nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 13


1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cà chua (Lycopercicon esculentum Mill.) là loại rau ăn quả được ưa
chuộng trên toàn thế giới. Đây là nguồn thực phẩm cung cấp dinh dưỡng rất
cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người như: -Caroten, chất khoáng
Ca, Fe, P, S, K, Mg, Na , đường và các loại vitamin A, B, B
2
, C, E và PP
[10]. Ngoài ra nú cũn có tác dụng chữa bệnh, nghiên cứu gần đây của các nhà
khoa học Lê Trần Đức, Đỗ Tất Lợi, (Edward Giovannucci, 1999; Giang
Hoảng Vinh, 2003, dẫn trong Thế Mậu, 2003) cho biết: chất Licopen - thành
phần tạo nên màu đỏ của cà chua có khả năng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh
tim mạch, có khả năng ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do gây ung thư,
đặc biệt là ung thư tuyến tiền liệt [8], [10] [11]. Cà chua tươi và sản phẩm chế
biến còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập
và cải thiện điều kiện kinh tế cho người sản xuất.
Tuy mới có mặt ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay nhưng do điều kiện
ngoại cảnh thuận lợi kết hợp với hiệu quả kinh tế cao nên cây cà chua cũng
khá phát triển ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
Nhược điểm của việc sản xuất cà chua ở Việt Nam là: chủ yếu trồng trong
một mùa vụ (vụ Đụng Xuõn) nờn xảy ra hiện tượng cà chua có thời điểm thì
dư thừa, giá rẻ, có thời điểm thì khan hiếm, chủ yếu phải nhập từ Trung Quốc,
không đảm bảo độ an toàn vệ sinh thực phẩm, lại đắt đỏ. Cộng thêm đặc điểm
sản xuất nhỏ lẻ, chỉ tập trung ở một vài địa phương nên gây ra hiện tượng nơi
thì rất nhiều, nơi thì thiếu cuối cùng là hiệu quả kinh tế không cao.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng cây cà chua thì trong những năm gần
đây chúng ta đã tăng cường trồng cà chua trên nhiều chân đất khác nhau và
đưa thờm cỏc vụ cà chua như Xuõn Hố, Thu Đông vào công thức luân canh.

trồng khác nhau.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trên lớp, vận dụng
những kiến thức đã học vào sản xuất thực tiễn. Qua việc thực tập giúp sinh viên
tích lũy được kiến thức, nâng cao tay nghề và rèn luyện ý thức trách nhiệm của
bản thân trong nghiên cứu khoa học và trong sản xuất thực tiễn sau này.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được mật độ trồng thích hợp nhất cho cà
chua mới trong vụ Thu Đông tại thành phố Thái Nguyên .

3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu nhưng mấy năm gần đây
nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển hướng về
kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp thu được nhiều thành tích đáng kể.
Lương thực là vấn đề cơ bản của nước ta đã được giải quyết và người dân
không phải lo lắng về an ninh lương thực, từ đó có điều kiện chủ động trong
sản xuất và phát triển cây có giá trị kinh tế cao, trong đó có cây cà chua.
Trong những năm gần đây, diện tích trồng cà chua không ngừng gia tăng.
Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học nờn cỏc nhà khoa học đã đưa ra các
giống cà chua có năng suất cao như: VL2004, VL2910, TN129, Tn386…
bằng các con đường lai tạo, chọn lọc, nhập nội… và các biện pháp khác.
Hiện nay ở nước ta, mật độ gieo trồng cà chua ở mỗi vùng là khác
nhau. Mật độ trồng thay đổi tùy theo từng giống, loại hình sinh trưởng và
vùng sinh thái khác nhau. Ở Miền Bắc, giống cà chua VT3 có thể trồng với
mật độ 28.000 - 30.000 cõy/ha, ứng với khoảng cách trồng 70 x 45 - 50 cm

