Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển của giống vừng V26 vụ hè thu năm 2013 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VƯƠNG TRƯỜNG SINH
Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG VỪNG V26 VỤ HÈ THU NĂM 2013
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Lớp : K42 – Trồng trọt
Khóa học: : 2010 - 2014
Gảng viên hướng dẫn : Th.S Ma Thị Phương

MỤC LỤC

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn Đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu. 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học 3
2.2. Nguồn gốc phân loại đặc điểm thực vật học, công dụng và giá trị
dinh dưỡng 4
2.2.1 Nguồn gốc phân loại đặc điểm thực vật học 4
2.1.2 Công dụng và giá trị dinh dưỡng 11
2.3 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và Việt Nam 14
2.3.1 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới. 14
2.3.2 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam. 15
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi. 18
3.4.1 Các biện pháp kỹ thuật 18
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
3.4.3 Qua trình kỹ thuật 19
3.4.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 19
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thành phần hóa học của hạt vừng – USA 9
Bảng 2.2 Thành phần của dầu vừng – USA 10
Bảng 2.3 Bảng thành phần dinh dưỡng có trong bột vừng và trong thịt 12
Bảng 2.4 Tiềm năng của một số cây có dầu cho sản xuất dầu sinh học 13
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất vừng và một số cây có dầu trên thế giới năm
2013 14
Bảng 2.6 Tình hình sản xuất cây có dầu của một số châu lục trên thế giới năm
2014 15
Bảng 2.7 Diện tích gieo trồng một số cây có dầu từ năm 2005-2010 17
Bảng 2.8 Tình hình sản xuất cây có dầu ở Việt Nam năm 2013 17

trường về những sản phẩm của cây có dầu. Phát triển cây có dầu là một chiến
lược quan trọng, nhằm tận đất đai mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất tập
trung phát triển nhanh các loại cây có dầu, đồng thời đầu tư toàn bộ cho khâu
chế biến đảm bảo tăng nhanh khối lượng chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp
ứng nhu cầu cải thiện đời sống của Nhân Dân và xuất khẩu.
Tuy nhiên trong những năm qua tình hình sản xuất cây có dầu có nhiều
biến động không ổn định. Trong các loại cây có dầu thì cây vừng là một loại
cây ít được quan tâm bởi năng suất thấp nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm thị
trường còn hạn chế. Nhưng hiện nay các sản phẩm của cây vừng tăng đột biến
của ngành công nghệ thực phẩm và nhu cầu của một số ngành khác như y học,
hóa mỹ phẩm Sản phẩm của cây vừng không chỉ dừng lại làm quà bánh và
thức ăn của miền quê, vừng còn là nguồn dược liệu quý cho y học.
Việc gieo trồng ở những vùng đất có độ phì nhiêu thấp, nơi mà người
nông dân có thu nhập thấp, đầu tư không cao mà cho hiệu quả kinh tế đó là
chủ trương đúng đắn chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm khai thác tốt nhất
điều kiện tự nhiên.
Vừng là cây dễ tính trồng được ở trên nhiều loại đất khác nhau, vùng bán
khô hạn không chủ động tưới tiêu vẫn cho thu hoạch, sản phẩm sau thu hoạch
cung cấp trở lại góp phần cải tạo đất. 2

Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu để phục vụ cho thực tế sản xuất chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển của
giống vừng V26 vụ hè thu năm 2013 tại trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và


2.1. Cơ sở khoa học
Phát triển cây vừng một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông
nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không
những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu về dài đây là cây trồng
mang rất nhiều giá trị. Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân
bón, giá cả… thì chúng ta cần có những biện phát kỹ thuật canh tác phù hợp
trong sản xuất.
Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì mật độ đóng một vai trò rất
quan trọng. Nếu trồng dày, số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh
dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, ít phân
cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/cây ít, khối
lượng 1000 hạt nhỏ. Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây
trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/ cây nhiều, khối lượng
1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao. Vì vậy
gieo trồng với mật độ thích hợp là một trong những biện pháp quan trọng
hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng nông sản.
Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng và phát triển cũng như năng xuất của vừng. Nhiều thí nghiệm cho
thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng xuất cao.
Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh mún,
nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có. Hơn thế
nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học kỹ
thuật vào trong sản suất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo vãi,
mà không để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ. Dẫn
đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng xuất
của giống. Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho mỗi
giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần thiết. từ
đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào sản xuất
nhằm nâng cao năng suất.

