Xác định nồng độ GA3 thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lan đai châu tại gia lâm, hà nội - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
NGUYỄN THỊ THU
XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ GA3 THÍCH HỢP
CHO SỰ SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY LAN ĐAI CHÂU TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sƣ phạm Kỹ thuật Nông nghiệp
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. ĐINH THỊ DINH

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là do tôi trực tiếp nghiên cứu và có tham khảo tài
liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả. Tuy nhiên, đó là cơ sở để tôi
thực hiện đề tài này. Đề tài này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, các nội
dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực và chƣa đƣợc báo cáo
trong các hội nghị khoa học nào. Nếu phát hiện bất cứ gia lận nào tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm trƣớc hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng… năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu
1.6.3. Nguyên tắc và phƣơng pháp sử dụng chất điều hòa sinh trƣởng 23
1.6.4. Một số nghiên cứu về chất điều hòa sinh trƣởng 24
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 26
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 26
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 26
2.3. Nội dung nghiên cứu. 26
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 26
2.4.1. Bố trí thí nghiệm 26
2.4.2. Sơ đồ ruộng thí nghiệm 27
2.4.3. Cách pha hóa chất và phun 27
2.4.4. Phƣơng pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 28
2.4.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu 28
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1. Đặc điểm hình thái của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 29
3.2. Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trƣởng số lá,
chiều dài, chiều rộng lá của của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 29
3.3. Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trƣởng chiều
cao và đƣờng kính thân cây của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 33
3.4. Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trƣởng bộ rễ,
kích thƣớc rễ của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 35
3.5. Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến năng suất và chất lƣợng hoa
của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 45

Lan, Hoa Kỳ vv. Lợi nhuận đem về từ việc xuất khẩu cây con,cây có hoa đều
lớn.
Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng
của kinh tế xã hội nhu cầu sử dụng hoa lan nói chung, lan Đai Châu nói riêng
cũng phát triển nhanh. Lan Đai Châu không chỉ dùng trong dịp lễ tết nhƣ trƣớc
đây mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thƣờng ngày của ngƣời dân cũng rất lớn,
bên cạnh nhu cầu về số lƣợng cũng đòi hỏi ngày càng cao về chất lƣợng. Tuy
nhiên, hiện nay việc sản xuất hoa lan nói chung và lan Đai Châu nói riêng mới
chỉ phát triển mãnh mẽ ở các tỉnh phía Nam và chủ yếu ở quy mô hộ gia đình,
diện tích nhỏ lẻ. Bên cạnh đó những nghiên cứu về lan Đai Châu chỉ tập trung
nghiên cứu nhân nhanh các giống mà chƣa chú trọng nhiều đến các biện pháp kĩ
thuật. Nhất là các biện pháp kĩ thuật mới nhƣ phun bổ sung các chất điều hòa

2
sinh trƣởng. Mặt khác, mỗi loài lan phù hợp với nồng độ phun khác nhau.Vì vậy
cần tiến hành các nghiên cứu một cách cụ thể.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan trên, cũng nhƣ góp phần phát
triển ngành trồng lan Đai Châu ở Việt Nam, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định nồng độ GA3 thích hợp cho sự sinh trƣởng, phát triển của cây
lan Đai Châu tại Gia Lâm, Hà Nội”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Đánh giá ảnh hƣởng của các nồng độ GA3 khác nhau đến sự sinh trƣởng,
phát triển và sự hình thành hoa của lan Đai Châu qua đó xác định đƣợc nồng độ
GA3 thích hợp cho sinh trƣởng, phát triển của lan Đai Châu.
2.2. Yêu cầu
Đánh giá đƣợc đặc điểm sinh trƣởng của lan Đai Châu khi phun GA3 ở
các nồng độ khác nhau tại Gia Lâm, Hà Nội.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học

Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan buổi đầu không rõ ràng lắm.
Nhƣng có lẽ ngƣời đầu tiên khảo sát về lan là Joanisde Loureiro - nhà truyền
giáo ngƣời Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan Việt Nam trong cuốn “ Flora de
cochinchinensis” (1789). Chỉ sau khi ngƣời Pháp đến Việt Nam mới có những
công trình đƣợc công bố là của A.Gnillaumin, tác giả đã mô tả 101 chi gồm 750
loài lan cho cả 3 nƣớc Đông Dƣơng trong bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” do
H. Lecomte chủ biên, xuất bản từ 1932 – 1934. Bên cạnh đó cũng có một số tác
giả Việt Nam nghiên cứu về lan nhƣ Phạm Hoàng Hộ chỉ ra ở Việt Nam có tới
755 loài lan (Cây cỏ Việt Nam- quyển III, 1999) [6].

