BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ðẶNG VĂN LÃM
ðÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ
GIỐNG HOA ðÀO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT KHOANH
VỎ, TUỐT LÁ ðẾN KHẢ NĂNG RA HOA CỦA GIỐNG ðÀO BÍCH
TRỒNG TẠI ATK ðỊNH HÓA - THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ KIM THANH
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS.Nguyễn Thị Kim Thanh, người ñã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp ñỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực
vật, Khoa Nông học, Viện ðào tạo Sau ñại học, Trường ðại học Nông nghiệp
Hà Nội ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi, giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực
hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến sự giúp ñỡ nhiệt tình của lãnh ñạo và tập
thể cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, cây cảnh – Viện Nghiên
cứu Rau quả ñã ñộng viên và tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện ñề tài
nghiên cứu và hoàn thành khoá học cao học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh ñạo và tập thể cán bộ Ban quản lý Khu
di tích lịch sử - sinh thái ATK và các hộ dân trồng ñào tại ðịnh Hóa ñã tạo
ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện ñề tài.
Luận văn ñược hoàn thành có sự ñộng viên tinh thần to lớn của gia
ñình và bạn bè. Tôi vô cùng cảm ơn những sự giúp ñỡ quý báu ñó.
Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn
ðặng Văn Lãm
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
iv
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 ðánh giá ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa
ñào tại ATK ðịnh Hóa - Thái Nguyên 34
4.1.1 Tỷ lệ sống của các giống ñào trồng tại ATK ðịnh Hóa- Thái
Nguyên 34
4.1.2 ðặc ñiểm hình thái của các giống ñào nghiên cứu 35
4.1.3 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống ñào nghiên cứu 38
4.1.4 Tình hình sâu bệnh của các giống hoa ñào nghiên cứu 47
4.1.5 Chất lượng hoa của các giống hoa ñào nghiên cứu 48
4.2 Ảnh hưởng thời ñiểm khoanh vỏ ñến khả năng ra hoa và chất lượng
cành hoa của giống ñào Bích tại ATK - ðịnh Hoa – Thái Nguyên 50
4.2.1 Ảnh hưởng thời ñiểm khoanh vỏ ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
dài cành lộc của giống ñào Bích sau khi khoanh vỏ 50
4.2.2 Ảnh hưởng thời ñiểm khoanh vỏ ñến khả năng phân hoá mầm
hoa và ra hoa của giống ñào Bích 53
4.2.3 Ảnh hưởng của thời ñiểm khoanh vỏ ñến chất lượng hoa của
giống ñào Bích 54
4.3 Ảnh hưởng của phương thức khoanh vỏ ñến khả năng ra hoa và
chất lượng cành hoa của giống ñào Bích 56
4.3.1 Ảnh hưởng của phương thức khoanh vỏ ñến ñộng thái tăng
trưởng cành lộc của giống ñào Bích 56
4.3.2 Ảnh hưởng của phương thức khoanh vỏ ñến khả năng phân hoá
mầm hoa của giống ñào Bích 60
4.4 Ảnh hưởng của thời ñiểm tuốt lá ñến khả năng nở hoa và chất
lượng cành hoa của giống ñào Bích 63
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
4.1 Tỷ lệ sống và thời gian bật mầm mới của các giống hoa ñào
nghiên cứu 34
4.2 ðặc ñiểm hình thái thân, lá, hoa của các giống nghiên cứu 36
4.3 ðộng thái tăng trưởng ñường kính thân, tán của các giống ñào
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH STT Tên hình Trang
4.1 ðộng thái tăng trưởng ñường kính thân của các giống ñào nghiên
cứu 39
4.2 ðộng thái tăng trưởng ñường kính tán của các giống ñào nghiên
cứu 39
4.3 ðộng thái tăng trưởng chiều dài cành lộc của các giống ñào sau
lần cắt tỉa cuối 42
4.4 ðộng thái tăng trưởng ñường kính cành lộc của các giống ñào
sau lần cắt tỉa cuối 42
4.5 ðộng thái tăng trưởng chiều dài cành lộc của các giống ñào sau
khi khoanh vỏ 45
4.6 ðộng thái tăng trưởng ñường kính cành lộc của các giống ñào
sau khi khoanh vỏ 45
4.7 ðộng thái tăng trưởng chiều dài cành lộc của giống ñào Bích sau
khoanh vỏ ở các thời ñiểm khoanh vỏ 52
4.8 ðộng thái tăng trưởng ñường kính cành lộc của giống ñào Bích
sau khoanh vỏ ở các thời ñiểm khoanh vỏ 53
4.9 ðộng thái tăng trưởng chiều dài cành lộc của giống ñào Bích sau
khoanh vỏ ở các phương thức khoanh 59
4.10 ðộng thái tăng trưởng ñường kính cành lộc của giống ñào Bích
sau khoanh vỏ ở các phương thức khoanh 59
chưa nở hoa vào ñúng dịp Tết và từ ñó dẫn ñến hiệu quả kinh tế từ việc trồng
hoa ñào mang lại chưa cao.
