phần a: dẫn luận .
1. Lý do chọn đề tài.
Với đại thắng mùa xuân 1975 đã đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch
sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta, đánh bại hoàn toàn tên đế quốc hùng
mạnh trên thế giới, non sông gấm vóc thu về một mối . Đồng thời với thắng
lợi này đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên đất nớc đợc
độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay đã trải qua 29 mùa xuân,
song những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ không bị lu mờ, mai một bởi thời gian, ngợc lại nó đợc nâng lên với một
tầm vóc mới.
Hoà vào những thắng lợi to lớn của nhân dân cả nớc, Quỳnh Lu tiến
hành cuộc khánh chiến chống Mỹ vô cùng oanh liệt. Với vị thế là huyện điạ
đầu của tỉnh Nghệ An, nơi đây án ngự các huyết mạch giao thông: đờng sắt, đờng biển và đờng bộ có tính chiến lợc Bắc - Nam. Vì thế Quỳnh Lu trở thành
địa bàn chiến lợc quan trọng trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ đối với miền Bắc. Trong thời kỳ (1965 -1973), đế quốc Mỹ đã cho máy
bay và tàu chiến đánh phá ác liệt trên địa bàn huyện. Nhiều loại bom đạn có
tính chất huỷ diệt đợc Mỹ sử dụng phá hoại nhiều cơ sở kinh tế - quốc phòng,
gây nên biết bao hi sinh tổn thất cho huyện. Nhng bom đạn Mỹ không thể huỷ
diệt sức mạnh, ý chí đấu tranh của nhân dân Quỳnh Lu .
Trong bối cảnh chiến tranh ác liệt, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam, nhân dân Quỳnh Lu phát huy cao độ truyền thống đấu tranh anh dũng kiên
cờng, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, đánh bại hành động phá hoại của
giặc Mỹ, góp phần chi viện ngày càng lớn cho chiến trờng miền Nam.
Những thắng lợi to lớn của nhân dân Quỳnh Lu trong hai cuộc chiến
tranh phá hoại đã để lại cho thế hệ mai sau những bài học kinh nghiệm quý
báu, những tấm gơng anh hùng cách mạng gắn với những địa danh lịch sử
trong quá trình đấu tranh bảo vệ quê hơng Quỳnh Lu cũng nh dân tộc Việt
Nam. Đồng thời những thắng lợi này góp phần làm rạng rỡ thêm những trang
lịch sử huyện Quỳnh Lu, luôn xứng đáng với lời ca ngợi "Quỳnh Lu đất mẹ
anh hùng". Chính vì thế việc nghiên cứu lịch sử Quỳnh Lu trong hai cuộc
thắng lợi, những đóng góp to lớn của Quỳnh Lu trong cuộc chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ. Để có một công trình chuyên khảo về "Quỳnh
Lu trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ(1965-1973)", đòi hỏi
cần phải có sự đầu t công phu và chu đáo hơn, đầu t thời gian nghiên cứu một
cách sâu sắc toàn diện về Quỳnh Lu trong giai đoạn lịch sử oanh liệt và hào
** 2 **
hùng này, nhằm làm toát lên những thắng lợi và đóng góp to lớn của nhân dân
Quỳnh Lu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nớc. Trong khoá luận này, tôi cố
gắng hệ thống hoá nguồn tài liệu thu thập đợc để phần nào tái hiện lại những
thắng lợi và đóng góp của nhân dân Quỳnh Lu trong hai cuộc chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
Đề tài "Quỳnh Lu trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
(1965 - 1973)". Nhằm đi sâu nghiên cứu những đóng góp và thắng lợi của
nhân dân Quỳnh Lu trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ(1965 - 1973).
Với mục đích đó, trớc hết khoá luận đề cập đến những điều kiện tự
nhiên, điều kiện lịch sử của huyện Quỳnh Lu và những tiền đề về chính trị kinh tế - xã hội của huyện trong 10 năm xây dựng Quỳnh Lu theo định hớng
xã hội chủ nghĩa từ (1954 - 1964), là những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến
cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của nhân dân Quỳnh Lu.
Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận chủ yếu đi sâu tìm hiểu những
đóng góp, những thắng lợi to lớn của nhân dân Quỳnh Lu đợc thể hiện trên
các mặt: chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sản xuất, đảm bảo giao thông vận
tải, phát triển văn hoá - giáo dục - y tế và chi viện sức ngừơi, sức của cho
chiến trờng miền Nam trên địa bàn huyện trong thời kỳ chống chiến tranh phá
hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.
4. Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
về chính trị - kinh tế - xã hội của huyện trớc cuộc chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ.
Chơng II: Quỳnh Lu trong cuộc chiến tranh phá hoại thứ nhất của đế
quốc Mỹ(1965 - 1968).