Sản lƣợng
(tấn)
2005
4.576.986
27,96
127.979.13
8
2006
4.638.985
28,04
130.066.09
0
2007
4.186.149
32,76
137.153.33
3
2008
4.244.756
33,25
141.119.87
3
2009
4.435.795
34,68
153.833.36
8
2010
4.338.834
33,59

Bảng 2.2: Sản lƣợng cà chua của một số nƣớc sản xuất cà chua lớn nhất
thế giới từ năm 2007 - 2010 (tấn)
Quốc gia
Năm
2007
2008
2009
2010
Trung Quốc
36.096,890
39.938,708
45.365,543
41.879,684
Mỹ
14.185,200
12.735,100
14.181,300
12.902,000
Thổ Nhĩ Kỳ
9.945,040
10.985,400
10.745,600
10.052,000
Ấn Độ
10.055,000
10.303,000
11.148,800
11.979,700
Italia
6.530,160

1.338,600
1.561,000
1.406,200
Nguồn: FAO STAT Statistics Division 2012[1]

6
Qua bảng 2.2 ta thấy, trong các nước trồng cà chua trên thế giới thì
Trung Quốc là nước đứng đầu cả về diện tích và sản lượng. Trong vòng 4
năm từ năm 2007 đến năm 2010 Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua
cao nhất trong 11 nước đứng đầu thế giới, đồng thời sản lượng tăng liên tục từ
36,1 tấn/ha năm 2007 đến 45,4 triệu tấn năm 2009. Mỹ là nước có sản lượng
cà chua hàng năm đạt khá cao từ 12,7 đến 14,2 triệu tấn/năm. Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn
Độ, Itali… có sản lượng cà chua hàng năm đạt thấp hơn Trung Quốc và Mỹ.

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của các châu lục trên
thế giới năm 2010
Châu
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
Châu Phi
860.738
200.247
17.236.028
Châu Mỹ
479.072
508.601

chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia thuộc châu Á
vì đây là khu vực có điều kiện khí hậu tương đối phù hợp cho cà chua sinh
trưởng phát triển và cho năng suất cao. Mặt khác, do khả năng tiêu thụ mặt
hàng này là khá tốt với một thị trường rộng lớn và ổn định cây cà chua đã
nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng chính ở nhiều quốc gia trên
thế giới.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Về tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới hiện nay vẫn chủ yếu tập
trung về lĩnh vực chọn tạo giống có khả năng cho năng suất, chất lượng cao,
có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận. Các nhà
khoa học đã sử dụng nguồn gen của các loài cà chua hoang dại và bán hoang
dại, bằng nhiều con đường khác nhau như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến… để
tạo ra các giống cà chua có nhiều đặc điểm như mong muốn.
Ai Cập là một trong những quốc gia tiến hành nhiều nghiên cứu về cà
chua và cũng là nước đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực chọn tạo giống.
Ngay từ giai đoạn từ năm 1977 đến năm 1984, Ai Cập đó cú cả một đề án
quốc gia nhằm phát triển cây trồng có năng suất chất lượng cao, trong đó có
những nghiên cứu về cà chua, cho ra đời nhiều giống cà chua có nguồn gốc từ
Mỹ như: Cal, Ace, Housney, Marmande VF, Pritchard, VFN- 8 và VFN-
Bush với những đặc điểm tốt như quả to, năng suất, chất lượng cao. Ngoài ra
còn thu được một số giống khác như: Casstlex- 1017, Castrock, E- 6202,
Peto- 86, UC- 82, UC- 97… có đặc điểm quả chắc, thịt quả dày, hạt ít. Riêng
giống VF- 45 và B- 7897 được coi là giống cải tiến vì vừa có khả năng cho
năng suất cao, vừa có chất lượng tốt, các giống này đều thích hợp trồng trong
thời vụ có nhiệt độ cao (Met Wally, 1996)[18]. Để nghiên cứu đánh giá khả
năng đậu quả của cà chua ở nền nhiệt độ cao, năm 1980 và năm 1981 các nhà
khoa học Ai Cập đã tiến hành các thí nghiệm ngoài đồng ruộng để thử khả
năng đậu quả của các giống. Trong 15 giống cà chua tham gia thí nghiệm đều
là các giống có tỷ lệ đậu quả cao, năng suất chất lượng khá cao. Ở nền nhiệt
độ cao chỉ có một số giống vẫn giữ được đặc tính của mình và tỏ ra nổi trội