4
1.1.2. Tình hình phân bố hoa lan trên thế giới
Họ lan là họ thực vật giàu loài nhất với 750 chi và 20000 - 25000 loài
(theo A.L.Takhtajan 1987) họ lan đã chiếm vị trí thứ hai - sau họ Cúc
Asteraceae trong ngành Thực vật hạt kín (Magnoliophyta = Angiospermae) và
là họ lớn nhất trong lớp Một lá mầm (Liliopsida = Monocotyledones). Chính vì
thế, hình thái, cấu tạo cũng nhƣ hệ thống phân loại họ này hết sức đa dạng và
phức tạp [8].
Và cũng vì số lƣợng loài lớn nên hoa lan phân bố ở khắp nơi trên trái đất.
Chúng phân bố từ 68 độ vĩ Bắc đến 56 độ vĩ Nam, nghĩa là gần cực Bắc từ Thuỵ
Điển , Alaska xuống đến các đảo cuối cùng của cực Nam ở Ostralia.
Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc
biệt Châu Mỹ và Đông Nam Á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng
phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các
vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dƣới 2000m so với
mặt nƣớc biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nƣớc
biển.
Chúng hoặc sống ở đất, nơi hốc vách đá, hoặc sống phụ, sống hoại
trên cây gỗ. Ở xứ lạnh, hoa lan sống ở đất thƣờng có các cụm hoa màu ít sặc sỡ,
sống chen lẫn với các đám cỏ ven rừng, trên các bãi hoang, hay trên các triền núi

Hay trong bài viết về họ phong lan nhà thực vật học ngƣời Nga Glakova
(1982) đã ca ngợi: “Tự nhiên đã hào phóng tặng cho họ phong lan một vẻ đẹp lạ
thƣờng và tính đa dạng của hoa đã làm sửng sốt con ngƣời từ những thời xa xƣa
cho đến ngày nay”.
Hoa lan sở dĩ đƣợc nhiều ngƣời yêu thích và ngợi khen vì vẻ đẹp duyên
dáng, với hàng trăm ngàn kiểu dáng khác nhau, màu sắc hoa tƣơi thắm và đa
dạng, mùi hƣơng thoang thoảng, ngọt ngào làm ngây ngất lòng ngƣời.
Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hƣơng thơm.Hoa lan
đối với ngƣời Trung Quốc hay đối với ngƣời Nhật đƣợc tƣợng trƣng cho tình

6
yêu và vẻ đẹp, hƣơng thơm tao nhã tƣợng trƣng cho một vẻ đẹp quý phái, thanh
lịch. Hoa lan còn tƣợng trƣng cho sự đông đủ của con cái hay chính là phúc của
gia đình.
Sự khác biệt giữa hoa lan với các loài cây có hoa khác đó chính là thời
gian hoa tàn. Nếu hoa lan đƣợc giữ trong điều kiện thích hợp thì hoa có thể giữ
nguyên hƣơng, nguyên sắc từ 2 tuần cho đến 2 tháng, có những loại đến 4 tháng.
Lan thƣờng sống trên các thân cây, cành cây khác nhƣng không phải là
loài ký sinh vì nó không hút chất dinh dƣỡng, không gây hại cho cây mà chỉ
mƣợn cây làm chỗ dựa, nhiều trƣờng hợp đem lại lợi ích cho cây mà chúng bám
lên.
Xét về mặt kinh tế, lợi nhuận từ vƣờn lan mang lại cao hơn nhiều lần các
loại cây trồng nông nghiệp khác. Theo thống kê của vụ kế hoạch thuộc Bộ NN &
PTNT nếu trồng lan cắt cành Dendrobium và Mokara thì 1 ha có thể cho doanh
thu 500 triệu - 1 tỷ đồng/ ha/năm. Hiện nay trên thế giới, một số nƣớc xuất khẩu
hoa lớn nhƣ Thái Lan, Đài Loan, Hà Lan, đang có xu hƣớng mở rộng diện tích
các trang trại trồng hoa lan, các dự án đầu tƣ cho ngành thƣơng mại hoa lan
cũng không ngừng gia tăng [4].
Ngoài ra lan còn đƣợc khai thác nhằm mục đích làm dƣợc liệu và hƣơng
liệu. Mộtsố chi đặc biệt có giá trị kinh tế nhƣ: chi lan Kiếm (Cymbidium) có 67