Chơng III : Quỳnh Lu sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá
hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ(1969 1/1973)
Hoàn thành khoá luận này tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của
ban tuyên giáo huyện uỷ Quỳnh Lu đã giúp đỡ tôi về mặt t liệu. Tôi xin chân
thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện, các thầy cô giáo trong khoa đã tận
tình chỉ dẫn. Khoá luận đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn trực tiếp của Thạc Sỹ
Nguyễn Khắc Thắng, cán bộ giảng dạy khoa lịch sử trờng Đại Học Vinh.
Do khả năng nghiên cứu còn hạn chế, điều kiện t liệu và thời gian có
hạn ,chắc chắn khoá luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi xin
** 4 **
chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của tất cả mọi ngời quan tâm đến vấn
đề này.
Phần B: nội dung.
chơng I:
khái quát về mảnh đất, con ngời Quỳnh Lu và những
tiền đề chính trị - kinh tế - xã hội của huyện trớc
cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên .
Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ, thuộc phía Bắc của tỉnh Nghệ An,
khoảng cách từ huyện lỵ Cầu Giát đến tỉnh lỵ Thành phố Vinh khoảng 60 km.
Phía Bắc giáp huyện Tĩnh Gia (Thanh Hoá), với ranh giới tự nhiên là khe nớc
lạnh dài 24 km. Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Diễn Châu và Yên Thành
Sông Hoàng Mai có thợng nguồn từ xã Quỳnh Thắng phía Tây - Bắc rồi đổ ra
cửa Lạch Cờn. Huyện còn có hệ thống kênh mơng dày đặc nh: kênh nhà Lê,
kênh Mơ các cửa sông ở Quỳnh Lu tạo ra thế gắn bó giao lu giữa vùng đồng
bằng, bán sơn địa với vùng biển, đồng thời tạo nguồn thuỷ sản phong phú. Với
3 cửa lạch: Lạch Cờn, Lạch Quèn và Lạch Thơi, các cửa lạch này thuộc loại
bồi lắng hàng năm và nớc mặn dâng lên xa, có nhiều dãy núi ăn lan ra biển tạo
cho Quỳnh Lu những bãi cát dài bằng phẳng, là điều kiện để phát triển ngành
du lịch.
Quỳnh Lu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng thời lại chịu ảnh hởng
khí hậu biển thờng xuyên có gió mùa Đông - Bắc, lạnh vào mùa Đông, ảnh hởng
gió Lào thổi mạnh nhất từ tháng 5 đến tháng 8. Quỳnh Lu có 4 mùa : Xuân - Hạ
- Thu - Đông rõ rệt , còn gọi là mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 30oC. Mùa này cũng là mùa giông tố,
bão và hay xảy ra gió xoáy gây nhiều thiệt hại. Mùa lạnh từ tháng 11 năm trớc
đến tháng 4 năm sau, thờng có gió mùa Đông - Bắc lạnh, ma ít bầu trời nhiều
mây, buổi sáng thờng có sơng mù, sơng muối. Lợng ma trung bình hàng năm
1599 ml, nhiệt độ là 23,80C, độ ẩm 87% [2 , 19].
Hệ thống đờng giao thông ở Quỳnh Lu khá dày và phong phú. Tuyến
đờng sắt Bắc - Nam chạy qua địa bàn huyện với chiều dài 30 km. Ngoài ra còn
có tuyến đờng sắt Tây - Bắc chạy từ Cầu Giát lên Nghĩa Đàn dài 15 km. Đờng
bộ ngoài tuyến quốc lộ 1A lớn nhất, còn có quốc lộ 48 chạy qua phía Tây của
huyện, tỉnh lộ 37 từ Lạch Quèn đến Tuần nối với quốc lộ 48. Đồng thời giữa
các xã đều có tuyến đờng giao thông xuyên suốt có ý nghĩa lớn cho sự phát
** 6 **
triển kinh tế, an ninh quốc phòng nh : đờng từ Quỳnh Bá đến An Hoà(7km), từ
Tiến Thuỷ lên Quỳnh Phơng (10km).
Nh vậy, quanh trục quốc lộ 1A đờng ở Quỳnh Lu đã tạo ra hệ thống "đờng xơng cá", từ hệ thống đờng xơng cá này lại tạo ra đờng "bàn cờ " tức là đờng liên xã liên thôn (hiện nay có khoảng 200 đờng). Bên cạnh đó các tuyến
triển sản xuất, đem lại đời sống ấm no cho nhân dân địa phơng. Nhờ có điều
kiện tự nhiên thuận lợi cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ huyện sẽ là
cơ sở để xây dựng Quỳnh Lu thành một huyện giàu mạnh trong tỉnh.
