KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ VÀ GIÁ THỂ HỮU CƠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA LAN DENDROBIUM TRỒNG TẠI THỦ ĐỨC- TP.HỒ CHÍ MINH - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ
VÀ GIÁ THỂ HỮU CƠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LAN DENDROBIUM TRỒNG TẠI
THỦ ĐỨC- TP.HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ HÀ
Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2005-2009
Tháng 08/2010
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ
VÀ GIÁ THỂ HỮU CƠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA LAN DENDROIUM TRỒNG TẠI
THỦ ĐỨC- TP.HỒ CHÍ MINH
Tác giả
NGUYỄN THỊ HÀ
Khóa luận được đệ trình để hoàn thành yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành
Nông Học
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS HUỲNH THANH HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 08/2010
2
LỜI CẢM ƠN
Con kính thành biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục và suốt đời tận tụy vì con

Trang tựa
Lời cảm ơn
Tóm tắt
Mục lục
Danh sách các chữ viết tắt
Danh sách các hình
Danh sách các bảng
Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
1.2.2 Yêu cầu
1.3 Giới hạn đề tài
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử nuôi trồng hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Lịch sử nuôi trồng hoa lan trên thế giới
2.1.2 Lịch sử nuôi trồng hoa lan ở Việt Nam
2.2 Sơ lược về hoa lan
2.2.1 Phân loại
2.2.2 Nguồn gốc và phân bố
2.2.3 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.4 Giá trị kinh tế của hoa lan
2.2.5 Các thách thức trong việc phát triển ngành hoa lan ở Việt Nam
2.3 Giới thiệu về cây lan Dendrobium
2.3.1 Phân loại
2.3.2 Nguồn gốc và sự đa dạng
2.3.3 Đặc điểm sinh học của lan Dendrobium
5
2.3.4 Kỹ thuật trồng lan Dendrobium
2.3.5 Chăm sóc

4.1.1 Hàm lượng dinh dưỡng của hai loại giá thể hữu cơ trước thí nghiệm
4.1.2 Ẩm độ của giá thể trong thời gian thí nghiệm
4.2 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển của lan
Dendrobium
4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể đến chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều
cao
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể đến số lá và tốc độ tăng trưởng số lá
4.2.3 Ảnh hưởng của giá thể và phân bón tới số giả hành và tốc độ tăng trưởng giả hành.
4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể tới số chồi mới của lan Dendrobium
4.2.5 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể tới động thái tăng trưởng chiều dài tán lá
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón và giá thể tới động thái tăng trưởng chiều rộng tán lá
4.3 Đánh giá hàm lượng dinh dưỡng của giá thể hữu cơ sau thí nghiệm
4.4 Tính chi phí vật liệu và giá thể cho một chậu trồng
4.5 Tình hình sâu bệnh hại
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Đề nghị
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hình ảnh thí nghiệm
Phụ lục 2: Đồ thị
Phụ lục 3: Thống kê
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
7
D: Dớn
DT: Đầu trâu
NST: Ngày sau trồng
NT: Nghiệm thức
PT: Phân trùn
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH CÁC HÌNH

hương thơm của loài hoa này. Những loài lan được ghi nhận sớm là Dendrobium
monilifor và Bletilla atriata.
Theo tài liệu Breichaeder thì thời vua Thần Nông (2800 năm trước Công Nguyên)
lan rừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh.
Trong quyển thảo dược và phương pháp dưỡng sinh của HaoSiang thời nhà Tống,
(Trung Quốc năm 960-1279) đã trình bày rõ công dụng chữa bệnh của nhiều loại lan
thuộc giống Dendrobium.
Vào triều đại nhà Minh (năm 1363-1644) hoa lan đã được nhiều nhà họa sĩ nổi
tiếng của Trung Quốc lúc bấy giờ vẽ vào tranh tạo nên những tác phẩm nghệ thuật phục
vụ cho việc trang trí.