Ở khu vực châu Á và Đông Nam Á, các quốc gia gần chúng ta cũng đó
cú những công trình nghiên cứu, phát triển cà chua và cũng thu được những
thành tựu khá rõ nét. Cụ thể như Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp
Malaisia (MARDI) đã hợp tác với Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu
châu Á (AVRDC) và Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (TARC) ở
Nhật Bản để xúc tiến chương trình cải tiến các giống cà chua có triển vọng,
kết quả đã cho ra đời 6 dòng cà chua được đánh giá là có khả năng chịu nhiệt

9
và chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) tốt là
cỏc dũng MT1, MT2, MT3, MT5, MT6 và MT10.
Trong nhiều năm qua, các chương trình chọn tạo giống ở trường Đại
học nông nghiệp Philippin đã tập trung vào phát triển những giống cà chua có
khả năng chống chịu sâu bệnh và đậu quả tốt trong điều kiện nhiệt độ cao. Kết
quả đã tạo ra giống như: Mariket, Maigaya và Marilay là các giống cà chua
vừa có khả năng chống bệnh héo xanh vi khuẩn vừa có khả năng sinh trưởng
tốt và có tỷ lệ đậu quả cao trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao của vùng khí
hậu xích đạo và cận xích đạo.
Trong thời gian hợp tác nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm với Trung
tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á, Thái Lan đã giới thiệu được hai
giống cà chua có khả năng chịu nhiệt cao là SVRDC4 và L22. Hai giống này
được tuyển chọn và thử nghiệm tại hai trường Đại học Khon Khan và Chiang
Mai, có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng của Thái Lan. Chỳng đó
nhanh chóng được đưa ra thử nghiệm tại nhiều vùng khác nhau của Thái Lan
và kết quả thu được rất khả quan.
Năm 1994, cũng tại trường Đại học Kasetsart- Thái Lan các nhà khoa
học đã tiến hành chọn lựa 15 giống cà chua, nhằm chọn ra giống có khả năng
giảm thiểu hiện tượng nứt quả và chống bệnh virus trong điều kiện nhiệt độ
cao. Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm các nhà khoa học đã chọn ra được hai
giống cà chua là PT4225 và PT3027. Đây là hai giống đáp ứng tốt những mục

trồng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Theo số liệu thống kê năm
2008 thì diện tích trồng cà chua của cả nước là 35.000 ha, tăng 27.491 ha so
với năm 1996, năng suất đạt 10,57 tấn/ha, sản lượng đạt 370.000 tấn. Với sản
lượng như vậy tính bình quân nước ta chỉ đạt khoảng 4kg/người/năm, thấp
hơn rất nhiều so với bình quân của thế giới. Năng suất cà chua trung bình của
Việt Nam chỉ đạt hơn 60% so với năng suất trung bình của thế giới. Nguyên
nhân dẫn tới năng suất bình quân của cả nước thấp là do đa số diện tích trồng
cà chua của Việt Nam là nhỏ lẻ và phân tán, do điều kiện đầu tư thâm canh,
chuyên canh chưa cao cho nên năng suất cà chua không cao. Các tỉnh thành
có điều kiện đầu tư thâm canh, chuyên canh cao đều đạt được năng suất cà
chua khá cao (hơn 20 tấn/ha), không thua kém nhiều so với mức trung bình
của thế giới. Như vậy có thể thấy khả năng thâm canh, chuyên canh ảnh
hưởng khá lớn đến năng suất cà chua. Tuy vậy, khi so sánh với các nước
trong khu vực như Thái Lan, Philippin… thì năng suất cà chua của Việt Nam

11
không hề thua kém, thậm chí còn cao hơn. Điều đó chứng tỏ Việt Nam cũng
đã có rất nhiều cố gắng để nâng cao năng suất và chất lượng cà chua trong
những năm qua.