1.2. Đặc điểm lịch sử xã hội.
Quỳnh Lu là vùng đất cổ c dân sinh sống từ lâu đời, qua một số phát
hiện của khảo cổ học đã minh chứng điều đó. Di chỉ văn hoá Quỳnh Văn đã
ghi lại dấu tích con ngời đã sống quần tụ ở vùng biển Quỳnh Lu cách ngày
nay khoảng 6 nghìn năm [2 , 25]. C dân nguyên thuỷ Quỳnh Lu đã sống
thành từng bộ lạc ở những vùng lõm, đầm lầy dọc biển. Với phơng thức hái lợm và săn bắn, những c dân cổ đã từng bớc hoàn thiện bản thân mình, cùng
với sự phát triển của công cụ sản xuất, đời sống của c dân đợc nâng cao, xuất
hiện ngành trồng trọt, chăn nuôi, ngoài ra họ còn biết dệt vải.
Chính bằng lao động, những chủ nhân cổ xa trên mảnh đất Quỳnh Lu
đã "khai thiên phá thạch ", vật lộn với thiên nhiên tạo nên một kỳ tích hình
thành vùng đất và hình thành cộng đồng c dân xa xa.
Cái tên "Quỳnh Lu" xuất hiện vào thế kỷ thứ XV thời nhà Lê (1430) có
cơng vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng ở phía trên (thuộc huỵên
Nghĩa Đàn ngày nay ) và 4 tổng thuộc Quỳnh Lu ngày nay.
Từ năm 1430 đến đời nhà Nguyễn, dới thời vua Minh Mệnh thứ 12,
Quỳnh Lu là một đơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An
gồm 11 tổng. Từ năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) về đại thể lãnh thổ Quỳnh Lu
giống nh hiện nay thuộc phủ Diễn Châu. Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nớc
ta, năm 1919 Quỳnh Lu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Sau cách
mạng tháng 8/1945 địa giới Quỳnh Lu cho đến ngày nay về cơ bản không có
gì thay đổi lớn .
Hiện nay huỵên Quỳnh Lu gồm 43 đơn vị hành chính cơ sở (42 xã và
một thị trấn), dân số của huyện là 340725 ngời trong đó 168784 nam và
171941 nữ (theo số liệu điều tra ngày 1/4/1999) [2 , 29]. Quỳnh Lu có khỏang
1590 ngời thuộc dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Thái sống ở phía Tây của
huyện. Đồng thời với cộng đồng c dân bản địa thì ở Quỳnh Lu có nhiều c dân
ở nơi khác đến định c ở đây. Dù nguồn gốc từ đâu, nhng đã sống trên đất này,
sử, Quỳnh Lu có hàng nghìn ngời thi đậu từ bậc tú tài đến tiến sĩ (trong đó có
19 ngời đậu đại khoa). Dới thời Nguyễn, Quỳnh Lu có 87 ngời đậu cử nhân,
đặc biệt xã Quỳnh Đôi tính từ thời Lê Thánh Tông đến thời Nguyễn có trên 1
nghìn ngời đậu tú tài trở lên [2 , 37], đồng thời Quỳnh Lu có nhiều vị tớng tài.
Dới thời phong kiến nhiều Nho đồ Quỳnh Lu rong ruổi và có mặt trên khắp
các nẻo đờng đất nớc, đem nguồn trí thức, ánh sáng văn hoá truyền đạt cho
nhiều thế hệ học trò ở vùng thôn quê. Bên cạnh việc dạy chữ họ còn dạy cả
đạo lý làm ngời, truyền thống yêu quê hơng đất nớc.
** 9 **
Trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, nhân dân Quỳnh Lu đã cùng
với nhân dân cả nớc lập nên những chiến công hiển hách bảo vệ quê hơng, giữ
gìn và lu truyền bản sắc văn hoá.
Sau khi nớc ta rơi vào ách thống trị của các thế lực phong kiến phơng
Bắc, suốt nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân Quỳnh Lu cùng với nhân dân vùng
lân cận tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của giặc
ngoại xâm. Trong cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722 chống ách đô
hộ của nhà Đờng, nhân dân đã hởng ứng tham gia xây dựng Thành Vạn An và
các công trình phòng ngự, đấu tranh bảo tồn nền văn hoá bản địa.
Đến thời kỳ đầu độc lập, Quỳnh Lu giữ vai trò quan trọng là nơi cung
cấp quân lơng cho một số cuộc kháng chiến. Từ địa bàn huyện có thể ứng phó
kịp thời cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc, đặc biệt là chống quân
xâm lợc Tống , đồng thời đây cũng là nơi xuất phát cho cuộc đấu tranh chống
xâm lấn đất đai của phong kiến phơng Nam.