Năm 1728, Matsuka (Nhật Bản) đã viết lên những kiến thức ban đầu về kinh
nghiệm trồng và chăm sóc các loại lan.
Mãi đến thế kỷ 20, người Anh mới đến Singapore mở đầu cho một giai đoạn mới
và lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ nuôi trồng hoa lan.
Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia đã bắt đầu phát triển nuôi trồng hoa lan với quy
mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu. Các loài lan rừng, lan lai, lan cắt cành của Thái
Lan đươc xuất khẩu qua nhiều nước trên thế giới.
Châu Âu
Hoa lan cũng được biết đến từ trước Công Nguyên, Châu Âu cũng là nơi những
loại lan đã được cấy trồng từ thời văn minh cổ Địa Trung Hải. Theo Phrastus là người đầu
tiên sử dụng từ Hy Lạp (Orchis) để chỉ nhóm thảo mộc đặc biệt này.
11
Các thế kỉ XVI, XVII, XVIII người Châu Âu đặc biệt là người Anh đã đi khắp thế
giới nghiên cứu, sưu tập cây cỏ. Trong thời kỳ này nhiều loại lan nhiệt đới đã được đưa về
Anh.
Năm 1974, ở Anh người ta đã biết được 15 loài lan nhiệt đới. Đến năm 1812
Loddiges đã thiết lập vườn lan thương mại đầu tiên trên thế giới.
Năm 1836, John Lindely dùng từ Orchid dịch danh từ chung cho các loài lan.
Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật gieo trồng hoa lan từ hạt bằng nhiều nấm cộng sinh có từ
cây lan mẹ bắt đầu mở ra một giai đoạn mới đối với nghề nuôi trồng lan.

Lớp: Monocotyledonae (Đơn tử diệp)
Bộ: Orchidales
Họ: Orchidacea
2.2.2 Nguồn gốc và phân bố
Họ phong lan là họ lớn nhất trong lớp một lá mầm, phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560
vĩ Nam, tức là từ gần cực Bắc như Thụy Điển, Alaska xuống tận các đảo cuối cùng ở cực
Nam của Australia, tập trung chủ yếu ở hai vùng nhiệt đối là châu Mỹ và các nước Đông
Nam Á với 250 chi và 6800 loài. Đến nay người ta biết được 750 chi với khoảng 25000
loài nhỏ trong tự nhiên và đã bổ sung thêm vào danh sách 75000 loài lan thông qua quá
trình chọn lọc và lai tạo ( Saprorhx – Teahultum, 1953; Camphell, 1964).
Mỗi loài lan có một cách phát triển và phân bố rất riêng biệt cho kiểu dáng và kích
cỡ khác nhau rất nhiều, đặc trưng cho từng loài. Sự khác biệt đó không chỉ vì xuất sứ từ
các lục địa khác nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lí vài kilomet vuông.
Các giống lan được trồng phổ biến trên thế giới: Cattaleya (Cát lan hoặc Cát lệ
lan), Dendrobium (Đăng lan), Phalaenopsis (Hồ điệp), Oncidium (Vũ nữ), Vanda (Vân
lan), Arachnis (Lan Bò cạp), Cymbidium (Địa lan), Rhynchostylis, Paphiopedilum (Lan
hài).
2.2.3 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới
Thị trường lan trên thế giới sôi động cả về mặt hàng lan cắt cành lẫn lan trồng
trong chậu. Sản xuất lan tập trung chủ yếu ở các nước như Thái Lan, Đài Loan, Mỹ và
13
hiện nay có rất nhiều quốc gia cũng đang đầu tư phát triển ngành sản xuất lan như Trung
Quốc, Singapore, Indonesia.
Thái Lan: có ngành công nghiệp hoa lan rất phát triển nhờ tiếp thu thành tựu công
nghệ sinh học thế giới, sự tiến bộ trong cải tiến quy trình và luôn tạo ra các sản phẩm mới
lạ chủ yếu là do thành quả của việc nghiên cứu đa ngành, do đó ngành công nghệ sinh học
vẫn sẽ tiếp tục là yếu tố chính trong sự phát triển công nghệ hoa lan Thái Lan. Thị trường
của Thái Lan rất rộng, sản phẩm của Thái Lan có mặt ở Châu Mỹ. Nhật Bản là nước nhập
khẩu hoa lan cắt cành số một thế giới, kế tiếp là Ý, Pháp, Đức, Mỹ.