Empryophyta
Spermatopsida
Malpighiales
Euphorbiaceae
Jatropha
J.curcas
Cây dầu vừng bắt nguồn từ trung Mỹ, lan rộng tới các nước nhiệt đới và
cận nhiệt đới khác, mọc chủ yếu ở Châu Á và Châu Phi. Cây dầu vừng chịu
được độ khô hạn cao (hoặc có thể sống được nơi hoang mạc) do nó không
cạnh tranh với các cây trồng khác.
Hạt vừng chiếm 30% dầu có thể được xử lý để tạo được dầu diesel sinh
học chất lượng cao, sử dụng cho các động cơ diesel tiêu chuẩn.

5

Trên thế giới, vừng được trồng là Sesamun indicum Linn. Có số lượng
nhiễm sắc thể 2n= 64, ngoài ra còn có S capennsen; S alanum; S chenkii; S
laniatum có 2n= 64. Vừng có nhiều giống và dòng khác nhau về thời gian
sinh trưởng, màu sắc của hạt và dạng cây.
Một số giả thiết cho rằng có đoàn du khảo của Liên Xô đi khắp thế giới
đã thu được 500 mẫu, chia ra 111 dạng khác nhau. Hiện nay phân loại vừng
dựa vào một số đặc tính thực vật như sau:
+ Về thời gian sinh trưởng: phân loại giống có thời gian sinh trưởng dài
ngày (trên 100 ngày), giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (dưới 100
ngày), cách phân loại này quan trọng để xây dựng công thức luân canh với
cây trồng khác như cây lúa, ngô, cây họ đậu khác
+ Số khía trên quả vừng: phân loại các giống vừng có 4 khía, 6 khía, 8
khía dùng cách phân loại này để chọn cỡ hạt vừng nhỏ.
+ Quả vừng bị nứt hoặc không nứt trong khi thu hoạch: phân loại này
giúp cho tác xác định được khi thu hoạch sớm tránh bị nứt quả.

Màu sắc của thân lúc đầu là màu xanh, xanh sáng hoặc trắng, còn khi quả
đã chin thì thân chuyển sang màu vàng cả. Chiều cao của cây thay đổi theo
giống, môi trường và điều kiện trồng trọt, thông thường từ 60-120cm, tuy nhiên
cũng có giống thấp hơn 60 cm và cao hơn 120cm, các giống vừng trồng ở nước
ta thường có chiều cao từ 80-120cm. Các yếu tố thời tiết ảnh hưởng tới chiều
cao cây và chế độ nhiệt, độ dài ngày. Các giống chín sớm chịu ảnh hưởng của
các yếu tố này nhiều hơn các giống thuộc nhóm chín muộn.
Có giống cành phát triển rất mạnh, ngược lại có những giống phân cành.
Kiểu cành là đặc điểm của giống. Số cành trên cây nhiều hay ít phụ thuộc vào
mật độ của cây, lượng mưa và độ dài ngày. Thân cây vừng sau khi thu hoạch
có thể cho gia súc ăn hoặc làm củi đun.
• Lá vừng
Lá vừng mọc cách và mọc đối. Lá có nhiều hình dạng khác nhau và thay
đổi tùy theo giống và vị trí trên thân. Lá có khi nguyên, có khi chia ra 3 thùy
hoặc có răng cưa. Các lá có vị trí ở dưới của thân thường to hơn các lá phía
trên. Kích thước lá rất thay đổi từ 3-17,5cm x 1 -7cm và chiều dài của cuống
lá từ 1-5cm.
Lá có mầu xanh thẫm và có sự thay đổi tùy thuộc vào độ màu mỡ của đất,
khi quả đã chín sẽ chuyển sang màu vàng. Trên mặt lá có nhiều lông và có
chất nhờn. Các khí khổng có trên mặt lá có mật độ khác nhau tùy theo từng
giống. Múi lá có sự thay đổi khác nhau tùy theo độ dài ngày và thời gian gieo

7

trồng. Số lá trên cây có sự tương quan với độ dài của ngày. Đối với các giống
thuộc nhóm chín sớm và trung bình thì sự tương quan đó càng chặt chẽ hơn.
• Hoa vừng
Hoa vừng mọc ra từ nách lá thân và cành. Hoa có màu trắng, hơi hồng
hoặc tím. Đốt đầu tiên mang hoa của thân tính từ mặt đất trở lên là đặc điểm
di truyền của giống và có sự tương quan chặt chẽ với chiều cao cây, chiều cao

