Phương pháp dạy học dấu câu tiếng việt cho học sinh lớp 4, lớp 5 - Pdf 32

1

Mở ĐầU
1. Lý DO CHọN Đề TàI

Trong hoạt động giao tiếp bằng chữ viết, dấu câu có vai trò rất
quan trọng. Dấu câu không những là hình thức ngắt đoạn diễn đạt của lời
nói, làm cho lời nói mạch lạc, rõ ràng mà còn là hình thức biểu thị nhiều
trạng thái cảm xúc khác nhau: sự bình giá, chê bai, cổ vũ, khuyến khích,
nghi hoặc, đồng tình, phản đối hoặc cùng một lúc biểu thị nhiều trạng
thái tình cảm đó. Vì vậy, để giao tiếp bằng chữ viết đạt hiệu quả, cả ngời
tạo lập văn bản lẫn ngời tiếp nhận văn bản đều cần nắm vững chức năng
của dấu câu. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, trong đó, các
quan hệ ngữ pháp không đợc diễn đạt bằng hình thái biến hoá của từ.
Cùng với các phơng pháp cú pháp nh trật tự từ ngữ điệu, dấu câu có tác
dụng rất lớn trong việc phân chia lời nói thành các bộ phận có ngữ nghĩa,
làm cho quan hệ ý nghĩa, ngữ pháp các từ, giữa các bộ phận trong câu trở
nên rõ ràng, chính xác.
Về mục đích: Dấu chấm câu đợc ngời viết sử dụng để giúp cho việc
trình bày những t tởng và những cảm xúc trong bài viết thêm rõ ràng và
ngời đọc có thể nhờ đó hiểu thêm bài viết dễ dàng hơn.
Về chức năng: Dấu câu là phong tiện vạch ra các đờng ranh giới
giữa câu với câu, giữa các bộ phận trong câu với nhau, ranh giới giữa các
mệnh đề, giữa các bộ phận trong câu với nhau, giữa các bộ phận nòng
cốt và bộ phận mở rộng.
Về mặt biểu hiện: Dấu câu là hình thức của ngôn ngữ viết về những
mặt nội dung nó có liên quan đến ngữ điệu của lời nói, đến ý nghĩa thông
báo.
Về mặt liên kết văn bản: Cùng với các từ ngữ chuyển tiếp và các
phơng tiện khác, dấu câu cũng có đóng góp một phần quan trọng trong
việc tạo nên tính liên kết văn bản. Vì vậy để giao tiếp bằng chữ viết đạt

văn phạm (Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm) Những năm
60, dấu câu đợc bàn đến sâu hơn trong các cuốn: Nghiên cứu về ngữ
pháp Việt Nam (Nguyễn Kim Thản), Đi tới thống nhất một số quy tắc
dùng dấu câu (Đào Thản), Nói và viết đúng tiếng Việt (Nguyễn Kim
Thản, Hồ Lê, Lê Xuân Thại, Hồng Dân) Tiếp đó, nhiều tài liệu nghiên


3
cứu về ngữ pháp tiếng Việt đều nói đến dấu câu, nh cuốn Ngữ pháp tiếng
Việt (Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam), 99 biện pháp tu từ tiếng Việt
(Đinh Trọng Lạc), Bàn về những cơ sở của việc dùng dấu câu trong tiếng
Việt (Lý Toàn Thắng), Phơng pháp dạy học dấu câu tiếng Việt ở trờng
phổ thông (Nguyễn Xuân Khoa), Dấu câu tiếng Việt và cách dạy ở trờng
phổ thông (Nguyễn Xuân Khoa), Dạy học ngữ pháp ở tiểu học (Lê Phơng Nga) hay Ngữ pháp tiếng Việt (Đỗ Thị Kim Liên),... Nhìn chung,
các tài liệu này tập trung tập trung đề cập các vấn đề: cơ sở sử dụng dấu
câu, chức năng của dấu câu, các lỗi về dấu câu...Vấn đề nội dung và
PPDH dấu câu trong nhà trờng chủ yếu đợc đề cập đến cập trong hai
cuốn sách của Nguyễn Xuân Khoa, song tác giả mới giới thiệu sự tơng
quan giữa ngữ điệu và dấu câu, vai trò của sự quan sát ngữ điệu trong
việc giảng dạy dấu câu, những nguyên tắc giảng dạy dấu câu, các kiểu
bài tập cơ bản sử dụng trong việc dạy dấu câu...Vấn đề PPDH dấu câu
cha đợc đề cập rõ nét.
Các tài liệu nêu trên cha có những chỉ dẫn cụ thể, thiết thực đối với
việc dạy và học dấu câu trong nhà trờng. Luận văn của chúng tôi muốn
xác định rõ PPDH dấu câu sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS
tiểu học.
3. MụC ĐíCH Và NHIệM Vụ NGHIÊN CứU

