ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ THU
Tên đề tài:
“ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN KHẢ
NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA
GIỐNG LẠC MD7 VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 - 2015
Khoa : Nông học
Lớp : K9LT - TT
Khóa học : 2013 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Vũ Thị Nguyên THÁI NGUYÊN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập của mỗi sinh viên ở các trường Đại học,
thực tập tốt nghiệp là thời gian không thể thiếu được. Đây chính là thời gian
để mỗi sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học được trên lý
thuyết vận dụng vào trong thực tiễn sản xuất. Đồng thời đây cũng là thời gian
sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học để khi ra trường thành một kỹ sư
có chuyên môn, có đầy đủ năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển nông
thôn nói riêng và nền kinh tế của nước nói chung.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của nhà trường,
ban chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại Học
Nông Lâm Thái Nguyên với tên:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng, phát
triển, năng suất của giống lạc MD7 vụ xuân năm 2014 tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn ban giám
hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa
Nông học. Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: Th.S.Vũ Thị Nguyên.
Cảm ơn phòng sinh lý sinh hóa và các bạn sinh viên đã giúp tôi hoàn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đ/C : Đối chứng
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
KNTLVCK: Khả năng tích lũy vật chất khô
M
1000
hạt : Khối lượng 1000 hạt
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
FAO : Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc
MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3.Yêu cầu của đề tài 2
1.3.1. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lạc MD7 ở
các mật độ thí nghiệm 2
1.3.2. Theo dõi tình hình sâu bệnh của giống lạc MD7 ở các mật độ thí
2.5. Đặc điểm của giống lạc MD7 17
2.5.1. Trồng và chăm sóc 17
2.5.2.Điều kiện sinh thái của cây lạc 18
Phần 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Nội dung nghiên cứu 20LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập của mỗi sinh viên ở các trường Đại học,
thực tập tốt nghiệp là thời gian không thể thiếu được. Đây chính là thời gian
để mỗi sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học được trên lý
thuyết vận dụng vào trong thực tiễn sản xuất. Đồng thời đây cũng là thời gian
sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học để khi ra trường thành một kỹ sư
có chuyên môn, có đầy đủ năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển nông
thôn nói riêng và nền kinh tế của nước nói chung.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của nhà trường,
ban chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại Học
Nông Lâm Thái Nguyên với tên:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng, phát
triển, năng suất của giống lạc MD7 vụ xuân năm 2014 tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn ban giám
hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa
Nông học. Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: Th.S.Vũ Thị Nguyên.
Cảm ơn phòng sinh lý sinh hóa và các bạn sinh viên đã giúp tôi hoàn
năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium. Chính vì vậy cây
lạc không đòi hỏi nhiều phân đạm, trồng đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho
năng suất cao đồng thời cải tạo đất tốt. Trồng lạc còn có tác dụng che phủ,
chống xói mòn. Sau khi thu hoạch lạc, thành phần hóa tính của đất được cải
thiện rõ rệt, độ phì được nâng cao, tạo điều kiện cho cây trồng vụ sau, nhất là
đối với cây trồng sử dụng nhiều đạm (Nguyễn Danh Đông, 1984) [5].
2 Bên cạnh đó lạc còn là cây ngắn ngày có thể tăng vụ trồng được trên
nhiều loại đất khác nhau như: phù sa, pha cát, sét pha, thịt nhẹ điều này có ý
nghĩa quan trọng trong chiến lược chuyển đổi và đa dạng cây trồng ở Nước ta.
Trong những năm gần đây, nhờ có những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra
được nhiều giống lạc mới có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn. Việc
xác định mật độ khoảng cách trồng lạc hợp lý, tạo điều kiện cho cây sinh
trưởng và phát triển tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất trên một đơn vị diện
tích luôn là một trong những kỹ thuật được quan tâm. Để đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về sản phẩm chế biến từ lạc trên thị trường trong nước và thế
giới, đồng thời góp phần hoàn thiện quy trình trồng lạc giống MD7 tại Thái
Nguyên, em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo
trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc MD7 trong vụ
xuân năm 2014 tại trường ĐHNL Thái Nguyên ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất của
giống lạc MD7 ở các mật độ gieo trồng khác nhau trong vụ xuân năm 2014.
Từ đó xác định mật độ gieo trồng thích hợp cho giống lạc MD7 trong
điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên.