quả nhưng có giống có từ 3 - 5 quả hay nhiều hơn trên mỗi mắt. Số quả trên
cây là đặc điểm di truyền của giống đồng thời cũng có mối quan hệ với số hoa
trên cây và tỷ lệ đậu quả, có những giống chỉ có 8 - 9 quả trong khi có những
giống có đến 25 - 28 quả. Quả lớn nhanh trong thời gian 9 ngày đầu tiên sau
khi hoa thụ tinh và tiếp tục phát triển thêm trong thời gian 24 ngày tiếp theo
và đạt được trọng lượng khô tối đa ở 27 ngày sau khi hoa nở.
Quả dài từ 2 - 8cm, rộng 0,5 - 2,00cm, có 4 - 12 ngăn. Chiều dài của quả
có mối tương quan tới số hạt trong quả phụ thuộc vào giống và điều kiện canh
tác và mật độ gieo trồng thì ảnh hưởng đến chiều cao cây và đường kính gốc.
Trọng lượng P
1000
hạt ảnh hưởng do giống và điều kiện canh tác.
Quá trình chín của vừng diễn ra từ gốc lên ngọn như quá trình ra hoa
trước đó. Khi quả đã chín già, nó sẽ tự tách ra theo các vách ngăn hạt và hạt
sẽ rời ra. Đối với những giống có vách ngăn dày thì sau khi thu hoạch, phơi
đập hạt sẽ khó hơn các giống có vách mỏng.
• Hạt vừng
Trong quả vừng có rất nhiều hạt nhỏ. Hạt vừng có hình trứng dẹp, chiều
dài từ 2 - 4mm, chiều rộng khoảng 1,5 - 2mm, dày 1mm. Trọng lượng 1000
hạt từ 2 - 4g. Các giống vừng địa phương có hạt bé hơn, trọng lượng 1000
hạt chỉ trên 2 g. Hạt vừng có nhiều màu sắc khác nhau như trắng, vàng, hơi đỏ,
nâu, xám vv… Vừng đen có hạt to hơn vừng vàng và vừng nâu. Vỏ hạt có thể
nhẵn hoặc nháp. Màu sắc của hạt là đặc trưng riêng của từng giống. Hạt vừng
chứa nhiều dầu và alơrôn. Bình thường trong hạt vừng có khoảng 50% dầu,
25% protein, 5% khoáng chất, 1% canxi, 3% các axit hữa cơ, 4% chất xơ và
6% thủy phần.
Thành phần hóa học của hạt vừng

9


Thành phần (%)
Oleic Axit 45,3 – 49,3
Linoleic Axit 37,7 – 41,2
Palmitic Axit 7,8 – 9,1
Stearic Axit 3,6 – 4,7
Arachidic Axit 0,4 – 1,1
Hexadecennoic Axit 0,0 – 0,5
Myrisic Axit 0,1
Iodine value _
(Nguồn: Theo Weiss E.A, 1983)
Do vừng có chứa hàm lượng dầu cao vừa khó khăn cho việc bảo quản, rễ mất
sức nảy mầm. Nếu thu hoạch thủ công lại được bảo quản trong kho lạnh đủ tiêu
chuẩn thì tỷ lệ nảy mầm hang năm chỉ giảm mất khoảng 10%, còn nếu thu hoạch
bằng máy thì chỉ sau 6 ngày tỷ lệ nảy mầm giảm từ 97% xuống chỉ còn 65%.
 Đặc điểm sâu bệnh hại vừng
Những loại sâu hại chính:
+ Sâu cuốn lá, đục thân có màu kem vạch vàng nâu, sâu lớn màu xanh
vàng nhiều đốm đen, đầu màu nâu, làm tổ ở ngọn và lá non cây.
+ Sâu khoang, sâu non màu xám tro, lưng có vạch vàng trên đốt bụng
thứ nhất có đốm đen lớn, cuối bụng có đuôi gai lớn, bớm màu nâu cánh trước
có đường vân màu sẫm, xung quanh viền vàng mép ngoài có đường chấm nâu
đen, cánh sau có màu xám trắng cuối bụng con cái có túm lông, chứng đẻ
thành ổ dưới mặt lá.
Ngoài ra còn có các loại sâu hại khác như sâu sùng, sâu róm, rệp xanh,
rệp bông, bọ trĩ, rầy
Những bệnh hại chính:
+ Bệnh hại cây con, thân cây, Xanthomonat sesame gây đốm nâu, đốm
xám trên lá; Altarmarias kaw hại trên thân lá non; thán như colletotricleum
spp hại thân chính;


Theo Hải Thượng Lãn Ông thì vừng có vị ngọt tính bình, không độc, đi vào
bốn kinh phế, tỳ, gan, thận. Có tác dụng ích gan, bổ thận, nuôi huyết, nhuận
tràng, điều hòa ngũ tạng, là loại thuốc tự dưỡng, cường tráng, chủ trị thương
phong hư nhược, ích khí lực, đầy trí não, bổ gan cốt, sang tai mắt, thúc đẻ, sát