ðể lựa chọn các giống hoa ñào có chất lượng cao, phù hợp với ñiều
kiện sinh thái của ñịa phương, ñáp ứng ñược thị hiếu ngày càng cao của người
tiêu dùng, ñồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, ñiều tiết
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
2
sinh trưởng nở hoa phù hợp nhằm tăng chất lượng, ñộ bền hoa và nở ñúng vào
dịp Tết Nguyên ðán làm tăng hiệu quả kinh tế cho người dân trồng hoa ñào
tại ñịa phương. Chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: "ðánh giá sự sinh
trưởng, phát triển của một số giống hoa ñào và ảnh hưởng của kỹ thuật
khoanh vỏ, tuốt lá ñến khả năng ra hoa của giống ñào Bích trồng tại ATK
ðịnh Hoá - Thái Nguyên".
1.2. Mục ñích và yêu cầu
1.2.1. Mục ñích
ðánh giá sự sinh trưởng, phát triển của các giống hoa ñào và nghiên
cứu ảnh hưởng của kỹ thuật khoanh vỏ, tuốt lá ñến khả năng ra hoa và chất
lượng hoa của giống ñào Bích ñược trồng tại ATK ðịnh Hóa. Từ ñó ñề xuất
giống hoa ñào thích hợp và bổ sung vào quy trình kỹ thuật khoanh vỏ, tuốt lá
cho cây hoa ñào Bích trồng tại ATK ðịnh Hóa.
1.2.2. Yêu cầu
- ðánh giá ñược ñặc ñiểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển
của các giống hoa ñào trồng tại ATK ðịnh Hóa – Thái Nguyên.
- Xác ñịnh ñược thời ñiểm khoanh vỏ thích hợp cho cây ñào Bích trồng
tại ATK ðịnh Hoá - Thái Nguyên
- Xác ñịnh ñược phương thức khoanh vỏ hợp lí cho cây ñào Bích trồng
tại ATK ðịnh Hoá - Thái Nguyên
- Xác ñịnh ñược thời ñiểm tuốt lá cho hoa nở vào dịp Tết Nguyên ðán
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Giới thiệu chung về cây hoa ñào
2.1.1. Nguồn gốc
Cây hoa ñào có nguồn gốc từ Trung Quốc, nơi mà nó là biểu tượng lâu
ñời của cuộc sống cổ xưa, ñã có những phát hiện chứng minh rằng ñào ñược
phát triển ở Trung Quốc vào thời kỳ ñồ ñá. Tại tỉnh Chiết Giang, năm 1973,
người ta ñã phát hiện những viên ñá có vẽ hình cây hoa ðào có niên ñại từ
6000-7000 năm trước công nguyên. Từ 1973-1976, Viện Hàn lâm Khoa học
Trung Quốc ñã phát hiện ra rất nhiều tài nguyên ña dạng di truyền của ñào
hoang dã vẫn ñang ñược trồng rộng rãi ở các khu vực rộng lớn của Trung
Quốc, bao gồm cả Tây Tạng, Cam Túc, phía ñông Thiểm Tây, phía ñông nam
Tây Tạng. Còn trong lịch sử trồng trọt của Trung Quốc, cây hoa ñào ñược
trồng trọt và thuần hoá cách ñây 4000 năm [16]. ðào từ Trung Quốc truyền
vào Trung Á (Asie Centrale), vào Ba Tư (Perse tức Iran) theo con ñường tơ
lụa. Một thế kỷ trước công nguyên, ông Alexandre Le Grand mang giống ñào
từ xứ Perse vào Rome và ñến thế kỷ XVII, cây ñào mới ñược du nhập vào
người ta chia hoa ñào thành 4 nhóm giống khác nhau: nhóm ñào Bích, nhóm
ñào Phai, nhóm ñào Bạch, nhóm ñào Thất Thốn [2].