12
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của Việt Nam trong
những năm gần đây
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)

21.628,0
164,10
345.846,00
2004
20.648,0
173,40
357.210,00
2005
23.566,0
197,80
466.124,00
2006
24.160,0
195,60
472.569,60
2007
35.000,0
105,71
370.000,00
2008
35.000,0
105,71
370.000,00
Nguồn: Vụ Nông nghiệp (Tổng cục thống kê), (1997 - 2010)
Qua bảng số liệu 2.4 cho thấy: giai đoạn từ 1999- 2000, diện tích, năng
suất và sản lượng rất thấp. Tuy nhiên, cả diện tích, năng suất và sản lượng vẫn
có chiều hướng tăng lên qua các năm. Năm 1996 diện tích trồng cà chua của
nước ta là 7.509,0 ha, đến năm 2000 đã tăng gấp đôi (13.729,0 ha). Mặc dù ở
giai đoạn này năng suất không ổn định, song do diện tích tăng nhanh nên sản
lượng thu được tăng đều qua các năm, năm 2000 sản lượng tăng 75,6% so với

- Nhờ có tiến bộ về công tác giống hiện nay cà chua được trồng gần
như quanh năm chỉ trừ tháng 7 - 9 dương lịch. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế, việc tự do giao lưu buôn bán giữa các nước thì cà chua
càng thể hiện tiềm năng to lớn của chúng (Trần Khắc Thi, 2003)[13].
- Nhà nước ta đã và đang có chủ trương khuyến khích phát triển nông
nghiệp, phát triển mạnh các loại rau có khả năng chế biến trong đó cà chua là
đối tượng được ưu tiên hàng đầu.
- Nhiều nhà máy chế biến được xây dựng, đồng thời một loạt chính sách
hỗ trợ khuyến khích người nông dân nhằm tạo vùng nguyên liệu cho nhà máy.

14
- Cỏc vùng trồng cà chua đều có nguồn lao động lớn, nông dân cần cù
chịu khó lại có kinh nghiệm canh tác lâu đời, giá công nhân rẻ nên giá thành
cạnh tranh cao.
Bên cạnh những thuận lợi thì sản xuất cà chua còn gặp nhiều khó khăn:
- Chưa có bộ giống tốt cho từng thời vụ trồng và từng vung sinh thái.
- Cà chua được trồng trong điều kiện nóng ẩm nên có nhiều sâu bệnh hại.
- Chưa có quy trình canh tác thích hợp cho từng vùng, mỗi vụ trồng và
các giống khác nhau. Việc sản xuất còn manh mún chưa có sản phẩm hàng
hóa lớn cho xuất khẩu và chế biến công nghiệp.
- Hệ thống thông tin thị trường không đầy đủ, kinh nghiệm thương mại
và thị trường còn yếu. Vì vậy giải quyết đầu ra cho sản phẩm chưa đáp ứng
đầu ra cho người sản xuất.
- Chất lượng sản phẩm thấp, không đồng đều, ít phù hợp với công
nghiệp chế biến và xuất khẩu cà chua tươi (Trần Khắc Thi, 2001)[13].
- Biến động về giá cả, trái vụ rất cao, chính vụ lại hạ thấp nhanh chóng,
đã làm cho sản phẩm ở thời kỳ cao điểm không còn thu hút nhất là khi năng
suất thấp (Trần Khắc Thi, 2001) [13].
2.3.2. Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những năm gần đây quá trình nghiên cứu và chọn tạo