12
trùng, tiêu uất khí vv… .
Hạt vừng chứa 45-55% dầu, 19-20% protein, 8-11% đường, 5% nước,
4-6% tro. Thành phần là axit hữu cơ chủ yếu là hai loại axit béo chưa no (Axit
oleic; axit linoleic), hàm lượng axit amin có trong bột vừng và trong thịt.
Ngoài ra hạt vừng chứa nhiều chất khoáng và năng lượng, vừng là loại dầu
quý được sử dụng nhiều lĩnh vực.
Bảng2. 3 Bảng thành phần dinh dưỡng có trong bột vừng và trong thịt
Axit amin
Bột vừng
(%)
Thịt
(%)
Lysin 2,8 10,0
Triptophan 1,8 1,4
Methyonin 3,2 3,2
Phenilatnine 8,0 5,0
Leucine 7,5 8,0
Isolecine 4,8 6,0
Valine 5,1 5,5
Thrionine 4,0 5,0
(Nguồn: Theo Weiss E.A 1983)
• Dùng trong thực phẩm:
Hạt vừng là thành phần trong rất nhiều loại thức ăn, khoảng 70% sản
lượng vừng trên thế giới được chế biến bữa ăn và ép dầu. Trong tổng số hạt

thể tái tạo tại BawngKok Thái Lan bảng 2.4.
Bảng 2.4 Tiềm năng của một số cây có dầu cho sản xuất dầu sinh học
Loại cây có dầu
Sản lượng Biodiesel
(thùng/năm/mile/ vuông- Mile)
Bông vải (cotton) 382
Đậu tương (Đậu nành Soybean) 542
Vừng (Mè Sesame) 807
Hướng dương (Sufmlower) 1113
Lạc (Đậu phộng Peanuts) 1233
Cải dầu (Rapseed) 1385
Olives 1407
Jojoba 2116
Dừa (Coconut) 3131
Jatropha 2204
Cọ dầu (Oli palm) 6927
(Nguồn: Richard Bell, 2010)
(Ghi chú: 1mile = 1,6km, 1mile
2
tương đương 256 ha, 1 thùng đâu tương
đương 160 lít)

14
2.3 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới.
Trên thế giới, trước chiến tranh thế giới thứ hai, diện tích trồng vừng
khoảng 5 triệu ha năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia
trồng nhiều nhất với diện tích 2,5 triệu ha, tiếp đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha,
Miếng Điện 700.000 ha, Soudan 400.000 ha, Mehico 200.000 ha và các quốc gia
khác có diện tích < 50.000 ha gồm: Pakistan, Megeria, Thổ Nhĩ Kỳ, Unganda.

Dừa 12.114,141,0 49,567 60.048,837
Đậu Tương 104.997.252,9 23,033 241.841,410
Hướng Dương 24.843.104,0 15,074 37.449,403
(Nguồn: FAO.STAT, 2013)

15
Qua bảng 2.5 cho thấy:
Trong các loại cây trồng có dầu thì cây đậu tương có diện tích lớn nhất
105 triệu ha trên toàn thế giới, đồng thời về cả năng suất lẫn sản lượng đạt
trên 241 triệu tấn. Thấp nhất là diện tích trồng vừng chỉ đạt trên 7 triệu ha về
diện tích, về năng suất chỉ đạt 5,11 tạ/ha và sản lượng đạt trên 4 triệu tấn.
Bảng 2.6 Tình hình sản xuất cây có dầu của một số châu lục trên thế giới
năm 2014
Châu lục Cây có dầu

Diện tích
(triệu ha)
Năng xuất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Châu Á
Vừng 516.326,0 6.728,47 1.033.276,00
Đậu tương 427.621,0 13.546,52 640.237,00
Châu Mỹ
Vừng 256.325,0 6.884,62 176.470,00
Đậu tương 80.501.743,0 25.728,69 207.120.418,00