giới hạn, làm cho thân rất dài, cơ thể khó có khả năng duy trì đƣợc tƣ thế thẳng
đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để vƣơn cao, nếu không, nó đành phải bò
dài hay leo cuốn. Đôi khi thân của một số loài lan rất ngắn, bị che khuất bởi hệ
thống lá hay rễ mọc thành bụi dày.
Ở các loài lan sống phụ, có nhiều đoạn phình lớn, tạo thành củ giả (gỉa
hành). Đó là bộ phận dự trữ nƣớc và chất dinh dƣỡng để nuôi cây trong hoàn
cảnh khô hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thuôn

8
dài, xếp sát nhau hay rải rác, đều đặn (Bulbophylum) hay hình trụ xếp chồng
chất lên nhau thành một thân giả (Dendrobium).
 Lá lan
Hầu hết các loài lan đều là cây tự dƣỡng, do đó nó phát triển rất đầy đủ hệ
thống lá, lá mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn. Lá mọc đơn độc, hoặc xếp dày
đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả. Phiến lá trải rộng hay gấp
lại theo các gân vòng cung, những lá dƣới sát gốc thƣờng tiêu giảm đi chỉ còn
những bẹ không có phiến hay giảm hẳn thành các vẩy.
Về màu sắc, phiến lá thƣờng có màu xanh bóng, nhƣng đôi khi hai mặt lá
có màu khác nhau thƣờng mặt dƣới lá có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá
khảm thêm nhiều màu sắc sặc sỡ. Nhiều loài lan lại có lá màu hồng và nổi lên
các đƣờng vẽ trắng theo các gân rất đẹp.
 Hoa lan
Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn. Ta có thể gặp nhiều
loài mà mỗi mùa chỉ có một đoá hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ
đơm một bông, nhƣng đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp thành
chùm (đôi khi phân nhánh thành chuỳ) phân bố ở đỉnh thân hay nách lá.
Mặc dù muôn hình, muôn vẻ nhƣng nếu ta quan sát tổng quát hoa của bất
kỳ cây lan nào cũng đều thấy có một tổ chức đồng nhất của mẫu hoa 3 là một
kiểu hoa đặc trƣng của lớp một lá mầm, nhƣng đã biến đổi rất nhiều để hoa có
đối xứng qua một mặt phẳng. Bên ngoài có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh hoa

Bầu hoa lan có 3 ô gọi là 3 tâm bì hoặc bì đính noãn trung trụ (ở các loài
lan nguyên thuỷ) hoặc đính noãn bên ở các loài lan tiến hoá hơn. Trong bầu
chứa vô số các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn nằm trên 3 đƣờng, dọc theo chiều dài
của 3 mép tâm bì. Sau khi thụ phấn, thụ tinh các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát
triển thành hạt, trong khi đó bầu noãn sẽ to phát triển thành quả.
 Quả lan
Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đƣờng nứt dọc, có dạng từ
quả cải dài (Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa (ở đa số các loài
khác). Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía
gốc. Ở một số loài, quả chín nở theo 1- 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt
chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát.

