BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI TRẦN THỊ THU NGÂN
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÁC TỔ HỢP LÚA LAI HAI DÒNG
MỚI VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
MỘT SỐ DÒNG BỐ MẸ TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN QUANG
HÀ NỘI - 2012
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
i
LỜI CAM ĐOAN
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Lịch sử nghiên cứu và phát triển lúa lai. 4
2.2 Cơ chế giao phấn ở lúa. 6
2.3 Ưu thế lai ở lúa 7
2.4 Thành tựu về nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới và
Việt Nam 9
2.5 Xây dựng quy trình sản xuất hạt lai F1. 16
2.6 Chọn tạo những tổ hợp lai mới. 18
2.7 Phát triển lúa lai thương phẩm 21
2.8 Kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 23
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
PHỤ LỤC 107
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ghi chú
ƯTL Ưu thế lai
TGST Thời gian sinh trưởng
TGMS Bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ
PGMS Bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với quang chu kỳ
EGMS Bất dục đực di truyền nhân cảm ứng với môi trường
CMS Bất dục đực di truyền tế bào chất
WA Bất dục đực hoang dại
GA3 Axit gibberrelin
NSTT Năng suất thực thu
NSCT Năng suất cá thể
NSLT Năng suất lý thuyết
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
vi
DANH MỤC BẢNG
4.18 Động thái tăng trưởng số lá của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa 2011 76
4.19 Động thái tăng trưởng số nhánh của các dòng bố mẹ trong vụ
mùa 2011 78
4.20 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng bố mẹ trong điều kiện vụ
Mùa 2011 79
4.21 Sức sống vòi nhụy của các dòng bất dục trong vụ Mùa 2011 80
4.22 Thời gian từ gieo đến trỗ và đánh giá trùng khớp của các dòng bố mẹ 83
4.23 Ảnh hưởng của liều lượng phun GA3 đến chiều cao cây cuối
cùng của các dòng bố mẹ 85
4.24 Ảnh hưởng của liều lượng phun GA3 đến tỉ lệ thò vòi nhụy của
các dòng mẹ 86
4.25 Ảnh hưởng của liều lượng phun GA3 đến chiều dài cổ bông của
các dòng bố mẹ. 87
4.26 Ảnh hưởng của liều lượng phun GA3 đến chiều dài lóng dưới đốt
cổ bông của các dòng bố mẹ 90
4.27 Ảnh hưởng của liều lượng phun GA3 đến năng suất của các tổ
hợp lai. 91
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của một số tổ hợp lai F1 53
4.2 Động thái đẻ nhánh của các tổ hợp lai được tuyển chọn 57
4.3 Động thái ra lá của một số tổ hợp lai F1 được tuyển chọn 60
4.4 NSTT của một số tổ hợp lai F1 được tuyển chọn 68
sản xuất.
Mặt khác áp lực của quá trình tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu về
xuất khẩu gạo lúa gạo ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng, thì việc
sản xuất lúa gạo cần tập trung vào việc ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng các giống lúa là quan trọng nhất.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
2
Song thực tế khi trình độ sản xuất của người nông dân được nâng lên
thì năng suất lúa thuần gần như đã đạt ngưỡng, việc nghiên cứu khai thác sử
dụng ưu thế lai ở lúa được xem như là giải pháp tốt nhất để thúc đẩy việc
tăng sản lượng lúa những năm sắp tới. Năng suất lúa lai cao hơn 20 – 30% so
với lúa thuần. Chính vì vậy sử dụng ưu thế lai ở lúa là một chiến lược quan
trọng nhằm đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia.
Hiện nay, các viện nghiên cứu, các trường đại học đã và đang tập trung
vào việc chọn tạo các giống lúa lai mới cho thời gian sinh trưởng ngắn, năng
suất, chất lượng, có khả năng chống chịu sâu bệnh để đưa vào sản xuất. Một
số tổ hợp lai được chọn tạo trong nước được đưa vào sản xuất trên diện rộng
như Việt Lai 20, Việt lai 50, TH3-3, HYT100, HYT103, …
Tuy nhiên các tổ hợp lúa lai được gieo cấy rộng rãi trong nước chủ yếu
được nhập nội từ Trung Quốc như Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, D.Ưu 527, Bắc ưu
903, … với giá thành cao, năng suất không ổn định, chỉ phù hợp với điều kiện
vụ xuân, khả năng chống chịu kém đặc biệt với bệnh đạo ôn, bạc lá … và
điều kiện khí hậu bất thuận ở Việt Nam.