- Nhóm ñào Bích: Nhóm giống này ñược trồng phổ biến nhất ở nước ta,
nó xuất hiện ở tất cả các vùng trồng ñào cảnh trên cả nước và ñược nhiều
người ưa thích, ñào Bích hoa kép ñỏ thắm, nhuỵ vàng, hoa có trên 16 cánh,
cánh hoa dầy. Hiện nay ñào Bích ñang ñược trồng nhiều ở Nhật Tân, ðông
Anh (Hà Nội), Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang…
- Nhóm ñào Phai: Theo như tên của nó màu ñỏ ñặc trưng chỉ tập trung ở
phần giữa của hoa, nơi xen lẫn các nhị và nhuỵ hoa màu vàng và màu ñỏ cứ
"phai" dần ở cánh hoa, khiến cho cánh hoa có một màu trắng hồng. Nhóm
giống này lại dựa vào ñặc ñiểm của hoa ñể chia các loại giống khác nhau như:
Phai ñơn cánh, Phai bán kép, Phai cánh kép. Hiện nay ñào Phai ñược trồng ở
một số tỉnh như Hải Phòng, Hải Dương và một số tỉnh miền núi Phía Bắc.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
6
- Nhóm ñào ñào Bạch: Có hoa trắng, nhuỵ vàng, cánh mỏng, thưa hoa
thường xuất hiện ở vùng núi của tỉnh Lạng Sơn.
- Nhóm ñào ñào Thất Thốn: ðào Thất Thốn xuất hiện ở Việt Nam hơn
chục năm nay song giống này không phát triển rộng lắm, hiện nay giống ñào
này chỉ còn thấy ở một vài tư gia. ðào Thất Thốn có hoa mọc ñôi rất ñặc biệt,
tán cây thường rất rậm vì lá chen nhau, lá to xanh thẫm. Tại ñốt cây khoảng
cách 2 lá của ñào Thất Thốn rất ngắn, cứ 1cm có 5-7 lá trong ñiều kiện ánh
sáng bình thường. ðó chính là lý do khiến chiều dài cành hoa của cây phát
triển chậm. Cành và thân ñào Thất Thốn nói chung cứng và giòn nên khó uốn,
nhất là khi ñã hoá gỗ, thân có nhiều vảy sẹo, thân cây ñã hoá gỗ vỏ thường có
màu xám hoặc màu nâu thẫm, ít dăm. Hoa thưa phân bố không ñều trên cành,
hoa kép, to, nhuỵ vàng, cánh hoa to dầy. Nhóm ñào Thất Thốn có các giống
khác nhau theo màu sắc hoa hoặc màu sắc lá: giống có hoa màu ñỏ, trắng,
hạt thì thân chính ñược tính từ cổ rễ tới chỗ phân cành ñầu tiên. Trên thân
chính sẽ mọc các cành chính, chúng hợp thành tán cho cây, tạo cho cây một
thế vững chắc. Do ñó người ta muốn cây có thân chính thấp, cành trong tán
không nên quá dày, cành mang hoa không nên vượt quá xa thân chính và cành
chính.
Mối quan hệ giữa sinh trưởng thân cành và ra hoa có một sự gắn bó hết
sức mật thiết. Trong chu kỳ sinh trưởng của cây ñào, sự hình thành, sinh
trưởng của lộc cành mới với việc phân hoá mầm hoa có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Nếu cành lá sinh trưởng quá yếu, khả năng ñồng hoá sẽ kém, việc
phân hoá mầm hoa, phát triển của hoa sẽ không thuận lợi. Ngược lại cành lá
sinh trưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéơ dài, tiêu hao nhiều dinh
dưỡng cho các phần non trên cành, cho nên tuy lá có nhiều, nhưng sản phẩm
ñồng hoá tích luỹ ñược ít, do ñó việc phân hoá mầm, sự phát triển của hoa
cũng gặp khó khăn. Bởi vậy cành lá mới chỉ phát triển với một ñộ vừa phải là
tốt nhất.