3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm phát hiện thực trạng về chất lợng dạy học dấu câu và những

chất lợng dạy học dấu câu ở nhà trờng tiểu học sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
6. PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

Để hoàn thành đề tài này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã
sử dụng các phơng pháp sau:
6.1. Phơng pháp nghiên cứu lí thuyết nhằm nghiên cứu lí thuyết về
dấu câu và việc ứng dụng dấu câu Tiếng Việt cho HS lớp 4, lớp 5.
6.2. Phơng pháp điều tra, khảo sá t nhằm tìm hiểu tình hình dạy
học dấu câu ở tiểu học hiện nay và thu thập các số liệu cần thiết cho việc
nghiên cứu.


5
6.3. Phơng pháp thống kê nhằm phân loại, đánh giá nội dung,
PPDH, kết quả học tập dấu câu của HS hiện nay và xử lí kết quả thu đợc
sau khi tiến hành thực nghiệm.
6.4. Phơng pháp thực nghiệm s phạm nhằm xem xét, xác nhận tính
đúng đắn, hợp lí và tính khả thi của phơng pháp dạy học dấu câu mà luận
văn đề xuất.
7. ĐóNG GóP CủA LUậN VĂN

Luận văn đã giải quyết đợc các nội dung sau đây:
- Dựng lại thực trạng dạy học dấu câu: thực trạng sử dụng dấu câu
của HS và thực trạng nhận thức của GV ở tiểu học và một số hiện tợng sử
dụng dấu câu trên các phơng tiện thông tin bằng chữ viết có ảnh hởng
đến việc dạy học dấu câu trong nhà trờng.
- Xây dụng cơ sở lý luận của PPDH dấu câu ở tiểu học.
- Đề xuất PPDH dấu câu hiệu quả hơn so với PPDH hiện hành.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ hỗ trợ GV tiểu học trong
việc nâng cao hiệu quả dạy học dấu câu, và đây là tài liệu tham khảo về

những hạn chế của ngôn ngữ nói (hạn chế về không gian và thời gian).
Nếu nh trong ngôn ngữ nói, các phơng tiện trợ lực là ngữ điệu, cử chỉ,
điệu bộthì trong ngôn ngữ viết phơng tiện trợ lực là các dấu câu. Nó góp
phần làm cho việc giao tiếp của con ngời (bằng chữ viết) đợc dễ dàng
hơn: Dấu câu giúp ngời viết thể hiện đợc ý định của mình một cách
chính xác, rõ ràng, logic, khoa học và kể cả thể hiện những sắc thái tình
cảm tinh tế.
Công dụng cơ bản của dấu câu là ở chỗ chỉ ra sự phân chia lời nói
thành các bộ phận có ý nghĩa để biểu đạt t tởng trong chữ viết. Ngoài
công dụng cơ bản này, dấu câu còn có vai trò phụ là: dấu câu đôi khi còn
chỉ ra một sắc thái ý nghĩa nào đó của một bộ phận của lời nói có một
dấu nào đó đặt sau. Có thể chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận
của câu có dấu câu đặt ở giữa.