10
 Hạt lan
Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti (do đó trƣớc đây gọi họ phong lan là họ vi tử ).
Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chƣa phân hoá, trên một mạng lƣới nhỏ, xốp, chứa
đầy không khí. Phải trải qua 2 - 18 tháng hạt mới chín. Phần lớn hạt thƣờng
chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm. Do đó hạt nhiều có thể
theo gió bay rất xa, nhƣng hạt nảy mầm thành cây lại rất hiếm. Chỉ ở trong
những khu rừng già ẩm ƣớt, vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy
mầm. Khối lƣợng toàn bộ hạt trong một quả chỉ bằng 1/10 đến 1/1000 miligam.
Trong đó không khí chiếm khoảng 76 - 96% thể tích của hạt. Rõ ràng hạt cây lan
hầu nhƣ không có khối lƣợng.
1.3.2. Đặc điểm thực vật học của lan Đai Châu
Trong chuyến viếng thăm Java vào khoảng cuối thập niên 1800, Carl
Blume một nhà thảo mộc học ngƣời Đức đã tìm thấy loài lan này. Thoạt tiên cây
lan đƣợc xếp vào loài Sacolabium và sau đó chuyển sang Rhynchostylis. Tên này
dùng theo tiếng La tinh gồm 2 chữ: Rhynchos = beak = mỏ và chữ stylos =
pillar = cột trụ để tả theo hình dáng của trụ hoa.
Rhynchostylis gigantea họ phụ Vandoideae, tôngVandae. Thƣờng đƣợc

vào ban đêm. Thoáng gió (trong rừng thƣờng sống ở gần ngọn những cây có vỏ
bị nứt chai) .
Nhiệt độ vào mùa hè ban ngày: 85 - 90°F hay 29 -32°C và phải có sự cách
biệt tối thiểu giữa ngày và đêm là 15°F hay 10°C hoa. Nhiệt độ mùa đông ban
ngày cần từ 68-73
o
F hay 20-23
o
C. Nhiệt độ ban đêm không đƣợc dƣới 60
o
F hay
16
o
C. Nếu không thỏa mãn những điều kiện về nhiệt độ trên thì cây hoa lan sẽ
không ra hoa hoặc hoa ngắn, nhỏ, không thơm.
Đai Châu là loại lan ƣa sáng, khoảng 60% ánh sáng sẽ làm cho lan phát
triển tốt nhất, lúc đó lá có màu hơi ngả vàng nhƣ màu mạ non. Nhƣng phải tránh

12
ánh sáng trực tiếp lúc 11-2h chiều vì dễ làm cây bị táp lá và cháy nắng. Tuy
nhiên, nếu cây lan đƣợc trồng trong điều kiện quá rợp, cây tăng trƣởng chậm và
yếu ớt, bộ rễ phát triển kém, cây khó ra hoa. Nhƣng sự ra hoa của lan Đai Châu
không phải do ánh sáng nhiều hay ít, nắng hay rợp, tất cả là do thời gian chiếu
của ánh sáng trong ngày. Vì thế cây lan Đai Châu chỉ nở hoa vào dịp tết âm lịch,
tức vào thời điểm trong năm có ngày ngắn đêm dài.
Đai Châu là loại lan chịu hạn khá tốt, nhƣng nó thích ẩm, ẩm độ càng
cao, rễ càng mọc nhanh và phát triển rất tốt, ẩm độ lý tƣởng 40 – 70%. Tuy
nhiên, cũng cần phải để cho độ ẩm xuống thấp và ít nhất một tuần một lần khô
rễ giữa hai lần tƣới để cây có sự phát triển rễ khỏe và ra nhiều rễ.Vào mùa hè
tƣới nƣớc 2-3 lần một ngày nếu trồng trên miếng gỗ. Nếu trồng trong chậu với