Dới thời Lý - Trần, Quỳnh Lu đã góp sức xây dựng hàng chục kho tàng
cất giữ quân lơng, kho vũ khí và là nơi luyện quân chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến chống quân xâm lợc Nguyên - Mông. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến
chống Nguyên - Mông lần thứ hai, quân dân Quỳnh Lu đã lập chiến công chống
sự hùng mạnh trong hai lần chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, nhng nhân
dân Quỳnh Lu đã cùng với nhân dân miền Bắc đánh bại chúng góp phần chi
viện cho chiến trờng Miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất nớc nhà.
Nh vậy, mảnh đất Quỳnh Lu vốn "địa linh nhân kiệt ", con ngời Quỳnh
Lu đợc tắm mình trong truyền thống dựng nớc và giữ nớc oanh liệt của dân
tộc từ bao đời, lại đợc rèn đúc trong quá trình xây dựng quê hơng đã sớm tạo
cho con ngời Quỳnh Lu đức tính dũng cảm, chịu thơng, chịu khó và nhạy bén
trớc thời cuộc. Nơi đây đã sản sinh ra những nhân tài cho đất nớc nh : Hồ Quý
Ly, Hồ Xuân Hơng, Hồ Tùng Mẫu... Với truyền thống tốt đẹp đó sẽ là tiền đề
vững chắc cho nhân dân Quỳnh Lu trong thời kỳ lịch sử mới.
1.3. Những tiền đề về chính trị - kinh tế - xã hội Quỳnh Lu trớc khi bớc
vào cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954), hiệp định Giơnevơ đợc ký kết
(7/1954), miền Bắc chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Trong những năm từ 1954 - 1964 cùng với miền Bắc, nhân dân Quỳnh
Lu bớc vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới: cách mạng xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện hoà bình, chính quyền cách mạng ngày càng trởng thành và đợc tôi luyện trong chiến tranh . Bên cạnh những thuận lợi đó, Quỳnh Lu còn
** 11 **
phải đơng đầu với những khó khăn thách thức, tuy không phải là chiến trờng
trực tiếp song Quỳnh Lu bị máy bay địch đánh phá nhiều trận gây tổn thất lớn,
làm đảo lộn cuộc sống nhân dân. Việc khắc phục khó khăn đó không phải là
một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có nhiều thời gian và sức lực, thêm vào đó
thiên tai mất mùa xảy ra thờng xuyên, ngay sau khi hoà bình lập lại các thế
lực thù địch bên ngoài cấu kết chống phá, lật đổ chính quyền cách mạng.
Quỳnh Lu vốn là huyện có thành phần c dân phức tạp, số ngời theo đạo
Thiên Chúa đông, các thế lực thù địch đã dựa vào đây để chia rẽ khối đoàn kết
thơng nghiệp của huyện nh : Cầu Giát, Hoàng Mai đã thành lập hợp tác xã
theo ngành nghề. Chính con đờng làm ăn tập thể dới hình thức hợp tác xã dẫn
đến quan hệ sản xuất mới đợc hình thành, đa năng suất lao động tăng lên.
Năm 1959 năng suất lúa bình quân ở Quỳnh Lu đạt 3 tấn/ha/năm, năm 1960
tăng lên 4 tấn /ha /năm, đã đa sản lợng lúa toàn huyện từ 28438 tấn lên 33761
tấn, sản lợng muối không ngừng tăng lên từ 22000 tấn (1959) lên 23600 tấn
(1960) [2 , 173].
Cùng với những thắng lợi trên mặt trận sản xuất, công tác giáo dục y tế
cũng có những bớc tiến đáng kể, nạn mù chữ đợc đẩy lùi trên toàn huyện,
ngành bình dân học vụ có nhiều thành tích đợc huyện uỷ khen thởng. Hệ
thống trờng lớp đợc xây dựng khang trang, ở các xã đều có trờng cấp I, đến
năm 1960 toàn huyện có 3 trờng cấp II quốc lập và 1 trờng t thục ở xã Quỳnh
Tiến hoàn chỉnh chơng trình học từ lớp 5 đến lớp 7. Bên cạnh đó công việc
chăm lo sức khoẻ cho nhân dân đợc quan tâm hơn, năm 1958, bệnh viện
huyện đợc khởi công xây dựng, đồng thời ở các xã đều có trạm xá, nhà hộ
sinh. Phong trào vệ sinh phòng bệnh đợc tuyên truyền và thực hiện ở nhiều xã,
có một số xã đạt kết quả tốt nh: Cầu Giát, Quỳnh Giang, Quỳnh Bá. Quỳnh Lu
luôn chú ý đến công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp,
các ban ngành đoàn thể ,xây dựng khối đoàn kết trong Đảng, thờng xuyên tổ
chức các lớp huấn luyện bồi dỡng t tởng, đạo đức cho những đoàn viên u tú
kết nạp vào Đảng, kiên quyết loại bỏ Đảng viên thái hoá, biến chất. Nhờ đó
niềm tin của nhân dân đối với Đảng luôn đợc giữ vững, chủ trơng đờng lối của
Đảng đợc toàn dân hởng ứng thực hiện.