7
Do công dụng cơ bản của dấu câu là chỉ ra sự phân chia lời nói
thành các bộ phận có ý nghĩa để biểu đạt t tởng trong chữ viết, cho nên
sự vắng mặt của dấu câu trong một bài văn không những gây khó khăn
rất lớn cho sự hiểu nghĩa của bài văn mà còn có thể dẫn đến sự hiểu lầm
hoặc hiểu bài văn theo nhiều nghĩa.
Thí dụ, nếu ta viết một câu nh sau: Càng nghĩ đến công lao các
anh chị em càng cảm phục thì câu này có thể hiểu theo nhiều nghĩa, tuỳ
thuộc vào vị trí đặt dấu phẩy:
1. Càng nghĩ đến công lao, các anh chị em càng cảm phục.
2. Càng nghĩ đến công lao các anh, chị em càng cảm phục.
3. Càng nghĩ đến công lao các anh chị, em càng cảm phục.
4. Càng nghĩ đến công lao các anh chị em, càng cảm phục.
Nh vậy, cùng với các yếu tố khác của ngôn ngữ (từ, cấu trúc cú
pháp), dấu câu dùng để biểu thị t tởng và tình cảm trong lời nói bằng chữ

cái cơ sở duy nhất của dấu câu.
Để có thể hiểu thêm về cơ sở ngữ điệu của việc dùng dấu câu tiếng
Việt, chúng ta cần dựa vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết. Vì ngôn ngữ viết giống ngôn ngữ nói ở chỗ đều là sự nói ra cùng
những cái nh nhau, cho nên trong hoạt động giao tiếp, khi đợc dùng để
chuyển mã ngôn ngữ từ nói sang viết, giữa chúng có sự tơng hợp. Sự tơng
hợp biểu hiện rõ khi ngôn ngữ viết đợc dùng để ghi lại lời nói miệng.
Những hiểu biết về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (sự khác biệt và
mối quan hệ giữa chúng) sẽ giúp chúng ta lý giải vì sao sự tơng hợp giữa
ngữ liệu và dấu câu ít khi theo tỉ lệ 1-1. Mặt khác, những hiểu biết đó là
căn cứ để chúng ta phân biệt:
a) Những trờng hợp dùng dấu câu ghi lại những chỗ ngừng nghỉ do
tác động của lời nói miệng.
b) Những trờng hợp dùng dấu câu có tác động trở lại lời nói miệng.
Thuộc về (a) là những trờng hợp dùng dấu câu theo quy định
chung nhằm báo hiệu những chỗ ngừng nghỉ trong lời nói, báo hiệu sự
lên giọng xuống giọng ứng với kiểu phát ngôn.
Ví dụ: - Sau dấu chấm quãng ngừng giọng dài hơn sau dấu phẩy.


9
- Dấu chấm đặt cuối câu tờng thuật báo hiệu khi đọc phải hạ
giọng, dấu chấm than đặt cuối câu cảm thán báo hiệu khi đọc giọng phải
cao hơn giọng ở cuối câu hỏi.
Mặc dù có những quy ớc chung cho việc dùng dấu câu, dựa vào cơ
sở ngữ điệu, nhng ở một số trờng hợp khi viết cá nhân tuân thủ những
quy định đó không thật nghiêm ngặt. Chẳng hạn, giữa thành phần phụ
trạng ngữ với chủ ngữ - vị ngữ nòng cốt có thể dùng dấu phẩy, có thể
không. Trong thực tế, cơ sở ngữ điệu của việc dùng dấu câu không chỉ
giúp ngời viết diễn đạt gãy gọn nội dung, mà còn hớng đến ngời đọc,