Châu Phi


vừng rất dễ trồng thích hợp cho luân canh gối vụ. Sản phẩm của cây vừng
không những dùng cho thực phẩm mà còn dùng cho nục đích khác trong công
nghiệp, kỹ nghệ, dược liệu, xa hơn nữa là sản xuất dầu sinh học.
Trong cuốn “Vân đài loan ngữ” của Lê Quý Đôn ông đã từng viết:
“Phép làm ruộng tốt thì nên trồng đỗ xanh trước, sau đó đến đậu nhỏ và
vừng”.
Điều đó chứng tỏ cây vừng đã được gieo trồng khắp các vùng trong cả
nước từ rất lâu đời, vừng có mặt trong các món ăn của người Việt (bánh đa
vừng, muối vừng, bánh trôi, chay…).
Mặc dù tiềm năng phát triển các cây có dầu là rất lớn nhưng nguồn
nguyên liệu sản xuất dầu ở Việt Nam vẫn phải nhập tới 90 % năm 2001,
nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 6,8 % nhu cầu trong nước.
Việt Nam cũng đã chú trọng phát triển cây có dầu đặc biệt là trong những
năm gần đây, với diện tích 35200 ha năng suất 3 tạ/ha năm 2000, mặc dù
năng suất còn thấp nhưng vẫn được gieo trồng do không đầu tư thâm canh.
Thời gian gần đây trong công tác nghiên cứu của các nhà chọn tạo giống
đã đưa ra một số giống vừng cho năng suất khá cao như: giống V6, VD10,
V26…; giống vừng đen ADB1 đạt năng suất 2.200kg/vụ đông xuân,1.465
kg/ha vụ xuân hè; giống NA2 đạt năng suất 1.839 kg/ha trong vụ đông xuân.
Mô hình kỹ thuật trồng vừng tăng năng suất 1.650 kg/ha tại Châu Phú 1.495
kg/ha tại Chợ Mới và 772 kg/ha tại Chi Tôn (Đề tài: Tuyển chọn giống vừng
đen có năng suất và chất lượng cao phù hợp với điều kiện địa phương.

17
Chủ nhiệm đề tài Ths. Phạm Thị Phương Lan, cơ quan chủ trì, Viện
Khoa Học KTNN Miền Nam, 09/2012) giống vừng V6 được công ty dầu thực
vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam (Vocarieax) và viện nghiên cứu dầu thực
vật (OPI) trồng và phát triển trên diện tích 3000 ha, năm 2005 (Theo
WWW.caycodau.gov.vn).
Theo thông tin của bộ Nông Nghiệp và Thông Tin của Bộ Công Nghiệp

dầu năm 2013. ở bảng 2.8
Bảng 2.8 Tình hình sản xuất cây có dầu ở Việt Nam năm 2013
Chỉ tiêu Diện tích
(1000 ha)
Năng xuất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
Đậu tương 120.705,85 14,52 175.295,45
Vừng 47.000,00 4.68 22.000,00
Dừa 145.000,00 86,21 1.250,00
(Nguồn: FAO.STAT 2013)

18
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống vừng đen V26 nhập nội do Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông
Nghiệp Việt Nam cung cấp giống làm đối tượng nghiên cứu.
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trung tâm thực hành thực nghiệm Khoa Nông
Học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu vụ hè thu năm 2013.
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển của giống vừng
đen V26 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, vụ hè thu năm 2013.
- Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng của giống vừng đen V26.
- Ảnh hưởng của mật độ đến tình hình sâu bệnh của giống vừng đen V26.
- Ảnh hưởng của mật độ đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của

2.19
- Thời vụ, vụ hè thu năm 2013 ngày gieo 10/08/2013. Không kể rãnh, lối
đi lại và dải bảo vệ.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
I

II III
Dải bảo vệ

Dải
bảo
vệ

1

3

4

- Công thức 4: 55 cây/m
2
(hàng cách hàng: 55 cm, cây cách cây: 4,3 cm)
3.4.3 Qua trình kỹ thuật
∗ Chăm sóc: gieo hạt giữ ẩm, sau khi mọc một hai tuần tỉa định cây một
lần 1. Hai tuần tiếp theo tỉa định cây đảm bảo mật độ theo từng công thức.
Làm cỏ xới xáo… định cây mẫu theo dõi với kết phòng trừ sâu bệnh hại.
∗ Thu hoạch và bảo quản.
3.4.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu

theo dõi, lấy cây mẫu 3 điểm theo đường chéo trong ô thí nghiệm.
Các chỉ tiêu theo dõi lấy ngâu nhiên 10- 15 cây/ô. Sau đó lấy kết quả
trung bình.
3.4.3.1 Chỉ tiêu về đặc tính thực vật học
- Thời kỳ nảy mầm (ngày): Được tính từ gieo đến khi hạt mọc đều đến 80%.
- Thời kỳ sinh trưởng và phát triển: Tính từ lúc khi gieo đến lúc quả chín.
- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng, (giai đoạn thu
hoạch) 10 cây/ô.

Trích đoạn Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status