Vì vậy để giải quyết những vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài. “Nghiên cứu tuyển chọn các tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá
đặc điểm sinh trưởng phát triển một số dòng bố mẹ tại Gia Lâm – Hà Nội”
nhằm chọn tạo một số giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt,
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh để đưa vào sản xuất.
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Lịch sử nghiên cứu và phát triển lúa lai.
2.1.1. Quá trình nghiên cứu, ứng dụng và phát triển lúa lai.
J.W. Jones (1926) (nhà di truyền học người Mỹ) là người đầu tiên báo
cáo về sự xuất hiện ưu thế lai ở lúa. Tiếp sau đó nghiên cứu xác nhận sự xuất
hiện ưu thế lai ở các yếu tố cấu thành năng suất (Anonymous, 1977 [30]; Lin
và Yuan, 1985 [34]) về sự phát triển bộ rễ (Anonymous, 1977 [30]) về cường
độ quang hợp và hô hấp, diện tích lá (Lin và Yuan, 1985 [34])
Đề xuất sản xuất lúa lai thương phẩm là các nhà khoa học Ấn Độ
(Kadam 1937 [32]); Mỹ (Craigmiles 1966, Caranahan và cộng sự 1972 [34]),
Họ đã không thành công vì chưa tìm ra phương pháp sản xuất hạt lai.
Trung Quốc là nước nghiên cứu lúa lai muộn hơn so với các nước
khác. Năm 1964, Yuan L.P. đã phát hiện được cây lúa dại bất dục ở đảo Hải
Nam [49]. Năm 1973 các nhà khoa học tìm ra tìm ra nhiều dòng phục hồi như
IR661, IR24 … và đã có đủ 3 dòng để tạo ra những giống lúa lai đầu tiên là
Nam ưu số 2, Shan ưu số 2, Ủy ưu số 6… Năm 1974 các nhà khoa học Trung
Quốc đã giới thiệu những tổ hợp lai cho ưu thế lai cao. Năm 1975 quy trình
sản xuất hạt lai hệ 3 dòng được hoàn thiện. Năm 1976, Trung Quốc đã sản
xuất được hạt lai F1 để gieo cấy 140.000 ha [24]. Năm 1980 Trung Quốc đã
bắt đầu nghiên cứu lúa lai 2 dòng.
2.1.2. Quá trình nghiên cứu, phát triển lúa lai ba dòng.
Lúa lai “ba dòng” là hệ thống lúa lai sử dụng ba dòng: Dòng CMS (dòng
A), dòng duy trì (dòng B), dòng phục hồi (dòng R) để sản xuất hạt lai F1.
Hiện tượng bất dục đực tế bào chất ở lúa được Sampath S. và Mohathy
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
5
Từ Nongken 58S có rất nhiều dòng PGMS và TGMS mới được tạo ra
bằng việc lai giữa Nongken58S với các giống Japonica rồi chọn lọc ở thế hệ
phân ly. Ngoài ra các nhà khoa học Mỹ còn tìm được hai dòng PGMS khác là
dòng M201S và dòng Calrose76S. Theo Yuan L.P. và Xi Q.F. (1995) [52],
các dòng bất dục kiểu PGMS mẫn cảm mạnh với ánh sáng ở giai đoạn từ phân
hóa gié cấp 2 đến hình thành tế bào mẹ hạt phấn. Thời gian chiếu sáng tới hạn
gây hữu dục hạt phấn là ≤ 13 giờ 45 phút, cường độ ánh sáng ≥ 50 lux.
* Bất dục di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ (Theremo sensitive
Genic Male Sterile – TGMS)
Năm 1988,Yuan L.P. đã phát hiện ra dòng bất dục đực di truyền nhân
mẫn cảm với nhiệt độ đầu tiên tên Annong S-1 thu được từ quần thể đột biến
tự nhiên ở thế hệ con cháu của tổ hợp lai Chao 40B/285/6209 – 3 [49]. Năm
1989 Yang và cộng sự dùng phương pháp đột biến giống IR 50 thu được dòng
TGMS 5460S [49]. Năm 1991, Maruyama và các cộng sự bằng phương pháp
đột biến phóng xạ tạo ra dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) gọi
tên là Norin PL – 12. Năm 1993 Mao C.X. [36] cho thấy: Nếu nhiệt độ trung
bình ngày đêm > 27
0
C trong 4 ngày liên tục ở thời kỳ phân chia giảm nhiễm tế
bào mẹ hạt phấn, thì hạt phấn sẽ bị thoái hóa hoàn toàn. Năm 2000, theo Nguyễn
Thị Trâm [24] dòng TGMS bất dục khi gặp nhiệt độ > 27
0
C vào thời gian từ 8 -
12 ngày trước khi lúa trỗ. Dòng TGMS hữu dục khi nhiệt độ < 24
0
C.