1.3.Yêu cầu của đề tài
1.3.1. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lạc MD7 ở các
mật độ thí nghiệm
Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã phát hiện sự phân bố rộng rãi
các vùng trồng lạc ở nam mỹ, đặc biệt trên những vùng đảo Tây Ấn, Mêhico,
vùng Biển Đông - Đông Bắc Braxin, trên những dải đất ấm áp của vịnh
Rioplata (Achentina, Paragoay, Bolivian, cực Tây Nam Braxin, Pêru).
Theo các nhà lịch sử của tự nhiên, người Inca đã trồng lạc như một loại
rau có tên “ Ynchis” dọc vùng duyên hải của peru, năm 1609 người Tây Ban
Nha đặt tên là “mani”, hiện tại tên này vẫn được dùng ở Cuba và Nam Mỹ
thuộc Tây Ban Nha trước đây.
Ulrich Schmiddt thám hiểm Paragoay năm 1542 cho biết cây lạc có tên
“manduiss, mandubi” là một cây trồng quan trọng ở vùng đất ấm này.
Jea de lery (1578) cũng phát hiện thấy cây lạc có tên “Manobi” ở hòn
đảo trong vịnh Riodejaneiro. Tất cả những nhà thực vật học Châu Âu đều
thừa nhận nguồn gốc của cây lạc ở Nam Mỹ và từ đó đưa sang những vườn
thực vật ở Châu Âu. Những bằng chứng khảo cổ học dựa trên sự phân tích chỉ
số cacbon ở thung lũng Chicama (Peru) cho biết cây lạc có từ khoảng 1500-
1200 TCN. Những bằng chứng cổ nhất này đã khẳng định Nam Mỹ là cái
“nôi” của cây lạc. Sau đó lạc được đưa ra Châu Âu, tới quần đảo Bình Dương,
vùng Biển Châu Phi, Châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Inđonesia).
Hiện nay, lạc được trồng trên 100 nước, giới hạn từ 40
0
vĩ Bắc đến 40
0
vĩ Nam (Ngô Thế Dân và CS, 1995) [2]. Năm 1994, Ủy ban Quốc Tế và Quỹ
Di Truyền thực vật đã điều tra ở Nam Mỹ và thống kê được 1438 dạng lạc
trồng, 346 dạng lạc hoang dại.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất,sản lượng lạc trên thế giới giai đoạn 2009- 2012 6
quan trọng. Mặc dù cây lạc đã có từ lâu đời, nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ
mới được xác định trên 100 năm trở lại đây. Trên thế giới hiện nay, nhu cầu
sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng, đã và đang khuyến khích nhiều Nước
đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng.
Trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc. Lạc là cây trồng đứng thứ hai
sau đậu tương về diện tích cũng như sản lượng. Nhờ khoa học kỹ thuật phát
triển nên hiện nay năng suất lạc trung bình của thế giới ngày càng được nâng
cao với diện tích lạc trên thế giới hiện nay là hơn 24 triệu ha, năng suất trung
bình là 153 tạ/ha, sản lượng 35 triệu tấn quả khô (FAOSTAT, 2014) [9]. Diện
tích, sản lượng lạc của một số nước trên thế giới được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất,sản lượng lạc trên thế giới giai đoạn 2009- 2012
Chỉ tiêuNăm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2009 0,87 26,21 22,80
2010 0.95 28,09 26,68
2011 0,78 25,59 19,96
2012 0,97 29,33 28,45
(Nguồn: FAOSTAT, 2014 [9])
7 Qua bảng 2.1 cho thấy:
Năm nước tiêu biểu về sản lượng và diện tích lạc trên thế giới, Trung
Quốc là nước đứng thứ hai về sản lượng lạc đạt 13,92 tạ/ha, diện tích là 0,61
triệu ha và năng suất đạt 22,82 tạ/ha cũng tương đối cao so với diện tích và
8 sản lượng trung bình của thế giới. Nhờ đó có bước nhảy vọt về chọn tạo giống
và kỹ thuật trồng trọt nên năng suất lạc của Trung Quốc trong mấy năm gần
đây đạt rất cao, có nơi đến 96 tạ/ha (Ở sơn Đông -Trung Quốc ). Được sự đầu
tư hỗ trợ của nhà nước nên diện tích trồng lạc lên 0,61 triệu ha chiếm gần
40% tổng sản lượng lạc trên thế giới.
Ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, song lạc được
trồng chủ yếu ở vùng khô hạn nên năng suất lạc không được cao lắm đạt
16,08 tạ/ha, chính vì vậy có diện tích lớn nhất thế giới (0,90 triệu ha) nhưng
sản lượng chỉ cao hơn Trung Quốc không đáng kể đạt 14,56 triệu tấn.
Diện tích trồng lạc của Malaysia không lớn so với 3 nước trên nhưng
nhờ có khoa học công nghệ phát triển mà năng suất trung bình của Malaysia
lên đến 21,42 tạ/ha.
Việt Nam tuy diện tích không nhiều lắm những năm gần đây do tiếp
cận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới năng suất lạc cũng tăng đáng kể đạt 10,66
tạ/ha cao hơn trung bình của thế giới.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người về năng suất cũng như
phẩm chất cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng trên thế giới đã có những
phương hướng để tạo ra giống năng suất cao, phẩm chất tốt, đồng thời cải tiến
được kỹ thuật canh tác. Mục tiêu của các nhà chọn tạo giống là tạo ra những
giống có năng suất cao, có khả năng kháng bệnh và chống chịu tốt với những
điều kiện ngoại cảnh bất lợi phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau, thời
gian sinh trưởng ngắn phù hợp với công thức luân canh từng vùng. Đây là vấn
đề các nhà khoa học rất quan tâm.
GG5, GG13 và GG20.
Ấn Độ cũng đã công nhận một số giống lạc mới VG9818 được chọn từ
tổ hợp lai VG5 và NCAC 17090 là giống cho năng suất cao chịu được bệnh gỉ
sắt, thích hợp vùng khô hạn.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đ/C : Đối chứng
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
KNTLVCK: Khả năng tích lũy vật chất khô
M
1000
hạt : Khối lượng 1000 hạt
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
FAO : Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc
11 Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam giai đoạn từ (2009-2012)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
quan tâm. Ở Việt Nam công tác thu thập, bảo quản giống đã được tiến hành từ
rất lâu nhưng chưa mang tính hệ thống. Những năm 80, trung tâm nghiên cứu
giống cây trồng Việt-Xô thuộc viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Viêt Nam
đã tiến hành thu thập nhập nội tập đoàn các giống cây trồng có hệ thống,
trong đó có cây lạc. Số lượng mẫu lạc lên tới 1271 mẫu (Trần Đình Long và
cộng tác viên năm 1991). Trong đó có 100 mẫu giống lạc địa phương và 1711
giống lạc nhập nội từ năm 1991-2000 từ trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm
đậu đỗ, viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã nhập trên 1984 mẫu
giống từ ICRISAT( Ấn Độ) để đánh giá chọn lọc, trong đó có 250 giống đang
được nghiên cứu tại viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, trong đó có 100
mẫu được nhập từ viện nghiên cứu cây trồng toàn Liên Bang mang tên
Vavilop, 24 mẫu giống từ ICRISAT(Phạm Ngọc Quý 1990). Từ nguồn giống
đó các cơ sở nghiên cứu khoa học như trung tâm đậu đỗ Dình Tường, viện
cây lương thực thực phẩm, viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, viện di
truyền nông nghiệp đã nghiên cứu khảo sát, đánh giá tập đoàn giống lạc theo
hướng của ICRISAT có thể chia làm 3 nhóm như sau:
- Giống chín sớm: thời gian sinh trưởng từ 80-100 ngày.
- Giống chín trung bình: thời gian sinh trưởng từ 101-120 ngày.
- Giống chín muộn: thời gian sinh trưởng >120 ngày.
1974 bộ môn cây công nghiệp trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã
xử lí đột biến giống Bạch Sa (nhập từ Trung Quốc). Kết quả đã tạo ra dòng
B500 có năng suất cao, phẩm chất tốt, hạt to, vỏ lụa màu hồng rất phù hợp với
thị hiếu người tiêu dùng và suất khẩu. 1984 trung tâm nghiên cứ đậu đỗ-Viện
khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu giống Bạch
Sa 303 với giống Nam Định tạo ra giống BG-78 đây là giống có năng suất đạt
13 16,8-22 tạ/ha, hạt to, vỏ lụa có màu trắng hồng, chống bệnh thối quả và ít bị
sâu bệnh hại.
30cm x20cm x2 hạt.
14 (Các mật độ khoảng cách trên gieo theo luống hẹp)
Qua nghiên cứu ở miền Bắc đặt biệt là ở vùng Tân Yên (Bắc Giang)
khoảng cách là 25-35 cm x 7-10cm x 1-2 hạt, vùng Việt Yên là: 20-25 cm x
10-15 cm x 1 hạt hoặc 30cm x 20cm x2 hạt.