tháng 12/2006. Thị trường nhâp khẩu lan cắt cành chính của Việt Nam trong thời gian qua
là Thái Lan với gần 100% lượng lan cắt cành.
Theo thống kê, hiện nhu cầu tiêu thụ hoa lan của Việt Nam là khá cao. Chỉ tính
riêng tại TP.Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh thu từ hoa lan và cây cảnh mới chỉ đạt 200-
300 tỷ đồng, nhưng chỉ trong quý I năm 2006, con số này đã tăng lên mức 400 tỷ đồng.
Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây cảnh cũng tăng từ 264 cơ sở năm 2003 lên
trên 1000 cơ sở, với lượng phong lan tiêu thụ trung bình mỗi năm lên tới 1 triệu cây.
Tình hình sản xuất phong lan hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng. Qua khảo sát, hiện chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước ngoài
trồng phong lan tại Đà Lạt, TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai với diện tích khoảng 50-60
ha/doanh nghiệp. Một vài địa phương khác cũng tiến hành trồng phong lan nhưng mới
dừng ở quy mô gia đình, trên diện tích từ vài m2 đến vài nghìn m2, cá biệt có vài hộ trồng
trên 1-2 ha, chưa có các vùng quy hoạch trồng lan tập trung ứng dụng công nghệ hiện đại.
Hiện nay cũng có vài công ty tư nhân đang đầu tư trong lĩnh vực cấy mô, lai tạo
giống phong lan Dendrobium, Mokara hay Oncidium để tạo ra nguồn giống riêng của
Việt Nam mặc dù hướng nghiên cứu gene hoa lan ở Việt Nam chưa được chú ý đến. Tuy
nhiên, nếu việc lai tạo các giống hoa lan thành công thì đây là bước khởi đầu cho công
nghiệp hoa lan Việt Nam và cần được sự hỗ trợ của nhiều ngành khoa học đặc biệt là
công nghệ gene trong nông nghiệp.
15
Vai trò của hoa lan và hoa cắt cành ở Việt Nam mới chỉ trở nên quan trọng trong
những năm gần đây, nhưng các qui trình công nghệ tiên tiến áp dụng trong lĩnh vực hoa
lan chưa được chọn lọc và nghiên cứu đầy đủ trong điều kiện sinh thái của Việt Nam. Hầu
hết là học tập và mô phỏng theo cách trồng của Thái Lan ở quy mô cá thể với diện tích
chưa đủ lớn để tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong tập quán trồng hoa của nông dân Việt
Nam, trong đó vấn để sâu bệnh hại là yếu tố quyết định cho sản xuất lan công nghiệp.
Hoa lan và các loại hoa cắt cành khác đang được phân phối trên thị trường trong nước qua
các kênh bán sỉ tại các chợ đầu mối hoa như chợ Hồ Thị Kỷ, Q.10. Các cửa hàng kinh
doanh mua trực tiếp từ các vườn hoặc thông qua các cơ sở tư nhân thu gom từ các vườn
lan.

- Hệ thống thông tin, tiếp thị hầu như chưa có nên rất khó khăn trong việc hoạch
định sản xuất theo nhu cầu thị trường.
- Công nghiệp hoa lan chưa được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền nên
chưa có những biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy ngành hoa lan phát triển.
2.3 Giới thiệu về cây lan Dendrobium
2.3.1 Phân loại
Ngành hạt kín: Magnoliophyta
Lớp một lá mầm: Monocotyledones
Bộ lan: Orchidales
Họ lan: Orchidaceae
Giống: Dendrobium
2.3.2 Nguồn gốc và sự đa dạng
2.3.2.1 Nguồn gốc
Dendrobium bắt nguồn từ tiếng Latinh, “ Dendro” ngĩa là cây, còn chữ “ Bios”
nghĩa là sự sống. Do đó Dendrobium được hiểu là cây lan sống ở trên cây (epiphytic) hay
phong lan.