2.2. Cơ chế giao phấn ở lúa.
Theo nghiên cứu thì lúa có khả năng giao phấn tự nhiên rất thấp biến
động từ 0 - 44% ở những cây bất dục [34]. Trong sản xuất hạt giống lai thì
khả năng giao phấn được quyết định bởi đặc điểm nở hoa của dòng bố mẹ và
2.3. Ưu thế lai ở lúa
2.3.1. Khái niệm
Ưu thế lai (ƯTL) là một thuật ngữ chỉ hiện tượng con lai F
1
thu được
bằng cách lai giữa bố mẹ khác nhau về mặt di truyền, tỏ ra hơn hẳn bố mẹ về
các tính trạng hình thái, sức sinh trưởng, khả năng chống chịu với điều kiện
bất thường, khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng và các đặc tính khác
nữa. Việc sử dụng ƯTL trong sản xuất thương mại bằng cách phát triển và
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
8
trồng các con lai F
1
nhằm tăng thu nhập và hiệu quả kinh tế gọi là khai thác
ƯTL (Trần Duy Quý, 2000)[18].
Ưu thế lai được khai thác thành công ở lúa nhờ sử dụng vật liệu bất dục
đực làm mẹ trong sản xuất hạt lai. Thành tựu của lúa lai được người Trung
Quốc coi là cuộc cách mạng xanh lần thứ hai trong nông nghiệp. Lúa lai đã
làm tăng đáng kể tổng sản lượng lương thực của Trung quốc nói riêng và thế
giới nói chung. Ở Việt Nam những năm gần đây lúa lai phát triển khá mạnh,
năng suất lúa lai tăng từ 20 - 30% so với các giống lúa thuần [52].
2.3.2. Đánh giá ưu thế lai
Ưu thế lai ở cây ngũ cốc thường biểu hiện ở các tính trạng số lượng
như năng suất hạt, khối lượng hạt, chiều cao cây, số hạt trên bông vv Do
vậy, mức độ của ƯTL có thể đánh giá được bằng những thông số nhất định.
Ba công thức sau đây thường được dùng để đánh giá lúa lai:
- Ưu thế lai của trung bình bố mẹ hay ưu thế lai cao hơn giá trị trung
bình của bố mẹ (MP-mid parents):
9
2.4. Thành tựu về nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Nghiên cứu và ứng dụng ƯTL ở cây lúa trên thế giới
Ưu thế lai ở lúa đã được Jones J.W. (nhà di truyền học người Mỹ)
thông báo vào năm 1926 những cây lai F1 có khả năng đẻ nhánh và năng suất
hạt lai cao hơn so với dạng hình cây bố mẹ. Tiếp sau đó, có nhiều công trình
nghiên cứu xác nhận sự xuất hiện ưu thế lai về năng suất, các yếu tố cấu thành
năng suất (Anonymous, 1977; Li, 1977; Lin và Yuan, 1980); về tích luỹ chất
khô (Rao, 1965; Jenning, 1967; Kim, 1985); về sự phát triển của bộ rễ
(Anonymous, 1974); về cường độ quang hợp, cường độ hô hấp, diện tích lá
(Lin và Yuan, 1980; Deng, 1980, MC Donal và cộng sự, 1971; Wu và cộng
sự, 1980) (trích theo : Lê Duy Thành, 2001; Nguyễn Thị Trâm, 2002; Nguyễn
Văn Hoan,1999) [23]; [25] ; [10]. Tuy nhiên trong một thời gian dài ưu thế lai
ở lúa vẫn chưa được sử dụng rộng rãi như ở những cây trồng khác bởi vì lúa
là cây tự thụ phấn rất nghiêm ngặt, việc sản xuất hạt lai rất khó thực hiện.