Trên các chân đất lúa ở đồng bằng trung du bắc bộ, lên luống 1,4 m có
mặt luống sử dụng là 1,0 m có thể gieo khoảng cách là 30cm x10cm x1 hạt/
hốc cũng được 30 cây/m2. Trên đất đồi dốc bố trí với khoảng cách là 40-
45cm x 10-15 cm cũng được mật độ 20-25 cây/ m2. Dưới đây là kết quả
nghiên cứu về mật độ khoảng cách ảnh hưởng đến năng suất lạc.
Bảng 2.4: Ảnh hưởng của mật độ- khoảng cách đến năng suất lạc
Mật độ(cây/m
2
) Khoảng cách
Năng suất Quả
Tạ/ha %
20,0
50x10x1 cây 12,25 100
50x20x2 19,81 157
50x30x3 14,37 117
50x40x4 14,25 116
33,3
40x7,5x1 cây 17,75 100
40x15x2 21,00 118
40x22,5x3 20,62 116
40x30x4 20,43 115
30x10x1 23,43 132
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Nguồn gốc 4
2.1.2. Phân loại 5
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới 6
2.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 6
2.2.2. Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới 8
2.3. Tình hình sản suất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam 10
2.3.1. Tình hình sản suất lạc ở Việt Nam 10
2.3.2. Tình hình Ngiên cứu lạc ở Việt Nam 11
2.4. Tình hình sản xuất lạc tại Thái Nguyên 15
2.5. Đặc điểm của giống lạc MD7 17
2.5.1. Trồng và chăm sóc 17
2.5.2.Điều kiện sinh thái của cây lạc 18
Phần 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2011 4,20 15,70 65,94
2012 4,30 15,50 66,65
( Niên giám thống kê 2014) [13]
Về diện tích: Năm 2009 đạt 4,500 nghìn ha những năm gần đây thì diện
tích có su hướng giảm nhẹ như năm 2010 chỉ còn 4,300 nghìn ha, đến năm
2011 chỉ đạt 4,200 nghìn ha. Cho đến năm 2012 diện tích có tăng nhưng
không đáng kể đạt 4,300 nghìn ha.
Về năng suất: nhờ áp dụng biện pháp kỹ thuật như che phủ nilon và sự
có mặt của nhiều giống mới làm cho năng suất lạc của Thái Nguyên tăng lên
17 đáng kể, năm 2009 năng suất đạt 16,00 tạ/ha đến năm 2012 thì năng suất giảm
nhẹ còn 15,50 tạ/ ha.
Về sản lượng: Do diện tích không biến động nhiều và năng suất tăng
làm cho sản lượng tăng theo. Năm 2009 đạt 7,100 nghìn tấn và đến năm 2012
đạt 6,700 nghìn tấn.
2.5. Đặc điểm của giống lạc MD7
Giống lạc MD7 được chọn tạo tại bộ môn bệnh cây viện nghiên cứu
khoa học kỹ thuật Việt Nam.
Cây cao trung bình là 49,2 cm, sinh trưởng khỏe. Số cành cấp 1 trên 1
cây là 5,2, dạng cây đứng. Khoảng thời gian sinh trưởng là 120 ngày ở vụ
xuân. Năng suất đạt trung bình là 35 tạ/ha . Quả ít thắt, vỏ quả có màu vàng
sáng, hạt to dài, có màu hồng nhạt, mỗi cây có trung bình 13 quả chắc. Khối
lượng 1000 hạt là 510gam. Tỷ lệ nhân/ quả là 70,3%
Giống có khả năng chịu trung bình với bệnh đốm nâu. Giống có khả
năng chịu hạn, chịu đất ướt tốt.
Giống thích hợp gieo trồng ở các tỉnh phía bắc. Giống yêu cầu thâm
canh cao.
2.5.1. Trồng và chăm sóc
phần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôn
tơi xốp, có độ PH từ 5,5-7 nhằm thỏa mãn 4 yêu cầu của cây lạc:
- Rễ phát triển mạnh về cả chiều sâu lẫn chiều ngang.
- Đủ oxi cho sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm.
- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng.
- Dễ thu hoạch lạc
2.5.2.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh
trưởng của lạc.
Nhiệt độ trung bình cho suốt quá trình sinh trưởng của cây lạc là
khoảng 25-30
0
C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