17
Giống lan Dendrobium được Swart đặt tên vào năm 1799, là giống lan có hơn
1600 loài nguyên thủy, tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Châu Á và Châu Úc. Đây
là giống lan vô cùng phong phú về hình dạng cây, dạng hoa và điều kiện sống.
Trước đây người ta nghĩ rằng lan được biết đến đầu tiên ở Châu Âu nhưng thực ra
lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông khoảng từ năm 551- 479 trước Công Nguyên.
Loài lan này xuất xứ từ Ấn Độ sang đến Châu Á tới quần đảo Tahiti, trên từ Hàn Quốc,
Nhật Bản xuống đến Châu Úc. Lan Dedrobium tập trung nhiều nhất ở khu vực Đông Nam
Á.
2.3.2.2 Sự đa dạng của Dendrobium
Do quá đa dạng nên Dendrobium tập trung thành 2 dạng chính: dạng đứng
(Dendrobium Phalaenopsis) và dạng thòng ( Dendrobium Nobile).
Dendrobium được chia ra thành nhiều nhóm:
- Nhóm thứ nhất có đặc điểm là lá xanh quanh năm và hoa thì thường mọc ở gần

Lan Dendrobium thường được hình thành từ căn hành. Ở các loài đơn thân thì rễ
mọc thẳng từ thân và thường xen kẽ với lá. Rễ Dendrobium có hình trụ, có nhánh bậc
một, bậc hai, bậc ba hoặc không và thường rất dài. Đặc tính chính của đa số các loài lan là
sự hiện diện một lớp mô xốp gọi là mạt, bọc chung quanh rễ thật với vai trò trữ nước và
nuôi cây. Ngoài ra nó còn ngăn chặn ánh sáng mặt trời gay gắt.
Chóp rễ của các giống lan thường có màu xanh lá cây. Ở phần này các sắc lạp
không bị màng bao xốp ngăn chặn. trái lại ở một vài loài ít lá, phần quang hợp được tiến
hành trong toàn bộ cấu trúc rễ.
b. Thân
Thân lan còn gọi là thân vảy giả, có người gọi là thân củ giả, ngọn lau. Thân vảy
giả có nhiều hình dáng khác nhau tùy theo giống lan như hình tròn, hình cầu dẹp, hình
trứng, hình bầu dục. Thân vảy giả cũng là một đặc trưng để phân biệt các chủng loại lan.
Trên thân vảy giả có đốt. trên mối đốt mọc một nhánh lá hoặc lá bao. Thân vảy giả là cơ
quan giữ nước và chất dinh dưỡng, mầm hoa và mầm lá đều mọc từ phần gốc của bộ phận
thân.
19
Dendrobium thuộc nhóm đa thân. Giả hành là một bộ phận đặc biệt của cây hoa
lan. Tuy là thân nhưng giả hành lại chứa diệp lục tố, dự trữ nước và chất dinh dưỡng, đây
là bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây.
c. Lá
Lá lan là cơ quan dinh dưỡng của hoa lan, là “ xưởng” chế tạo chất dinh dưỡng
bằng quang hợp. Những chủng loại lan khác nhau, hình dáng của lá cũng có dạng khác
nhau như: lá có dạng hình giọt nước, hình mũi mác, hình tim, hình xoang, hình tam giác;
phiến lá dài hoặc ngắn, rộng hoặc hẹp; đầu lá nhọn hay trònhay chẻ ra dạng đuôi chim én,
môi âm dương; mặt lá bằng phẳng hay có đường gân; lá mỏng hay dày, có bóng hay
không, hai mặt lá có hai màu sắc khác nhau: mặt trên xanh bóng, mặt dưới có màu sẫm;
mép lá có răng cưa hay không; khớp cuống lá có hiện rõ không. Đây là những điểm đặc
trưng để phân loại các loại lan khác nhau.