Lan Đai Châu có một thời kỳ nghỉ ngơi thƣờng vào mùa đông và rất quan
trọng. Nếu không tôn trọng lan sẽ không ra hoa hoặc sẽ chết [20], [24].
1.4. Tình hình sản xuất và phát triển phong lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất và xu hướng phát triển lan trên thế giới
Hiện nay, tình hình sản xuất lan trên thế giới đang phát triển một cách
mạnh mẽ và đã trở thành một nguồn lợi về kinh tế cho các nƣớc trồng và xuất
khẩu hoa lan. Diện tích trồng hoa lan trên thế giới ngày càng đƣợc mở rộng và
không ngừng tăng lên. Trƣớc đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan
rừng, nên nguy cơ tuyệt chủng là rất cao. Ngày nay, việc trồng lan đã dần
chuyển sang quy mô công nghiệp. Việc xuất khẩu lan đã đạt số lƣợng hàng trăm
ngàn chậu, hàng vạn cành lan trong một năm đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng.
Loddiges (1812) là ngƣời đầu tiên trên thế giới thiết lập vƣờn lan thƣơng
mại. Trong những năm gần đây cùng với các thành tựu khoa học kỹ thuật, và
những ứng dụng công nghệ sinh học đƣợc áp dụng rộng rãi trong sản xuất hoa
lan. Năm 1904, Noel Bernal đã sử dụng phƣơng pháp cộng sinh nấm để gây nảy
mầm cho hạt lan. Nhƣng đến năm 1922, phƣơng pháp gieo hạt trong phòng thí

14
nghiệm mà không cần nấm cộng sinh của Knudson thành công đã có sự chuyển
đổi rõ rệt.
Gần đây, Morel đã khám phá ra một phƣơng pháp mới và đã ứng dụng
thành công trong công tác nhân giống lan là phƣơng pháp nuôi cấy mô.
Ngày nay lan đã trở thành loại hàng hóa rất đƣợc ƣa chuộng ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Do đó một số nƣớc phát triển nhƣ: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thái
Lan, Trung Quốc, đã và đang ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào việc
nghiên cứu lai tạo ra các giống hoa lan mới, chất lƣợng hơn. Nhiều nƣớc đã trở
thành cƣờng quốc xuất khẩu hoa nhƣ: Thái Lan, Đài Loan Hiện nay Thái Lan
là nƣớc đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, đạt 110 triệu USD trong năm
2003 [14].
Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy mô sản xuất hoa lan thƣơng mại hoạt động

hóa kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của miền Nam có một tiềm năng lớn về
nuôi trồng và kinh doanh hoa lan.
Hiện nay, việc trồng hoa lan ở nƣớc ta chủ yếu ở quy mô hộ gia đình với
diện tích nhỏ lẻ. Chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nƣớc
ngoài trồng lan tại Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 50-60
ha trên một doanh nghiệp.
Thực tế, việc sản xuất hoa lan ở nƣớc ta chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu
dùng nội địa. Theo thống kê, hàng năm Việt Nam phải nhập lan từ các nƣớc
khác để đáp ứng nhu cầu thị trƣờng trong nƣớc. Trung bình mỗi năm tại thành
phố Hồ Chí Minh đã tiêu thụ khoảng trên một triệu cây lan.
Nói chung, vấn đề sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hoa lan ở nƣớc ta vẫn
đang ở mức tiềm tàng, trong khi đó sức cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới là rất
lớn. Khó khăn lớn nhất của ngành trồng lan Việt Nam là nhà nƣớc chƣa có chính
sách phát triển ngành lan, các chính sách thuế không rõ ràng. Những hoạt động
kinh doanh và xuất khẩu trong thời gian qua chỉ có ý nghĩa khởi động và hứa
hẹn sự phát triển trong tƣơng lai.

16
1.5. Tình hình nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1. Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan trên thế giới
1.5.1.1. Về đánh giá nguồn gen
Các nhà khoa học thuộc trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ thực vật thành phố
Thâm Quyến, Viện Nghiên cứu Thâm Quyến, đại học Thanh Hoa, Viện Nghiên
cứu gen Hoa Đại đã tuyên bố hoàn thành việc phác họa khung bản đồ gen hoa
lan [23].
Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích so sánh gen của 11 loài hoa lan
khác nhau và tạo ra đƣợc hệ thống hóa tƣơng đối hoàn chỉnh. Sau đó hoàn thành
việc phác họa khung bản đồ gen hoa lan, và các nhà khoa học sẽ tiếp tục hoàn
thiện bản đồ gen chi tiết.
Bản đồ gen giúp giải đáp đƣợc lịch sử về những bí ẩn của loài hoa này;