Sau Jone, ưu thế lai ở lúa cũng được các nhà khoa học Ấn Độ,
Malaixia, Pakixtan và Nhật Bản quan tâm nghiên cứu. Khâu đột phá trong
nghiên cứu ưu thế lai ở lúa là tạo ra dòng bất dục đực tế bào chất (CMS) ở
Nhật Bản năm 1958, ở Mỹ năm 1969 và IRRI năm 1972 nhưng việc ứng dụng
ưu thế lai ở lúa vào sản xuất vẫn chưa có kết quả vì sản xuất hạt lai gặp nhiều
khó khăn. Ở lúa, tỷ lệ do giao phấn thường ít hơn 1%, thực tế này đã gây khó
khăn cho việc ứng dụng ưu thế lai ở lúa, đặc biệt là khâu sản xuất hạt lai
(Nguyễn Thị Trâm, 2002) [25]. Các nhà khoa học của nhiều nước như Mỹ, Ấn
Độ, Nhật Bản, đã nghiên cứu để tìm ra phương pháp sản xuất hạt lai từ năm
1935 như: Ramiah, 1935; Idsumi, 1936; Kadam et al,1937; Capinpin and
Singh, 1938; Ramiah and Ramaswamy, 1941; Brown, 1953; Oka, 1957; Sen
and Mitra, 1958; Richharia, 1962; Stansel and Craigmiles, 1966; Shinjyo and
Omura, 1966; Athwal và Virmani, 1972. Song họ vẫn chưa tìm được giải
pháp hợp lý. (Nguyễn Công Tạn, 2002) [21].
năm gần đây càng có nhiều dòng bố mẹ được chọn tạo ở nhiều cơ quan
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
11
nghiên cứu nông nghiệp như: Mian 2A, D702A, D62A, Bức Khôi 838, Thục
khôi 527, Miên khôi 725, …
Theo Ma Q.H. và Yuan L.P, 2003: 50% diện tích trồng lúa lai đã góp
60% sản lượng lúa của Trung Quốc, trong khi 50% diện tích lúa thuần chỉ
đóng góp 40% sản lượng. Trồng lúa lai làm tăng sản lượng của Trung Quốc
mỗi năm là 22,5 triệu tấn, tạo điều kiện để Trung Quốc giảm 6 triệu ha trồng
lúa mỗi năm, hiện nay chỉ còn 27 triệu ha lúa (Virmani, 2003) [44].
Các ngành nông nghiệp, dịch vụ phát triển mạnh cạnh tranh về lợi
nhuận với ngành trồng lúa của Trung Quốc, trong nông nghiệp, diện tích lúa
chất lượng cao gia tăng dẫn đến sản lượng lương thực và năng suất lúa bình
quân giảm mạnh từ 1999, do vậy Trung Quốc đã tập trung vào việc tăng sản
lượng, năng suất và chất lượng thông qua phát triển lúa lai năng suất siêu cao
chất lượng tốt.
Năm 1991, các nhà khoa học Nhật Bản (Maryama K. và cộng sự, 1991)
đã áp dụng phương pháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra được dòng bất dục
đực mẫn cảm nhiệt độ TGMS.
Chương trình tạo giống “siêu lúa lai” gồm ba giai đoạn, có sự tham gia
của 20 cơ quan nghiên cứu nông nghiệp từ 1996 - 2000, giai đoạn 1 đã tạo siêu
lúa lai đạt năng suất đạt 10,5 tấn/ha. Giai đoạn hai 2001 - 2005 tạo ra siêu lúa
lai năng suất đạt 12 tấn/ha, ở diện tích thí nghiệm các giống siêu lúa lai đạt tới
19,5 tấn/ha. Định hướng giai đoạn ba 2006 - 2015 đưa năng suất siêu lúa lai lên
13,5 tấn/ha (Yuan L.P., 2008) [54].
Chương trình lai xa giữa các loài phụ Indica/Japonica bắt đầu từ năm
1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng mở ra tiềm năng năng
suất cao cho các giống lúa lai hai dòng, năng suất của các tổ hợp lai xa lên tới
13
2.4.2. Những thành tựu trong nghiên cứu và phát triển lúa lai ở Việt Nam
2.4.2.1. Quá trình phát triển lúa lai ở Việt Nam
Theo Dương Thành Tài, sản xuất lúa lai thương phẩm ở Việt Nam đã
tăng nhanh chóng về diện tích do năng suất lúa lai cao và ổn định hơn lúa
thuần. Năm 1990, Việt Nam đã cấy thử lúa lai ở một số xã vùng biên giới tiếp
giáp Trung Quốc, diện tích này được nhanh chóng mở rộng và đạt 600.000 ha
chỉ trong vòng 15 năm. Với sự quan tâm đầu tư của nhà nước qua các chương
trình khuyến nông đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ 2 sau Trung Quốc về sử
dụng và sản xuất hạt lai.