- Lá: lá ñơn, mọc so le, phiến lá có hình mũi mác, hình ô van hay elip,
dài 7-15 cm và rộng 2-3 cm, mặt dưới của phiến lá có gân nổi rõ. ðào là loại
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
8
cây ôn ñới nên bộ lá phát triển theo bốn mùa rõ rệt, mùa xuân ra lộc, mùa hè
lá phát triển, mùa thu lá vàng, mùa ñông lá rụng, tuỳ từng giống mà lá có màu
xanh ñậm, xanh nhạt hay màu ñỏ, lá có mùi hăng [5].
- Hoa ñào: do mầm hoa phân hoá thành, vị trí của hoa nằm ở các nách
lá, hoa lưỡng tính có nhị và nhuỵ. ðào thường ra hoa vào cuối ñông, ñầu
xuân, xung quanh dịp Tết âm lịch, trước khi ra lá. Hoa ñơn hay có ñôi, ñường
kính 2,5-3 cm, ưa thụ phấn chéo (một số giống có khả năng tự thụ phấn).
Cánh hoa thường có màu sắc: trắng, ñỏ, hồng, số lượng cánh hoa tuỳ vào từng
giống có thể thay ñổi từ 5 -30 cánh, thậm chí trên 30 cánh.
Ánh sáng là ñiều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây
trồng nói chung và cây hoa ñào nói riêng. Ánh sáng cung cấp năng lượng cho
phản ứng quang hợp, tạo ra chất hữu cơ cho cây trồng, có tới 90% chất khô
trong cây là do quang hợp tạo nên. Cường ñộ quang hợp phụ thuộc vào ñiều
kiện ánh sáng, thiếu ánh sáng cây không thể quang hợp ñược, quang hợp phụ
thuộc vào thành phần quang phổ của ánh sáng và cường ñộ chiếu sáng. Cường
ñộ quang hợp của cây hoa tăng khi cường ñộ chiếu sáng tăng. Song, nếu
cường ñộ ánh sáng vượt quá giới hạn thì quang hợp bắt ñầu giảm.
Nói chung, ñào là cây ưa nhiều ánh sáng. ðào cần 10.000-12000 lux,
thời gian chiếu sáng trung bình 6-8 h/ngày. Vì vậy, ñào cần ñược trồng ở nơi
có nhiều ánh nắng, với sự thông thoáng gió tốt. ðiều này cho phép không khí
lạnh bị thổi ñi vào những ñêm sương giá và giữ cho khu vực ñược mát mẻ vào
mùa hè. Tại miền Bắc Việt Nam, việc trồng ñào chủ yếu ñể lấy hoa vào dịp
Tết, nên từ sau Tết người ta ñã bắt ñầu trồng ñào trở lại. ðể thúc ñào ra hoa,
người ta cần vặt bớt lá vào mùa thu [19].
Trong vườn ñào phía nào thiếu ánh sáng, tán cây sẽ khuyết về phía ñó.
Do vậy, cần ñốn tỉa tạo bộ tán thông thoáng ñể tất cả các cành nhận ñược
nhiều ánh sáng. Cây ñào là cây rụng lá hàng năm vào mùa ñông. Do nhiệt ñộ
thấp, ánh sáng ngày ngắn của cuối năm, sinh lý của lá rối loạn tạo thành ly
tầng ở chân lá và lá ñỏ ra rồi rụng.
+ ðất
ðất là một yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi nâng ñỡ
cây trồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của
cây. Phần lớn các cây hoa yêu cầu ñất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có
khả năng giữ ẩm, tầng canh tác dày [5]. Tuy nhiên, cây hoa ñào có thể chịu
ñược ñất xấu, ñất dốc có ñộ cao 700-900 m, mọc tốt ở ñất Feralit ñỏ vàng, hơi
chua, ñất cát, sỏi nhiều, ñất tơi xốp nhiều mùn, ñất có pH 5,5-6 là thích hợp.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
10
11
và ít có khi có biểu hiện thiếu. Lượng phân lân bón khi trồng mới thường cung
cấp ñủ cho cây trong thời gian dài. Phân bón NPK cần phải ñược sử dụng
thường xuyên, nếu lá ñào nhỏ hay ngả vàng thì cây cần nhiều phân ñạm hơn.