12 mồi Operon khác nhau. Kết quả đã nhận đƣợc tổng số 992 băng đa hình, từ
đó đã thiết lập đƣợc bảng hệ số tƣơng đồng di truyền và sơ đồ cây phát sinh
chủng loại về mối quan hệ di truyền của 17 giống lan Kiếm ở Việt Nam. Dựa
trên kết quả phân tích này, 17 giống lan Kiếm ở Việt Nam đƣợc chia làm 5
nhóm khác nhau dựa vào mức tƣơng đồng di truyền của chúng.
Đặng Văn Đông, Chu Thị Mỹ, Trần Duy Qúy (2009) [3] đã điều tra sự
phân bố của hoa lan Việt Nam và lƣu giữ, đánh giá một số giống lan quý tại Gia
Lâm - Hà Nội. Các tác giả đã kết luận: “Việt Nam đƣợc chia thành 6 vùng lan
chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên của
các loài lan này: phía Tây Bắc Bộ; phía Đông Bắc Bộ và trung tâm Bắc Trung
Bộ; Bắc Trung Bộ; các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam
Bộ”. Các tác giả đã thu thập đƣợc 1035 chậu gồm 50 loài thuộc 17 chi Phong
lan, Địa lan Việt Nam.

18
Hà Thị Thúy và cộng sự (2007) [16] đã nghiên cứu đa dạng di truyền ở
mức hình thái của tập đoàn lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) phục vụ công tác tạo
giống lan Hồ Điệp lai ở Việt Nam. Tác giả đã thu thập, nghiên cứu và đánh giá
đƣợc các đặc điểm hình thái và động thái ra hoa của 31 giống lan Hồ Điệp thuộc
chi Phalaenopsis ở Việt Nam và các giống nhập nội làm cơ sở cho việc phân
loại những giống này.
Phạm Thị Liên và cộng sự (2009) [10] đã nghiên cứu thu thập, đánh giá
và tuyển chọn một số giống phong lan Hoàng Thảo (Dendrobium) nhập nội tại
miền Bắc Việt Nam. Kết quả thu đƣợc là 6 giống lan Hoàng Thảo, trong đó có 3
giống có nguồn gốc tại Băng Kốc - Thái Lan, 2 giống tại Chiềng Mai và một
giống tại Chiềng Rai. Các giống đều có năng suất cao, hoa đẹp.
Theo Dƣơng Hoa Xô [22], Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ
Chí Minh đã thực hiện dự án “Sƣu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống
các giống hoa lan”, từ năm 2005 đến nay đã sƣu tập đƣợc hơn 285 giống hoa lan
thuộc 12 nhóm giống khác nhau nhƣ: Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis,…để

tỷ lệ 1:1. Chế độ bón phân tốt nhất cho cây vƣờn ƣơm là 5 lần N:P:K (30:10:10)
+ 1 lần N:P:K (20:20:20) + 1 lần dinh dƣỡng hữu cơ (sữa cá) + 1 lần vitamin
tổng hợp.
Hoàng Thị Loan (2006) khi nghiên cứu ảnh hƣởng của giá thể đến sinh
trƣởng của lan Đai Châu đã đi đến kết luận “Gía thể than hoa kết hợp với rong
biển thích hợp nhất cho bộ sinh trƣởng của lan Đai Châu nhập nội từ Thái Lan”
Lê Minh Nguyệt và cộng sự (2009) [12] đã nghiên cứu ảnh hƣởng của
môi trƣờng và chất điều hòa sinh trƣởng đến khả năng tái sinh và nhân nhanh
giống Hoàng lan thuộc chi lan Kiếm (Cymbidium). Các tác giả khẳng định: môi
trƣờng nhân nhanh bổ xung các chất điều hòa sinh trƣởng thuộc nhóm auxin và
cytokinin có tác dụng tốt tăng hệ số nhân và chất lƣợng chồi đối với hai giống
lan CD5 và CD9. Môi trƣờng cho hệ số nhân và chất lƣợng chồi cao nhất với

Trích đoạn Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trƣởng chiều Ảnh hƣởng của nồng độ GA3 khác nhau đến năng suất và chất lƣợng hoa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status