cơ sở nghiên cứu đã lai tạo được hàng trăm cặp lai cà chua và chọn lọc hàng
ngàn cá thể từ con lai của các cặp lai khác nhau. Công sức của các nhà khoa
học bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng, nhiều giống cà chua mới đã được tạo ra
và được công nhận là giống quốc gia. Nhiều giống đã được khu vực hóa và
nhiều giống đang tiếp tục trong giai đoạn khảo nghiệm đánh giá (Trần Khắc
Thi và cs, 2003)[14]. Có thể nêu ra một số giống cà chua như:
Giống SB- 2: Là giống được Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam
chọn từ tổ hợp lai giữa Star x Ba Lan. Cây thuộc loại hình sinh trưởng hữu
hạn, thời gian sinh trưởng từ 100- 110 ngày. Trong vụ Đụng Xuõn, khối
lượng quả trung bình đạt 80- 100 gam, vụ Xuõn Hố khối lượng quả chỉ đạt
60- 80 gam. Năng suất quả đạt cao, vụ Đụng Xuõn năng suất đạt 35- 40
tấn/ha. Giống đã được hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp
Thực phẩm công nhận là giống quốc gia năm 1994 (Trương Đích, 1996)[6].
Giống Hồng Lan: Là giống được Viện cây Lương thực- Thực phẩm
chọn lọc từ một dạng đột biến tự nhiên của giống cà chua Ba Lan trắng, được
khu vực hóa năm 1994. Giống có đặc điểm thuộc loại hình sinh trưởng hữu
hạn thích nghi khá rộng về thời vụ và khu vực trồng, quả to, khối lượng trung

16
bình quả 80- 100g, hình dáng màu sắc quả đẹp, và cho năng suất cao đạt 25-
30 tấn/ha. Nhược điểm của giống là khi chín quả mềm, gây nhiều khó khăn
trong vận chuyển xa, cây dễ bị nhiễm bệnh sương mai và xoăn lá virus, tuy
nhiên ở mức độ nhẹ (Trương Đích, 1996) [6].
Giống CS- 1: Là giống do Trung tâm kỹ thuật Rau- Hoa- Quả Hà Nội chọn
từ quần thể cà chua được nhập nội ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu
châu Á. Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 120 ngày, ra hoa và chín tập trung.
Quả nhỏ xong chất lượng quả tốt, khối lượng trung bình quả 40- 50 gam/quả, quả
chắc, vỏ quả dày. Cây sinh trưởng mạnh, có khả năng chống chịu virus, rất thích
hợp trồng ở vụ Đụng Xuõn và Xuõn Hố. Năng suất vụ Xuõn Hố đạt 25- 30 tấn/ha,
ở vụ Đụng Xuõn năng suất có thể đạt 35- 40 tấn. Giống đã được khảo nghiệm và

giống nhập nội từ nước ngoài. Giống này thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn,
chiều cao cây trong vụ Đụng Xuõn đạt 80- 100cm, vụ Xuõn Hố là 90- 110cm.
Thân cây mập, lá màu xanh nhạt, tỷ lệ đậu quả khá cao, trọng lượng trung
bình quả đạt 70- 75g/quả, số quả trờn cõy đạt cao từ 18- 25 quả/cõy, năng
suất 25- 48 tấn/ha. Giống cũng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn cho phép khu vực hóa (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14].
Với mục tiêu chọn lọc giống cà chua có năng suất cao trên 30 tấn/ha,
khối lượng quả trung bình lớn hơn 50g, có khả năng kháng một số bệnh trong
điều kiện trồng trái vụ. Trong giai đoạn 1997- 2002, các nhà khoa học đã tiến
hành tuyển chọn các giống cà chua nhập từ Trung tâm nghiên cứu và phát
triển rau đậu châu Á. Kết quả cho thấy đã thu được giống HX- 5 với thời gian
sinh trưởng từ 130- 140 ngày, năng suất trong vụ Đụng Xuõn 45- 55 tấn/ha,
vụ Xuõn Hố 30- 40 tấn/ha, có khả năng chống chịu tốt với một số bệnh như:
héo xanh vi khuẩn, đốm vũng… thích hợp trồng trái vụ trong điều kiện khí
hậu miền Bắc nước ta. Giống HX- 5 đã được khu vực hóa năm 2002.
Trong một chương trình hội thảo gần đây về nghiên cứu và phát triển
cà chua ở Việt Nam, rất nhiều giống cà chua mới lần đầu tiên được đưa ra
giới thiệu như: C50, C90 của Viện cây Lương Thực và Thực phẩm, các giống
VL2000, VL2500, VL2910… do Công ty Giống cây trồng Hoa Sen giới
thiệu. Các giống này nhìn chung đều có nhiều đặc tính tốt về sinh trưởng,
chống chịu, năng suất và chất lượng. Bên cạnh đú cũn đáp ứng ngày càng cao
hơn về khả năng chịu nhiệt, sinh trưởng thích nghi với trồng trái vụ trong điều
kiện khí hậu miền Bắc nước ta.
Qua các kết quả rất đáng khích lệ về tình hình nghiên cứu và phát triển
cà chua trong nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng trong tương lai không xa

