nếu thấy cần thiết.
Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canh
đối với vừng ở miền Tây Bắc Australia. Họ cho rằng vừng là loại cây thích hợp
cho sự chuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có khu vực, bởi vì ngày
gieo tối thích của nó rơi vào những ngày thu hoạch cây ngũ cốc (ngô và lúa
miến) và đậu xanh. Họ chỉ ra rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh của
vừng và bãi cỏ bị bỏ hoá nhưng cho rằng một sự luân canh giữa vừng và bãi cỏ bị
hoang hoá dường như không gây ra bất cứ khó khăn nào. Tuy nhiên các cây họ
đậu trong các bãi bỏ hoang thích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinh
phần lớn hạt cứng và những hạt này có thể nảy mầm và cạnh tranh với cây vừng
ở vụ tiếp theo. Không có một loại thuốc diệt cỏ nào được lựa chon đã được biết
25
đến để kiểm soát cỏ dại thuộc loại họ đậu này. Làm đất theo phương pháp truyền
thống được ưa thích bởi các nông dân đi đầu trong việc trồng vừng, đó là không
làm đất khi gieo vì hạt vừng quá nhỏ.
1.4.2. Tình hình nghiên cứu cây vừng tại Việt Nam
Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả một số đặc điểm hình thái của 5
giống vừng, các yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến vừng và các biện pháp kỹ thuật
canh tác, phòng trừ sâu bệnh cho cây vừng.
Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơn
khi tập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của Việt