Diện tích lúa lai ngày càng được mở rộng cả trong vụ Xuân và vụ
Mùa. Đến nay lúa lai đã phát triển trên 39 tỉnh thành phố không chỉ ở Đồng
bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc mà còn mở rộng ra các tỉnh
Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Riêng các tỉnh miền Nam lúa lai được
sử dụng ít do tập quán gieo thẳng yêu cầu lượng hạt giống nhiều nên không
phù hợp với điều kiện của người nông dân. Năng suất lúa lai trong những năm
qua tương đối ốn định và đạt 55- 65 tạ/ha, cá biệt có những nơi đạt trên 90
tạ/ha và tăng hơn 1,5 - 2 tấn/ha so với lúa thuần [12].
Sau nhiều năm phát triển, năm 2009 diện tích lúa lai của Việt Nam đã
đạt khoảng trên 700.000 ha (vụ Xuân trên 400.000ha, vụ Mùa trên 300.000 ha)
với năng suất bình quân đạt 6,3 tấn /ha, vượt so với lúa thuần khoảng 1,0 - 1,5
tấn/ha; sản lượng thóc đạt khoảng 4.410.000 tấn thóc, mỗi năm tăng gần 1 triệu
tấn thóc từ lúa lai. Lúa lai góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia, đặc biệt đối với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc.
Cơ cấu giống lúa lai hiện nay đã thay đổi từ chỗ phổ biến là các giống
năng suất cao, chất lượng gạo trung bình đã chuyển dần sang gieo cấy các
giống năng suất khá cao, chất lượng gạo ngon, ngắn ngày để tăng hiệu quả
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
1.099,869
195,260
17,8
Miền núi phía Bắc
713,088
200,766
28,2
643,263
209,305
32,5
Bắc Trung bộ 694,293
207,220
29,8
657,592
181,992
lúa lai hệ hai dòng. Trong số các dòng chọn tạo trong nước, 20 dòng có thể sử
dụng vào việc tạo ra các tổ hợp lai có triển vọng : T1s-96, T24s T25s,
T26s,T27s, T29s, 103s (Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội), VN01s,
TGMS- VN1, TGMS-VN5, TGMS- VN7 (Viện di truyền nông nghiệp - Viện
khoa học Nông Nghiệp Việt Nam) và các dòng 7s, CN6s (Viện cây lương
thực và cây thực phẩm- Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đã được
chọn và nhân thuần với khối lượng lớn để cung cấp cho sản xuất.
Lần đầu tiên Trung Tâm Nghiên cứu phát triển lúa lai đã nhân được 10
tấn giống BoA 87 và 2 tấn Trắc 64 đã được nhân trong nước cung cấp cho tổ
hợp lai Bắc ưu 64 trong năm 1998 - 1999.
Đến nay, những đơn vị như : Trung tâm giống Vụ Bản Nam Định,
Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương, Công ty vật tư nông nghiệp
Hải Phòng, Công ty giống cây trồng miền Nam, Trung tâm giống cây trồng
Thanh Hóa có đủ năng lực chọn thuần và nhân lượng lớn dòng mẹ BoA phục
vụ cho sản xuất hạt lai các tổ hợp hệ bắc ưu trong nước.
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai đã chọn thuần và duy trì
dòng AMS20A (IR58025A) cung cấp hạt mẹ đủ tiêu chuẩn chất lượng cho
sản xuất hạt lai của các tổ hợp HYT57, HYT83, HYT100, HY92. Diện tích
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………
16
sản xuất hạt lai hàng năm của các tổ hợp trên đạt khoảng 100 ha/năm.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã chọn thuần và nhân dòng siêu
nguyên chủng 103S và T1S-96 của hai tổ hợp lúa lai hai dòng VL20 và TH3-
3 diện tích sản xuất hạt lai đạt 200-300 ha/năm.
Riêng dòng mẹ II-32A không ổn định tính bất dục trong điều kiện của
Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng 20 tấn giống nguyên chủng II-32A được nhân
bởi Trung tâm nghiên cứu phát triển lúa lai, con lai F1 được sản xuất từ dòng
mẹ trên đạt độ thuần 98-99 %. Những dòng vật liệu II-32A thích hợp hơn với