Trong việc thực hiện kế hoạch nhà nớc 5 năm lần thứ nhất từ 19611965, nhân dân Quỳnh Lu đã hăng hái sản xuất, tiếp tục đẩy mạnh công tác
thuỷ lợi, phân bố nguồn lao động trên địa bàn huyện. Vì thế nhiều vùng đất bỏ
hoang ở miền Tây của huyện đợc khai hoang đa vào sản xuất với 1425 ha.
Đồng thời kết hợp với việc vận động quản lý các hợp tác xã, huấn luyện bồi dỡng trình độ kỷ thuật cho cán bộ và nhân dân. Năng suất lúa năm 1965 đạt 4,3
tấn /ha, diện tích canh tác đợc mở rộng từ 16330 ha (1961) lên 16725 ha
(1965). Tổng sản lợng lơng thực quy ra thóc năm 1965 đạt 32192 tấn [2 , 116].
sản hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, chúng quyết định tăng cờng lực lợng quân
viễn chinh cùng với vũ khí và phơng tiện chiến tranh vào miền Nam nhằm
thực thi chiến lợc "chiến tranh cục bộ", đồng thời tiến hành chiến tranh phá
hoại miền Bắc nhằm cắt đứt nguồn chi viện của hậu phơng miền Bắc cho
chiến trờng miền Nam .
áp dụng chiến lợc"chiến tranh cục bộ", Mỹ hi vọng sẽ đè bẹp đợc miền
Nam Việt Nam, nhng Mỹ không thoát khỏi "vết xe đổ" đã liên tiếp thất bại.
Thua ở miền Nam, ngày 05/8/1964 bằng việc dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ,
chúng bắt đầu đa máy bay, tàu chiến đánh phá ra miền Bắc bằng chiến dịch
"sấm rền" (02/1965 ). Ngày 03/2/1965 máy bay Mỹ ném bom bắn phá từ khu
vực Vĩnh Linh đến đảo Cồn Cỏ và các địa điểm khác của tỉnh Nghệ An .
Sau hơn 10 năm hoà bình cùng với nhân dân miền Bắc, quân và dân Nghệ
An phải bớc vào cuộc chiến tranh mới với những nhiệm vụ cách mạng mới.
Là một trong những địa bàn xung yếu của tỉnh Nghệ An đối với Quỳnh
Lu, giặc Mỹ có những hoạt động khiêu khích phá hoại từ trớc đó. Chỉ tính
riêng 1963 đã có tới 47 lần máy bay Mỹ xâm nhập vùng trời Quỳnh Lu và 17
lần Mỹ cho tàu chiến xâm phạm vùng biển quấy rối thuyền đánh cá [18 , 15].
Đầu năm 1965, Mỹ ném bom ồ ạt miền Bắc, Quỳnh Lu là một trong những
trọng điểm bắn phá của chúng.Từ đó cho đến năm 1968, không còn xã nào,
làng nào không bị máy bay Mỹ bắn phá. Cả Quỳnh Lu trở thành một "toạ độ
lửa khốc liệt". Thị trấn Cầu Giát và 17 làng của 43 xã bị đánh phá nặng, trong
đó có 4 làng bị phá huỷ rất nặng, 8 xã ở Hoàng Mai và các xã ở trục đờng sắt,
quốc lộ 1A, các cầu cống, các công trình công cộng bị bắn phá h hỏng nặng.
Bệnh viện phong ở Quỳnh Lập, nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Quỳnh Tam bị san
phẳng. Tính ra ở Quỳnh Lu từ năm 1965 - 1968 mỗi ngày phải chịu 12 trận
đánh phá bằng máy bay và pháo kích, cứ 5 ngời dân phải chịu 1 quả bom và
2434 ngời của Quỳnh Lu bị bom giết hại [1 , 118].