Ở lan Dendrobium lá thường có dạng mũi mác hay gần giống hình elip, lá dày, hơi
dẻo dai. Mỗi giả hành thường có từ 6-13 lá.

thường theo gió phát tán đi xa, chỉ hạt nào gặp được môi trường sống phù hợp hoặc cộng
sinh thích hợp thì mới nảy mầm và phát triển thành cây con.
2.3.3.2 Đặc điểm sinh thái của lan Dendrobium
a. Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng rất nhiều đến sự tăng trưởng của lan Dendrobium. Vào mùa hè
nóng nực cây phát triển nhanh hơn cho nên cần nhiều độ ẩm và nước. Phần lớn các cây
này thích hợp với nhiệt độ ban đêm vào khoảng 50-60
0
F (10-16
0
C) và ban ngày vào
khoảng 70-90
0
F (21-32
0
C). Nếu trời nóng hơn nhiệt độ ở trên chúng ta nên tưới cây
thường xuyên hơn, cây sẽ không bị tình trạng căng thẳng (stress) hay nóng cháy. Vì đa
dạng về chủng loại nên mỗi loài lan Dendrobium cần một nhiệt độ nhất định.
Đối với lan Dendrobium ưa lạnh, chúng sẽ sinh trưởng phát triển tốt nhất ở nhiệt
độ lý tưởng là 15
0
C, những giống này được lấy ở vùng cao nguyên của Việt Nam và Miến
Điện trên độ cao 1000m như các loài Vảy Cá (Dendrobium Linlleyi), Thủy Tiên tím
(Dendrobium Amabile), Long Nhãn Kim Điệp (Dendrobium Fimbriatum). Các loài này
21
nếu được trồng ở nhiệt độ cao hơn hoặc bằng 25
0
C thì cây vẫn sống nhưng phát triển yếu
hơn và hiếm bao giờ ra hoa.
Đối với nhóm Dendrobium ưa nóng, gồm đa số các giống Dendrobium rừng của

trong không khí. Chính ẩm độ quyết định sự xuất hiện của các loài phong lan. Vì thế độ
ẩm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây lan. Độ ẩm thích hợp giúp cho
cây được phát triển nhanh hơn, hoa cũng tươi tốt và lâu tàn.
Dendrobium cũng như đa số các giống lan khác chỉ phát triển tốt trong điều kiện
không khí ẩm và thoáng, vào ban ngày cây cần độ ẩm khoảng từ 40-60%, vào ban đêm độ
ẩm thích hợp từ 60-90%, vì vậy cần phun nước để đảm bảo ẩm độ thích hợp cho lan sinh
trưởng và phát triển, phun sương nước khoảng 2 lần mỗi ngày nếu trời nắng gắt thì phun 3
lần.
22
Độ ẩm sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cây qua các giai đoạn hô hấp, quang
hợp và biến dưỡng. Cấu tạo giá thể quá ẩm và úng là điều kiện bất lợi cho sự phát triển
của lan Dendrobium vì có thể toàn bộ rễ bị thối và biều hiện là các cây con mọc từ phần
ngọn của thân ( keiki). Đối với lan Dendrobium, vì thuộc nhóm cây ưa sáng và nóng đòi
hỏi ẩm độ không khí cao nên phải đảm bảo độ ẩm của giá thể khoảng 70% là tốt. Với độ
ẩm cao, lá cây và rễ cây có thể hút hơi nước trong không khí khi cần thiết.
c. Ánh sáng
Cũng như nhiệt độ và độ ẩm, ánh sáng là yếu tố quan trọng rất cần thiết đến sự
sinh trưởng và phát triển của cây lan. Quá trình quang hợp và hô hấp giúp cây lan tạo
được chất dinh dưỡng, ánh sáng còn quyết định cho sự ra hoa và lá. Nếu thiếu ánh sáng
cây sẽ mềm yếu và chậm phát triển, không những thế mà có thể còn làm cho cây không ra
hoa được. Nhưng nếu quá nhiều ánh sáng sẽ làm cho cây bị cháy lá hoặc cây con bị chết.