Các loại phân làm từ của xương gia súc khoảng 3-5 kg trên một cây trưởng
thành hay phân hóa học như nitrat amôni canxi ở mức 0,5-1 kg là các loại phân
bón thích hợp nhất. Cũng nên sử dụng phân bón khi cây chậm phát triển.
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì phân vi lượng là
yếu tố cây trồng cần rất ít nhưng không thể thiếu. Trong số các nguyên tố vi
lượng (Mg, Fe, Mn, B, Zn…) thì B và Zn ñược coi là 2 nguyên tố quan trọng
nhất. Bo (Bo) có tác dụng rất quan trọng tới sự phân hoá hoa, tới quá trình thụ
phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực, ñồng thời còn có tác dụng
tới sự chuyển hoá và vận chuyển của ñường. Nếu thiếu Bo, phần chóp ngọn cây
ngừng sinh trưởng, lá và cành hoa cong lại, ñốt ngắn lại. Nếu nhiều Bo quá, mép
lá biến thành màu nâu, các phần khác biến vàng. Kẽm (Zn) kích thích sự giải
phóng CO
2
trong diệp lục, kích thích quang hợp. Kẽm có liên quang ñến sự hình
thành kích tố sinh trưởng. Nếu thiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình
thành, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây, ñốt ngắn lại, lá và gân lá thiếu màu
xanh sau ñó chuyển sang vàng, trắng và chết khô [7].
2.1.5. Giá trị sử dụng của cây hoa ñào
Hoa ñào ñược sử dụng trong dịp Tết Nguyên ðán ở Việt Nam. Cây hoa
ñào ñược sử dụng với nhiều hình thức khác nhau: trồng chậu làm cây cảnh,
cắt cành, trồng làm cây ñường phố.
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng thức…hoa ñào còn
mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Ở Việt Nam vào dịp Tết Nguyên ðán, tuỳ
từng gốc ñào (thế, dáng, màu sắc, chất lượng hoa…) mà giá cả cũng khác
nhau: từ vài trăm ñến vài triệu ñồng mỗi gốc, thu nhập ñem lại cho người
trồng ñào chủ yếu là vào dịp Tết. Sau mỗi dịp Tết, mỗi gia ñình thu ñược từ
mới lạ, hiện ñại nhưng dường như người ta vẫn không quên nhắc tới hoa ñào
ngày Tết - một thú vui thanh tao, nét cổ truyền của người dân Việt Nam, loài
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
13
hoa tượng trưng cho sắc xuân. Trên các bức tranh tứ bình thường vẽ bốn thứ
hoa tượng trưng cho bốn mùa trong năm thì hoa ñào ñược coi là loài hoa
tượng trưng cho mùa xuân, ñứng ñầu trong các loại hoa tượng trưng cho bốn
mùa. Cành ñào tượng trưng cho ngày Tết của dân tộc ta, màu hoa thắm và
hồng dịu tượng trưng cho nét mềm mại thanh lịch duyên dáng của con người.
Ngày Tết, ñào ñược bày ở phòng khách hoặc cắm bên bàn thờ tổ tiên, ngoài
dáng ñẹp ngày xuân, với hoa màu ñỏ sẽ ñem lại sự may mắn trong năm, ñào
còn là niềm vui mang ý nghĩa sâu xa xua ñuổi ñiềm xấu, cản luồng gió ñộc,
ñuổi tà khí ra ngoài [11].
2.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa ñào
Muốn có một cành hoa ñào Tết, từ việc bón phân, chăm sóc, cắt tỉa, uốn
cành, tạo thế, tuốt lá, hãm hoa … là cả một công ñoạn dài, mất nhiều công sức.
Người trồng ñào luôn muốn hoa ñào nở vào ñúng dịp Tết Nguyên ðán, nhưng
ñể ñiều khiển hoa nở theo ý muốn ñòi hỏi phải có kỹ thuật, kinh nghiệm. ðây là
vấn ñề mấu chốt và khó khăn nhất của người trồng cây hoa ñào.
+ Kỹ thuật chăm sóc ñào
Bón lót: Nhằm bổ sung lượng dinh dưỡng ña, vi lượng cho ñất trước
khi trồng cây.