** 15 **
Đảng bộ huyện, quân dân Quỳnh Lu nhanh chóng chuyển mọi hoạt động từ
thời bình sang thơì chiến. Công tác đầu tiên và hết sức quan trọng là chuẩn bị
chiến đấu và chiến đấu, vừa đề ra phơng án đánh trả địch, đồng thời phải biết
cách phòng tránh nhằm hạn chế tổn thất cho nhân dân. Bằng cách khảo sát
thực tế địa phơng, huyện uỷ Quỳnh Lu đã xác định các địa điểm có tính chiến
lợc trên địa bàn huyện. Từ đó chỉ thị cho các xã bố trí trận địa chiến đấu, các
đơn vị pháo cao xạ, 75 ly, súng máy 12 ly7 đợc bố trí kiên cố tại địa điểm
xung yếu nh : Rú Rồng (Quỳnh Nghĩa), Hoàng Mai, dọc tuyến quốc lộ 1A và
các xã ven biển: Quỳnh Long, Quỳnh Thuận, Quỳnh Liên. Tại các điểm có độ
cao có thể phát hiện và đánh trả địch nh: mỏ đá Hoàng Mai, Rú Vin (Quỳnh
Giang) đều đợc đặt đài quan sát báo hiệu kịp thời và xây dựng trận địa pháo.
Mỗi xã trong huyện đợc xem là một trận địa chiến đấu có trang bị vũ khí và
xây dựng lực lỡng chiến đấu thành các trung đội dân quân "vừa sản xuất vừa
chiến đấu". Lực lợng dân quân này khi không có máy bay địch đánh phá, họ
bám đồng bám ruộng hăng say sản xuất, ngoài ra họ còn tập trung luyện tập
** 18 **
chiến đấu vào buổi tối, hầu hết đợc trang bị súng trờng. Mỗi khi máy bay địch
đến gây rối họ sẵn sàng bớc vào hàng ngũ chiến đấu, trên trận tuyến dân quân
phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phơng lập nhiều chiến công xuất sắc.
Xác định cuộc chiến đấu khốc liệt và lâu dài, những tổn thất hy sinh do
kẻ thù gây ra không kể xiết. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả chiến đấu, công
tác huấn luyện và trang bị vũ khí cho nhân dân luôn là vấn đề đợc quan tâm
hàng đầu của Đảng bộ huyện. Nhiêù đồng chí cán bộ huyện cùng với các
chiến sĩ bộ đội thờng xuyên tổ chức hớng dẫn nhân dân cách sử dụng các loại
vũ khí chiến đấu. Nhờ đó trong thời kỳ (1965-1968), hầu hết dân quân các xã
đã sử dụng thành thạo các loại vũ khí tơng đối nặng, một số xã đã biết sử dụng
súng máy 12 ly 7. Công tác vũ trang trong nhân dân đợc thực hiện tốt đã tạo
ban đêm là chủ yếu, chỉ cần phát hiện thấy một ánh sáng le lói ở một địa điểm
nào đó, ngay lập tức chúng cho máy bay ném bom, xả đạn ồ ạt. Thông thờng
cứ theo sau những lần đánh bom của máy bay là những đợt pháo kích từ biển
vào, tàn phá nhà cửa, làng mạc các xã ven biển. Hành động phá hoại dồn dập
của kẻ thù hòng gây nên tâm lý căng thẳng, mệt mỏi trong nhân dân. Trong
chiến tranh đau thơng mất mát là thờng, nhân dân Quỳnh Lu quyết tâm biến
đau thơng thành hành động cách mạng. Toàn huyện dấy lên phong trào "nhằm
thẳng máy bay địch mà bắn", phấn đấu hạ nhiều máy bay, bắt sống nhiều tên
giặc lái. Ngoài các đơn vị trực chiến, các trận địa pháo cao xạ và các đơn vị
dân quân, nhân dân các xã đều tự trang bị vũ khí sẵn sàng đánh trả máy bay
địch khi chúng đến phá hoại quê hơng. Vì thế, trong cuộc chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ lần thứ nhất nhiều đơn vị dân quân cùng với nhân
dân các xã lập nên những chiến công to lớn.
Ngày 9/4/1965, tại Hoàng Mai trận địa pháo cao xạ phối hợp với dân
quân và nhân dân các xã đánh trả cuộc tấn công của máy bay Mỹ, với 185 quả
bom dội xuống cầu đờng và kho tàng, đã hạ đợc hai chiếc máy bay F4 của Mỹ.
Tiếp đến vào ngày 19/4/1965, tiểu đoàn 14 s đoàn 341, tiểu đoàn 8 và đồn
công an ở Lạch Quèn cùng với dân quân Quỳnh Lu đã bắn gục 3 chiếc máy
bay và bắt sống 3 tên giặc lái. [23 , 91].