Dendrobium là giống ưa sáng, có thể trong trong điều kiện ánh sáng trực tiếp hay khuếch
tán. Ánh sáng hữu hiệu cho giống Dendrobium là 70%, vì thế giàn che với độ sáng 30%
dưới đất và 40% ở trên cao với cường độ ánh sáng từ 15.000-30.000 1m/m2 rất thích hợp
cho sự phát triển của Dendrobium.
Các chậu Dendrobium được treo trong giàn không nên quá gần nhau, mà phải có
khoảng cách 25cm cho các loài có dạng lớn và 15cm cho các loài có dạng nhỏ, nhằm mục
đích tạo cho cây có đầy đủ ánh sáng và độ thoáng. Nếu có đầy đủ giống, ta nên trồng một
loại Dendrobium đồng nhất trong giàn, hoặc nếu một giàn trồng nhiều giống khác nhau
nên chọn những cây cùng kích thước (để sự phân bố ánh sáng được điều hòa) và những

nắng. Các chậu lan cần chọn cùng kích cỡ, cùng giống, cùng độ tuổi, bố trí theo từng khu
vực để dễ chăm sóc. Nước tưới phải sạch, có rãnh nước dưới giàn lan để tạo khí hậu mát
cho vườn lan. Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần chú ý rằng tiểu
khí hậu các nơi này thường bị khô nóng do ảnh hưởng của các kết cấu bê tông, mái tole…
xung quanh. Cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thủy, nguyệt quế… để
giảm bớt ảnh hưởng của các yếu tố này. Cần che bớt ánh sáng mặt trời, tránh ánh nắng
chiếu toàn bộ, nhất là vào buổi chiều.
b. Chọn giống
24
Lan Dendrobium là cây rất dễ trồng với khí hậu Việt Nam. Hoa đẹp lâu tàn nên
được ưa thích nhập trồng nhiều loại, cây rất dễ tách chiết, nhân giống nhanh, có thể trồng
cắt cành được.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sản xuất cây con bằng nuôi cấy
mô đã thu được những thành công đáng kể. Phương pháp cấy mô là phương pháp duy
nhất có thể nhân giống lan trên quy mô công nghiệp, các cây lan con được sản xuất hoàn
toàn giống nhau từ một cây bố mẹ quý mới được lai tạo và được xem là có giá trị sau lần
trổ hoa đầu tiên. Cây cấy mô có nhiều ưu điểm như: tạo được số lượng cây con lớn, độ
đồng đều cao, sạch bệnh, giá thành thấp. Tuy nhiên, lan nuôi cấy mô tốn nhiều công chăm
sóc ở giai đoạn mới đem ra môi trường bên ngoài bên ngoài để trồng và thời gian cho ra
hoa kéo dài 2-3 năm.
c. Chuẩn bị giá thể và chậu
Giá thể có thể dùng than gỗ, xơ dừa, dớn, vỏ lạc để trồng lan. Than gỗ nung cần
chặt khúc, kích thước 1x2x3cm, than phải ngâm, rửa sạch, phơi khô. Xơ dừa xé cho tơi
ngâm khoảng một tuần cho bớt tanin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cũng cần rửa sạch, phơi
khô. Vỏ dừa chặt khúc 1x2x3cm xử lý bằng nước vôi 5%. Chậu trồng bằng nhựa hay đất
nung, kích cỡ tùy loại và độ tuổi.
d. Kỹ thuật chuyển chậu
Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4-6cm có 3-4 lá cần chuyển ra
khỏi bình mô: cho một ít nước vào bình mô sau đó dùng kẹp gắp cây lan ra, gắp theo trình
tự rễ trước lá sau, rửa qua nước cho sạch agar để 2-3 ngày sau mới trồng nhưng thỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status