18
việc nghiên cứu áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất cà chua nói riêng sẽ còn đạt được nhiều thành công hơn
nữa, phục vụ tốt hơn cho sản xuất của nước ta. Hướng nghiên cứu cà chua

0
C làm cho các tế bào phôi và hạt phấn chết sẽ làm giảm tỷ lệ
đậu quả. Quả cà chua phát triển ở nhiệt độ 20- 22
0
C, các sắc tố hình thành quả
ở nhiệt độ 18- 22
0
C, qủa chín ở nhiệt độ 30
0
C.
Cường độ ánh sáng cho cà chua sinh trưởng, phát triển từ 4000-
10000lux, cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là từ 2000- 3000 lux. Ở giai
đoạn đầu của thời kỳ ra hoa cần đảm bảo chế độ chiếu sáng từ 9- 10 giờ/ngày.
Cà chua được chiếu sáng đầy đủ thỡ cõy sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết
quả tốt và cho năng suất, chất lượng cao. Nếu thiếu ánh sáng thỡ cõy sinh
trưởng yếu, ra hoa, kết quả kém và cho năng suất thấp.
2.4.2. Nước
Cà chua là cây tương đối chịu hạn, nhưng lại không thể thiếu nước được,
yêu cầu về nước của cây trong quá trình sinh trưởng là không giống nhau. Cà chua
là cây có thân lá phát triển mạnh nờn nú cú nhu cầu về nước cao đặc biệt là giai
đoạn ra hoa, đậu quả và giai đoạn quả đang phát triển, càng nhiều quả và quả càng
lớn thỡ cõy càng cần nhiều nước. Sự tiêu hao nước 1 ngày đêm của cà chua là từ
20- 650g. Theo tính toán của các nhà khoa học thì để đạt được năng suất 50 tấn/ha

19
cây cần 6000m
3
nước. Hạt cà chua cần lượng nước từ 325- 364% để nảy mầm và
độ ẩm đất thích hợp cho hạt cà chua nảy mầm là 60- 70%, độ ẩm không khí là 45-
55%.

2
O.
- Đạm: Đạm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho năng suất của
cây. Cà chua yêu cầu nhiều đạm vào giai đoạn ra hoa, kết quả. Thiếu đạm hoa
cà chua dễ bị rụng, quả nhỏ trong điều kiện gặp nhiệt độ cao. Nếu thừa đạm
thỡ cõy mọc vống lên yếu ớt, tỷ lệ đậu quả thấp, kích cỡ quả, thời gian bảo