nghi vấn. Năm dấu chấm hỏi đặt cuối năm câu nghi vấn tu từ vừa bổ
sung sắc thái hoài nghi của ngời kể chuyện, vừa hỗ trợ cho lời, làm nổi
bật những cảm giác thật là rối rắm, thật là pha trộn, thật là mau biến
đổi của nhân vật (Nam Cao, sđd, tr. 186). Nếu thay các dấu chấm vào vị
trí các dấu chấm hỏi, đoạn trích chỉ thuần một giọng điệu kể chuyện,
dụng ý tạo ra phức điệu thẩm mỹ của tác giả sẽ không thực hiện đợc,
điều đó làm cho lời văn nghệ thuật kém sinh động.
(4): Sóng vùng lên, cuốn, réo, đuổi nhau, va vào nhau té bọt, ngụp
xuống, trồi lên, đã lấy một sức mạnh hỗn độn và bất ngờ trong gió vừa
cuồng lộng thổi.
(Bùi Hiển, Văn học 12, Tập 1, tr.183, Ban KHXH, Nxb GD,
1996)
Các dấu phẩy trong ví dụ trên đợc dùng để ngắt các động từ vị ngữ
thành những nhịp ngắn, dài. Cách ngắt nhịp nh vậy phù hợp với chủ định
của tác giả trong việc tái hiện cảnh tởng hỗn độn, náo loạn của sóng dữ và
của gió lộng ngoài biển khơi.
Những dấu câu trong các ví dụ trên có tác dụng tạo giá trị tu từ cho
câu văn. Ngoài chức năng tái hiện ngữ điệu, chúng còn bổ sung sắc thái
biểu cảm cho lời và góp phần tạo tính mạch lạc cho văn bản nghệ thuật.
(b) Cơ sở cấu tạo ngữ pháp:
Trong ba cơ sở dùng dấu câu, cơ sở ngữ pháp đợc nhiều nhà nghiên
cứu cho là căn cứ chủ yếu. Cấu tạo ngữ pháp phải là căn cứ chủ yếu, mục
đích của câu nói, tiết tấu của câu nói chỉ là căn cứ phụ. Khi chuẩn mực
hoá cách dùng cách dùng dấu câu, cần phải lấy cấu tạo ngữ pháp làm cơ
sở chủ yếu. Bởi vì đó là một cơ sở hết sức khách quan và chắc chắn, để


11
xác định các quy tắc dùng dấu câu và phân biệt đâu là cách dùng không
đúng. Đặt dấu câu thực chất là làm hai công việc: xác định vị trí đặt dấu

12
Đoạn trích trên gồm 5 câu văn. Dấu chấm cuối câu 3 và câu 4 là
những dấu câu tu từ. Cuối câu 3 dấu chấm đợc dùng để phân đoạn văn
bản thành 2 đoạn nhỏ. Ba câu văn thuộc đoạn nhỏ trớc có chức năng tờng
thuật hoạt động bìu díu của 3 ngời. Hai câu thuộc đoạn nhỏ sau khắc học
hình ảnh của họ ở một không gian xác định: ở cuối đờng. Cuối câu 4, dấu
chấm đợc dùng làm phơng tiện tách biệt trạng ngữ vị trí (vốn của câu
này) thành câu riêng. Nhờ vậy ở cuối đờng nổi lên nh một thông báo
đáng chú ý - thông báo về nơi đã ghi lại hình ảnh đẹp, đầy cảm động của
3 con ngời giàu lòng nhân ái: Bóng họ ngả vào nhau.
Dấu hai chấm tu từ ở ví dụ trên đợc dùng với chủ ý riêng của nhà văn.
Chúng góp phần bổ sung giá trị tạo hình - biểu cảm cho đoạn văn nghệ
thuật.
(c) Cơ sở ngữ nghĩa:
Ngoài hai cơ sở ngữ điệu và ngữ pháp, cơ sở ngữ nghĩa cũng đợc
nhắc đến khi xác định căn cứ dùng dấu câu tiếng Việt.
Cấu tạo cú pháp và ngữ điệu cho phép xác định vị trí dấu câu và
nhóm những dấu câu. Quan hệ ý nghĩa (hay logic) giữa các phần trong
câu giúp cho việc lựa chọn dấu câu cụ thể.
Trong Tiếng Việt, sau câu tờng thuật thờng dùng dấu chấm; dấu
chấm cảm đợc dùng sau câu cảm thán hay câu cầu khiến. Tức là việc lựa
chọn dấu câu nh thế nào là tuỳ thuộc vào mục đích câu nói. Không có sự
thống nhất giữa mục đích câu nói và dấu câu, nội dung, ý nghĩa của câu
nói có thể thay đổi.
Bên cạnh những cơ sở khách quan vừa nêu, một cơ sở vừa có tính
khách quan vừa có tính chủ quan là mối liên hệ ý nghĩa giữa các câu và ý
đồ nghệ thuật của tác giả.
Tìm hiểu cách dùng dấu câu và hiệu quả của việc dùng dấu câu
tiếng Việt dựa vào cơ sở ngữ nghĩa, theo chúng tôi, cần chú ý đến mối
quan hệ giữa dấu câu với văn bản và với ngời viết. Là loại ký hiệu đợc