Bón thúc: nhằm duy trì ñộ phì cho ñất và dinh dưỡng cho cây. Lượng
phân bón tăng dần theo tuổi cây và căn cứ vào năng suất quả. Tập trung bón
vào giai ñoạn cây có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất .
Hàng năm sau Tết, cần chuyển ngay ñào ra trồng trong ñất hoặc thay
hỗn hợp ñất mới (3-4 phần ñất 1 phần phân hữu cơ). Bón lót khi trồng 3-5 kg
phân hữu cơ/cây tùy theo cây lớn hay nhỏ. ðối với ñào gốc sau khi thu hoạch
cành bán Tết cần bón 3-5 kg phân hữu cơ/cây ngay sau Tết 10-15 ngày. Tưới
Bên cạnh ñó thì nước lấy từ các bể chứa ốc, hến ñem tưới cho ñào
cũng rất tốt. Cần lưu ý, nước ốc ngâm ñủ ñộ, lấy tưới cho ñào mới tốt, mới tạo
ñiều kiện cho ñào phát triển [7].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………
15
+ Tạo tán, tạo thế
Trồng cây ñào giống vào tháng 1-2 âm lịch, mật ñộ 1m x 1m hoặc gốc
của cây cũ cắt ñi ñã nảy nhiều mầm, tỉa bỏ hết các mầm chỉ giữ lại một mầm
to khỏe nhất. Chồi mầm cao 30-35cm thì buộc vào cọc cứng ở cạnh gốc càng
giữ cho cây thẳng. Khi cây cao 70-80cm thì bấm ngọn, kết hợp với bón lót 5-
7 kg phân chuồng hoai mục cho mỗi gốc và tưới phân loãng thúc cho các
cành khỏe lớn mau. Tỉa hầu hết mầm gần ngọn và phía dưới giữ lại 3 cành
khỏe về 3 phía ñều nhau, sau ñó cứ cành dài 15-20cm lại bấm ngọn, cành nào
lệch thì dùng dây ñồng nhỏ buộc, chĩa ñủ bốn phía cho tán cây thật tròn kết
hợp uốn, buộc các cành non vào với nhau hoặc vào một khung theo các thế ñã
ñịnh, cắt tỉa bỏ những cành ngoài ý muốn. Có thể kết hợp khắc vảy trên thân
ñào ñể tạo vẻ cổ cho cây. Thế càng phức tạp, tốn nhiều thời gian và công phu
sẽ có giá trị cao, thu nhập lớn. Vì vậy, người chủ vườn ñào phải hiểu biết
ñược hình dáng các loại thế cây cơ bản mà mình ñịnh tạo qua học hỏi ở tài
liệu, kinh nghiệm thực tế. Ví dụ: thế long giáng có hình con rồng xà xuống
mặt ñất; thế phu thê: hai cành cấp 1 quấn quít lấy nhau; thế quần tụ: tán cao
(biểu tượng của cha) tạo bởi thân chính, cao; các tán phụ (biểu tượng của con,
cháu) bao xung quanh tạo bằng những cành thấp nhỏ [7].
+ ðiều khiển ra hoa
Thường thì ñào ra hoa rải rác từ trung tuần tháng chạp năm trước ñến
trung tuần tháng giêng năm sau. Song không phải năm nào cũng vậy, thực tế
cho thấy năm thời tiết nắng ấm ñến sớm, ñào nở sớm hơn, năm thời tiết rét
kéo dài, ñào nở muộn hơn. Vì vậy nhiều năm Tết ñến ñào ñã tàn hoa hoặc Tết
thuộc vào thời tiết ñến 50%. Nếu thời tiết nắng nóng, ñào sẽ nhanh nở, còn
thời tiết lạnh thì chậm nở hơn. Do ñó, mỗi người trồng ñào phải có sự dự
ñoán, cảm nhận thời tiết của từng năm dựa trên kinh nghiệm ñể tuốt lá sớm
hay muộn. Ngoài ra còn phải căn cứ vào năm nhuận hay năm thường và tuỳ
thuộc vào sức sinh trưởng của cây: cây tơ hay già, khoẻ hay yếu, cây tơ và
khoẻ thì tuốt trước, cây già và yếu tuốt lá sau nhằm cho hoa nở ñúng vào dịp