20
quản, màu sắc quả giảm. Khi sử dụng lượng đạm hợp lý thỡ cõy sinh trưởng
khỏe, mập mạp, đó là điều kiện thuận lợi cho năng suất cao.
Giai đoạn đầu cây cà chua cần rất ít đạm. Khi cõy hỳt 80- 100 kg N thì
có thể đạt 25 tấn quả, trong tháng đầu cây chỉ hút 3,5- 4,5 kg N, đến tháng thứ
2 cõy hỳt khoảng 23- 28 kg N, vì thế khi bón đạm cho cây chúng ta cần chia
ra làm nhiều đợt bón khác nhau và mức bón tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh
trưởng của cây.
- Lõn: Lõn cú vai trò then chốt trong việc cung cấp năng lượng cho sự
trao đổi chất, cần cho sự phát triển của hệ rễ, nhất là giai đoạn cây con và có tác
dụng xúc tiến tăng kích thước quả khi được cung cấp lân đầy đủ. Thời kỳ đầu
sinh trưởng, cây cà chua rất mẫn cảm khi thiếu lân do vậy giai đoạn đầu cần bún
lõn cho cây ở dạng dễ tiêu để xúc tiến việc ra rễ đồng thời tăng khả năng hút
nước và chất dinh dưỡng. Cây được bún lõn đầy đủ sẽ nở hoa và quả chín sớm,
chất lượng quả tốt hơn và lõn cũn tăng cường hoạt động của Xitokinin.
- Kali: Kali cần cho quá trình đồng hóa CO
2
trong khí quyển để tạo gluxit,
đồng thời hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại. Kali có vai trog quan trọng
trong việc hình thành quả, đất bón đủ kali quả nhẵn, bóng, thịt quả chắc. Ngoài
ra, kali còn có tác dụng làm tăng lượng carotene và giảm lượng clorophin đặc
biệt là sắc tố đỏ lycopen và tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C.
Bón cân đối đạm- kali là yếu tố quan trọng hàng đầu trong dinh dưỡng

trò khác nhau đối với cà chua. Ca là thành phần của màng tế bào giúp tế bào
duy trì thêm, điều hòa độ bazơ tạo điều kiện để cây trồng hấp thu các nguyên
tố khác. Nếu thiếu Ca cây sẽ bị hộo, lỏ có đốm màu vàng xám sau đó héo
vàng và rụng. Mg có trong thành phần của diệp lục, nếu thiếu Mg sẽ ảnh
hưởng đến quá trình quang hợp.
Nguyên tố dinh dưỡng vi lượng: Bo, Mn, S, Cu, Zn… trong đó Bo, Mn
và Zn là các nguyên tố quan trọng, đặc biệt Bo có vai trò lớn trong việc hạn
chế rụng hoa, rụng quả. Bo thúc đẩy việc hút Ca của cõy, bún Bo vào thời kỳ
cây sắp ra hoa làm tăng tỷ lệ đậu quả. Thiếu Bo bộ lá phát triển kém, chồi
đỉnh dễ bị thối, quả bị biến dạng.
Vì vậy, việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây cà chua là yếu tố
có tính chất quyết định năng suất và chất lượng cà chua.
2.4.4. Các nghiên cứu về mật độ
Về khoảng cách trồng cà chua tác giả Tạ Thu Cỳc đó nghiên cứu và
cho rằng, những giống thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn có cành lá xum
xuờ, phõn cành mạnh phải trồng thưa hơn 2 loại hình còn lại [4].
Theo Trần Khắc Thi và cs thì cà chua có thể phát triển phù hợp với
khoảng cách 0,7 x 0,4 m (mật độ 3,5 - 4,0 vạn cõy/ha)[14]. Theo Đào Xuân
Thảng, Dương Kim Thoa và cs thì giống VT3, PT18 (hữu hạn, bán hữu hạn) có
thể trồng với mật độ 3,1- 4,0 vạn cõy/ha. Khoảng cách 75 x 40cm hay 70 x 40 -
45 cm là tốt nhất. Giống vô hạn như TN148, TN129 trồng với khoảng cách 70
x 50 cm, mật độ 2,8 vạn cõy/ha. Tác giả Trần Khắc Thi và cs cho rằng, ở Việt
Nam để cà chua có năng suất cao nên trồng với mật độ 3,2 - 4,0 vạn cõy/ha.
Hiện nay trong sản xuất thường áp dụng các mật độ khoảng cách sau:
Đối với giống vô hạn: 70 x 40cm (3,2 vạn cõy/ha)
Đối với giống hữu hạn: 70 x 35cm (3,5 vạn cõy/ha)
Đối với giống hữu hạn vụ sớm: 70 x 30cm (4,0 vạn cõy/ha)
Ở Miền Nam các chua múi trồng với khoảng cách hai hàng trên luống
cách nhau 70 - 80cm, cây trồng cách nhau 40 - 50cm (mật độ 30 - 32 nghỡn
cõy/ha). Cà chua hồng trồng hàng cách nhau 70cm, trên cùng hàng cách nhau