nghĩa: nó có thể quan hệ chặt chẽ với câu trớc và câu sau, có thể bổ sung
ý nghĩa cho câu đó hoặc cùng các câu đó thể hiện một tiền đề tài hay
một đề tài giao tiếp. ý đồ nghệ thuật của tác giả và mối liên hệ về mặt ý
nghĩa giữa các bộ phận trong câu, giữa các câu ít nhiều đợc diễn đạt nhờ
cách dùng dấu câu.
Dựa vào từng cơ sở dùng dấu câu tiếng Việt, chúng ta có thể phân
biệt những cách dùng dấu câu theo quy định chung của xã hội và những
cách dùng dấu câu theo chủ ý riêng của ngời viết. Những cách dùng dấu


14
câu theo quy định của xã hội thờng mang tính khách quan, những cách
dùng dấu câu nh vậy dễ nêu thành quy tắc. Những cách dùng dấu câu
theo chủ ý của ngời viết thờng góp phần tạo giá trị tu từ cho câu trong
văn bản.
Tìm hiểu dấu câu trong mối quan hệ với mục đích nói, ngữ điệu,
ngữ nghĩa, với kết cấu ngữ pháp và các phơng tiện, biện pháp tu từ để có
căn cứ đánh giá nội dung, PPDH dấu câu đang đợc thực hiện trong nhà
trờng; xác định đợc nguyên nhân của việc mắc lỗi trong sử dụng dấu câu
của HS để tìm cách khắc phục; xác định PPDH dấu câu cho HS tiểu học
đảm bảo tính khoa học, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho HS lớp 4,
lớp 5 nói riêng và cho HS tiểu học nói chung.
1.1.1.4. Phân loại các dấu câu tiếng Việt
Căn cứ vào vị trí và chức năng của các dấu ngắt câu, có thể chia
các dấu câu thành ba nhóm lớn:
- Nhóm các dấu câu dùng ở cuối câu: dấu chấm (.), dấu chấm hỏi
(?), dấu chấm cảm (!), dấu chấm lửng () (riêng dấu chấm lửng cũng
có thể dùng ở đầu câu, ở giữa câu nhng chủ yếu là ở cuối câu).
- Nhóm các dấu câu dùng ở giữa câu: dấu phẩy (,),dấu chấm phẩy
(;), dấu hai chấm (:) (riêng dấu hai chấm cũng có thể đợc dùng ở cuối

tiếng hoạ mi lảnh lót vang xa.
(Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp Tiếng Việt trang 144)
- Để tách một bộ phận nào đó từ câu đầy đủ nhằm mục đích nhấn
mạnh. Có thể tách trạng ngữ, bổ ngữ, vị ngữ,
(11): - Đành phải vào nằm màn đắp chăn nhng không sao ngủ đợc.
Nghĩ loăng quăng. Vợ con. Bà cụ Chuẩn. Gia đình anh ta. Bà cụ Man.
(Nam Cao - ở rừng)
Tách vị ngữ: nghĩ loăng quăng
Tách bổ ngữ: Vợ con, bà cụ Chuẩn, gia đình anh ta, bà cụ Man.
(12): Huấn đi trạm máy. Một mình. Trong đêm.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)


16
Tách bổ ngữ cách thức: một mình và bổ ngữ thời gian: trong
đêm.
Dấu chấm dùng để tách câu ghép
- Cuối một vế của câu ghép mà vế thứ hai phát triển dài và có thể
thành một câu khác rồi.
(13): - Chúng ta nhất định thắng. Bởi vì chúng ta. Có chính nghĩa.
Bởi vì nhân dân ta đoàn kết một lòng. Bởi vì nhân dân thế giới ủng hộ ta.
(Hồ Chí Minh)
Tách ý cuối của một câu dài thành một câu độc lập, đứng đầu
câu tách là từ và theo kiểu (.Và).
(14): Từng đàn chim én bay lợn kêu ríu rít in những dấu chấm đen
trên mặt cỏ xanh rờn. Gió lộng mang về mùi bông tràm, mùi sình ải, mùi
khói rơm, mùi phân trâu bò. Và xa vắng có tiếng con nghé gọi mẹ trên
cánh đồng xa.
(Lê Văn Thảo)
Dấu chấm tách vế của câu ghép thành các câu riêng biệt.