Trên địa bàn các xã, các cấp chính quyền cùng với nhân dân tổ chức các
trận địa chiến đấu lập công, tiêu biểu: ngày 3/2/1966, tiểu đoàn 14 s đoàn 341
ở Cầu Giát có sự phối hợp của dân quân tự vệ bắn rơi 3 chiếc máy bay, trong
đó có chiếc A3J rơi tại chỗ, tên giặc lái nhảy dù xuống biển, cách bờ biển
Quỳnh Bảng khoảng 5 km. Đơn vị dân quân và nhân dân xã Quỳnh Bảng lập
tức lên thuyền ra khơi vây bắt giặc lái. Cuộc chiến đấu giữa một bên là thuyền
đánh cá trang bị súng bộ binh với một bên là các loại máy bay trang bị hiện
đại đã diễn ra quyết liệt, sau 1 tiếng đồng hồ dành dật trên biển kẻ thù buộc
phải rút lui, nhân dân đã tóm gọn tên giặc lái. Đây là chiến công lớn đầu tiên
của nhân dân Quỳnh Bảng có ý nghĩa mở đầu cho phong trào săn bắt giặc lái
trên biển cũng nh trên bộ. Chiến thắng này góp phần cổ vũ lớn lao tinh thần
khắp nơi, đặc biệt tại những địa điểm địch đánh phá ác liệt. Huyện đã huy
động toàn dân với hàng vạn ngày công đóng góp sửa chữa, tu bổ và làm nhiều
hầm mới, hệ thống hào chiến đấu xuyên suốt giữa các xã đến công sự chiến
đấu. Trong nhân dân vang lên khẩu hiệu "hầm hào cha đủ, ăn ngủ cha yên",
"mở rộng nhà bếp thu xếp nhà to chăm lo hầm hào", đã có tác dụng động viên
phong trào rất kịp thời. Chỉ trong một thời gian ngắn, Quỳnh Lu đã xây dựng
đợc hàng nghìn cái hầm chữ A và nhiều loại hầm khác, nhà nhà trong huyện
đều có hầm trú ẩn đúng tiêu chuẩn, quy cách, nhiều gia đình đã tự giở nhà để
** 21 **
làm hầm chữ A kiên cố. Để đảm bảo an toàn tính mạng cho nhân dân trong
quá trình lao động sản xuất, trên khắp các cánh đồng đều đợc xây dựng hệ
thống hầm, hào dọc các tuyến đờng giao thông, dày đặc các loại hầm nhất là
dọc tuyến quốc lộ 1A từ Hoàng Mai đến Yên Lý, cứ khoảng 20 m có một hầm
trú ẩn. Hệ thống hào với độ sâu từ 1 đến 1,5 m đợc đào hai bên đờng và cả
những tuyến đờng dẫn ra trận địa chiến đấu Dọc bờ biển Quỳnh Lu, tại các
cửa lạch quan trọng nơi tàu thuyền chở hàng chi viện thờng xuyên cập bến.
Nhân dân đã xây dựng nhiều cái hầm lớn để kịp thời cất dấu hàng hoá và hầm
trú ẩn của ng dân. Trong các cơ quan nh :bệnh viện, trờng học cũng đợc xây
dựng hầm và hệ thống giao thông đờng hào để di chuyển học sinh khi có
chiến sự xảy ra.
Phong trào phòng không nhân dân đợc toàn dân hởng ứng, hăng hái
tham gia các chiến dịch xây dựng hầm hào trên toàn huyện. Đến năm 1967,
nhân dân Quỳnh Lu đã xây dựng đợc 300.000 hầm chữ A và hơn 2000 hầm
các loại nh : hầm chiến thuật, hầm tròn ...[2 , 217]. Công tác ngụy trang đợc
đẩy mạnh khắp nơi, các xã phát động phong trào trồng cây xanh. Năm 1965
,toàn huyện đã trồng đợc 3,5 triệu cây, 1966 trồng thêm đợc 1 triệu cây. Nhờ
làm tốt công tác phòng không cho nên trong cuộc chiến ác liệt này, Quỳnh Lu
quân dân sâu sắc. Trong chiến tranh không ít gia đình đã tự nguyện dùng ngôi
nhà của mình làm kho chứa lơng thực, vũ khí của nhà nớc nh :gia đình ông
Bình (Quỳnh Nghĩa), bà Vi(Quỳnh Châu)... địch đánh phá ác liệt, nhiều tuyến
đờng giao thông h hỏng nặng, có những đoạn đờng bùn lầy lội, xe cộ qua lại
khó khăn, nhân dân đã chặt cây, giỡ cột nhà, cánh cửa dùng để lát đờng cho xe
qua.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của ông cha, thế hệ nam nữ thanh niên
Quỳnh Lu xông pha trên khắp các chiến trờng . Nhiều trận địa chiến đấu, săn
máy bay Mỹ chủ yếu là nữ thanh niên nh : trận địa pháo 75 ly ở Quỳnh Liên
gồm 23 đồng chí đã dũng cảm chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc trên
địa bàn xã. Ngoài ra đơn vị pháo Quỳnh Liên còn phối hợp với các xã bạn
chiến đấu bảo vệ vùng biển quê hơng. Trung đội nữ dân quân xã Quỳnh Long
luôn đạt danh hiệu là đơn vị sản xuất và chiến đấu giỏi. Năm 1967, đơn vị đã
phối hợp với dân quân Quỳnh Thuận bắn rơi 1 máy bay F 4 và 2 chiếc F8 , đơn
vị dân quân Quỳnh Long còn phối hợp với đơn vị pháo mặt đất bắn cháy một
tàu chiến, bắt sống tên giặc lái ngoài biển. Các đồng chí trong đội trực chiến
Quỳnh Long đã xung phong vào Nghi Lộc phối hợp với huyện bản chiến đấu.