- Phõn bún: Phõn urờ (46.6%), Supe lõn Lõm Thao (16.5%), Kali
clorua (60%), phân hữu cơ hoai mục.
- Điều kiện đất làm thí nghiệm: Thí nghiệm được triển khai trên đất
nghèo dinh dưỡng, nền đất thấp tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên .
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thời gian: vụ Thu Đông năm 2011.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố
trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại.
- Diện tớch ô thí nghiệm: 1.2m x 6m = 7.2m
2
(cả rãnh).
- Diện tích toàn ô thí nghiệm: 1,2m x 6m x 3 x 5 = 108 m
2
.
- Các công thức thí nghiệm:

23
+ CT 1: đ/c: Khoảng cách 70cm x 40cm, mật độ = 35714 cõy/ha.
+ CT 2: Khoảng cách 70cm x 35cm, mật độ = 47619 cõy/ha.
+ CT 3: Khoảng cách 70cm x 30cm, mật độ = 40816 cõy/ha.
+ CT 4: Khoảng cách 70cm x 45cm, mật độ = 31746 cõy/ha.
+ CT 5: Khoảng cách 70cm x 50cm, mật độ = 28571 cõy/ha.
- Phân bón: Lượng phõn bún/ha: 25 tấn phân chuồng hoai mục +
120kg N + 100kg P
2
O
5
+ 150kg K
2

+ Thời gian sinh trưởng: tính số ngày từ gieo hạt đến kết thúc thu
hoạch.
- Các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng (cm)
(đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng). Đo 5 cõy trờn 1 lần nhắc lại/cụng thức, cứ
7ngày/1lần.
+ Động thái ra lá và số lỏ trờn thân chính. Đếm số lá thật từ gốc đến
đỉnh có lá nhỏ nhất từ 2cm trở lên: đo, đếm 5cây/1 lần nhắc lại/cụng thức, cứ
7 ngày/1 lần.
- Tỷ lệ đậu quả:
+ Tổng số hoa/ thân chính và trên cành cấp I
+ Tổng số quả đậu/ thân chính và trên cành cấp I
+ Tỷ lệ đậu quả = tổng số quả đậu/tổng số hoa trờn cõy x 100(%).
- Tình hình sâu bệnh hại: Theo dõi 15cõy/cụng thức/3 lần nhắc lại.
Phương pháp điều tra bệnh hại
+ Đối với bệnh xoăn lá và héo rũ: Theo dõi tổng số cây bị bệnh trờn ụ
khi xuất hiện bệnh
Chỉ tiêu đánh giá:
Tỷ lệ bệnh (%) =
Error!
x 100
Sâu hại: Gồm sâu xanh ăn lá và sâu đục quả.
Phương pháp điều tra sâu hại: Áp dụng phương pháp 5 điểm đường chéo gúc,
trờn 1 lần nhắc lại điều tra 5 điểm, mỗi điểm 1 cây, quan sát các bộ phận của
cây gồm: thõn, lỏ, nụ, hoa, quả kể cả các nụ hoa, quả bị rụng xuống gốc cây.
Đếm số nụ, hoa, quả bị rụng xuống cũng như cũn trờn cõy có triệu chứng bị
sâu hại để xác định tỷ lệ hại. Đồng thời đếm số lượng sõu trờn cỏc bộ phận
của cây, thu và bổ những quả bị hại để xác định số lượng sâu nằm trong quả.
Chỉ tiêu đánh giá:
Tỷ lệ hại (%) =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status