Lực lợng dân quân và nhân dân huyện đã tham gia hàng vạn ngày công
để đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn huyện. Các tuyến đờng giao thông
chiến lợc qua huyện, địch đánh phá làm h hỏng nặng, nhân dân nhanh chóng
chuyển đất đá, gỗ ,san lấp hố bom kịp thời cho xe chạy qua. Ngay cả những
em đang độ tuổi học sinh lớp 6, lớp 7 cũng tham gia công tác nguỵ trang cho
** 23 **
xe, pháo. Cứ sau mỗi lần có xe chạy qua các em đã dùng chổi quét sạch dấu
vết, tránh tình trạng địch phát hiện chặn đánh.
Vào thời điểm năm 1966 - 1967 cuộc chiến ở miền Nam vô cùng khốc
liệt, lực lợng thanh niên, trai tráng ở Quỳnh Lu lên đờng chiến đấu. Nhng
Đồng thời với công cuộc đấu tranh chống lại hành động phá hoại của giặc
Mỹ, bảo vệ quê hơng. Quỳnh Lu bớc vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất, từng bớc ổn định đời sống nhân dân, chi viện cho chiến trờng miền Nam.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của mình trong cuộc chiến chống chiến
tranh phá hoại của Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Lu nêu cao quyết tâm
"vừa chiến đấu vừa sản xuất ", góp phần cùng với nhân dân cả nớc hoàn thành
sự nghiệp thống nhất nớc nhà. Đẩy mạnh sản xuất đã trở thành một chiến lợc
đợc toàn dân hởng ứng nồng nhiệt. Bởi thế dù chiến tranh có ác liệt đến đâu,
máy bay Mỹ ném bom ồ ạt, gây nhiều đau thơng tổn thất, dới sự lãnh đạo trực
tiếp của Đảng bộ huyện, nhân dân Quỳnh Lu phát huy truyền thống cần cù
sáng tạo, chịu khó trong lao động, quyết tâm vợt qua mọi hoàn cảnh, quyết
sinh tử với kẻ thù. Trong khung cảnh bom nổ xé trời vẫn vang lên khẩu hiệu
"tay cày tay súng " "tay búa tay súng " "một tấc không đi một ly không rời",
bám đồng bám ruộng để sản xuất. Thời kỳ này, việc đẩy mạnh sản xuất nông
nghiệp đợc xem là chiến lợc kinh tế của huyện, bởi lẻ nó tạo nguồn lơng thực,
thực phẩm cung cấp cho hơn 17 vạn dân trong huyện, ngoài ra còn phục vụ
cho bộ đội và cả chiến trờng miền Nam, đồng thời việc phát triển nông nghiệp
củng phát huy thế mạnh của huyện .Vì thế nông nghiệp đợc chú trọng đầu t,
mà trớc hết là công tác thuỷ lợi trở thành khâu then chốt, quan trọng bậc nhất
góp phần quyết định sản lợng của ngành. Huyện đã phát động chiến dịch toàn
dân làm thuỷ lợi, với khối lợng đào đắp là 1.790.000 m3 .Năm 1965, huyện đã
xây dựng đợc 64 hồ chứa nớc dùng để cung cấp nớc cho đồng ruộng ,bên cạnh
đó các biện pháp kỷ thuật đợc áp dụng trong sản xuất, đặc biệt là việc bố trí
lại nguồn nhân lực giữa các vùng trong huyện. Một bộ phận c dân ở đồng
bằng ven biển đợc điều lên miền núi phía Tây của huyện phát triển vùng kinh
tế mới .Năm 1965, đã khai phá đợc 1451 ha đất canh tác, năm 1968 toàn
huyện có hơn 6000 ha đợc khai phá với 3 vạn ngời lên sinh cơ lập nghiệp ở
miền núi [28, 19]. Nhờ vậy sản lợng lơng thực không ngừng tăng lên, nếu năm
1963 chỉ có hợp tác xã đạt năng suất xấp xỉ 4 tấn/ha, thì năm 1965, sản lợng
thóc đạt 35000 tấn và đa năng suất lúa lên 4,5 tấn /ha .