- Dấu chấm hỏi dùng để đặt ở cuối câu có nội dung nghi vấn.
- Cuối câu hỏi trực tiếp:
(19): Anh có đi không?
- Cuối câu có cấu trúc tờng thuật nhng có nội dung và ngữ điệu
nghi vấn.
(20): Nó không làm bài?
- Cuối câu hỏi tu từ:
(21): Em không nghe mùa thu?
- Dùng cuối câu nghi vấn trong đoạn văn đối thoại hỏi đáp:
(22): Trung băn khoăn:
- Sao chữ bố đẹp thế mà thầy còn chê?
Bố bảo:
- Đấy là do sau này bố tập viết rất nhiều, chữ mới đợc nh vậy.
- Thế bố có đợc thầy khen không?
- Giọng bố buồn hẳn:
- Không. Năm bố học lớp ba, thầy đi bộ đội rồi hi sinh.
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 120)


18
- Dùng trong câu có cấu tạo nghi vấn nhng về ý nghĩa không phải là
câu nghi vấn.
(23):Mỗi chiều thứ bảy, Thứ thấy lòng nhẹ bỗng. Không những
chỉ vì ngày hôm sau đợc nghỉ? Còn vì tối hôm ấy và cả ngày hôm sau
nữa không phải trông thấy Oanh cau có và nghe Oanh gắt gỏng.
(Nam Cao - Sống mòn)
- Dùng trớc câu lửng để kết thúc câu:
(24): Đã đành rằng thế nhng tôi bán vờn, cho nó bao nhiêu tiền hết
cả. Nó vợ con cha có. Ngộ nhỡ nó không lấy gì lo đợc lại bán vờn thì
sao?..

từ chỉ ý nghĩa nghi vấn nh: ai, gì, nào, không, cha, đâu ở trong câu.
(29): Em không biết cô giáo đã đến cha. (Câu kể)
(30): Có nơi đâu đẹp bằng quê hơng ta! (Câu cảm)
Ngoài ra, dấu chấm hỏi còn đợc dùng cùng với dấu chấm cảm và
chấm lửng trong nhóm dấu đồng hiện (?!...)
Khi đọc, gặp dấu chấm hỏi ở cuối câu phải nghỉ hơi một quãng
bằng khoảng thời gian đọc một chữ, cuối câu lên giọng (nhấn mạnh vào
nội dung cần hỏi).
Khi viết, sau dấu chấm hỏi, chữ cái đầu tiên phải viết hoa.
Dấu chấm cảm (!)
Dấu chấm cảm dùng để kết thúc một câu cảm xúc hoặc một câu
cầu khiến. Dấu chấm cảm thể hiện cảm xúc, thái độ, tình cảm, ý chí,
nguyện vọng, tơng ứng với một số tình thái từ hoặc phụ từ thích hợp, thờng đợc dùng trong những trờng hợp sau:
- Dấu chấm cảm dùng ở cuối câu cảm xúc (câu cảm) biểu thị cảm
xúc chủ quan.
(31): Ơi Việt Nam! Việt Nam ơi!
Việt Nam! ta gọi tên ngời thiết tha.
(Tiếng Việt 5, tập 1, trang 7)
- Dấu chấm cảm dùng ở cuối câu cầu khiến:
* Biểu thị mệnh lệnh thúc giục, cỗ vũ, động viên:


20
(32): Đi vào trong nhà kẻo nắng, cháu!
(Tiếng Việt 4, tập 1, trang 16)
(33): Gắng tí nữa! Sắp xong rồi!
* Biểu thị sự gọi đáp, hiệu triệu:
(34): Ba ơi! Có khách của ba đây này.
- Dấu chấm cảm đợc dùng sau câu khẳng định:
(35): Một hôm, bỗng đâu trên những cành cây báo ra một tin

không cần lời bình.
(41): Bà ta là ngời phụ nữ chính chuyên!!!
(Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp tiếng Việt, trang 146)
- Dấu chấm cảm có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (!) để biểu thị thái
độ mỉa mai hay dùng kết hợp với dấu chấm hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc
đơn (!?) để biểu thị thái độ vừa mỉa mai vừa hoài nghi. Những dấu này
thờng đặt sau dấu chấm (hay tơng đơng) ngắt câu ở cùng chỗ.
(42): Đài Bắc Kinh đa tin lập lờ: Bộ đội Việt Nam v ợt qua biên
giới tấn công Trung Quốc. (!?)
(Tiếng Việt 3, trang 170)
Đối với dấu chấm cảm khi đọc cần có sự lên giọng hay xuống
giọng thích hợp. Khi đọc, sau dấu chấm cảm phải nghỉ hơi một quãng
bằng khoảng thời gian đọc một chữ (hoặc có thể tuỳ thuộc vào nội dung
câu mà nó đứng sau). Khi viết, chữ cái đầu tiên sau dấu chấm cảm phải
viết hoa.
Dấu chấm lửng ( )
Dấu chấm lửng dùng để kết thúc một câu cha trọn vẹn về nội dung,
ngời viết cha nói hết ý hoặc không định nói hết ý, không tiện nói ra và có
thể có chỗ cha đợc hoàn chỉnh về mặt cấu tạo. Dấu chấm lửng có thể đặt
ở cuối câu, giữa câu hoặc đầu câu nhng nhiều hơn, phổ biến hơn là cuối
câu.
- Dấu chấm lửng dùng để biểu thị thái độ ngập ngừng, sự đứt
quảng của lời nói do xúc động, do hơi thở yếu, do ngắc ngứ.
(43): Ông... bà,... giữ... lấy... nó... cho... tôi
(Nguyễn Công Hoan)


22
- Dấu chấm lửng dùng ở cuối câu (ở giữa câu, có khi ở đầu câu) để
biểu thị rằng ngời viết đã không diễn đạt hết ý (thay thế phần không đợc


23
Dấu chấm lửng biểu thị cho cả trích đoạn văn, thơ (trích đoạn này
đợc đóng khung bằng dấu ngoặc kép).
(48): Khổ thơ thứ 3: Đất nghèonh xa cho biết nhân dân ta có
những truyền thống tốt đẹp gì?
(Tiếng Việt 4, tập 1, trang 8)
- Dấu chấm lửng dùng để biểu thị, phản ánh chỗ kéo dài giọng
(làm giảm nhịp điệu câu văn) chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ
biểu thị một nội dung bất ngờ, tạo ra trạng thái tâm lý nh mỉa mai, hài hớc, chờ đợi
(49):

Quan đi kinh lý trong làng
Đâu cógà vịt thì lùng về sơi
(Tú Mỡ)

- Ngoài ra, dấu chấm lửng còn đợc dùng đặt sau dấu chấm hỏi
(?...), sau dấu chấm cảm (!...), sau dấu chấm hỏi và dấu chấm cảm
(?!...); dấu chấm lửng đợc đặt trớc dấu chấm cảm (!) để biểu thị một số
sắc thái, ý nghĩa tình cảm nh: ngời hỏi muốn biết nhiều hơn những thông
tin ngoài phạm vi câu hỏi, hoặc muốn biết cảm xúc, ý nghĩ của ngời đợc
hỏi (sự đồng tình hay phản đối), cảm xúc tiếp ngay sau câu văn còn kéo
dài.
(50): Nếu mẹ không chịu, thì hắn sẽ đi. Không thể sống với ngời
đàn bà nh thế đợc!...May cho hắn: một hôm vợ hắn trốn đi.
(Nam Cao)
Đối với dấu chấm lửng, khi đọc phải tuỳ từng trờng hợp cụ thể mà ngắt
giọng cho phù hợp. Thông thờng, sự ngng lời dài hay ngắn tuỳ thuộc vào
nội dung câu mà dấu chấm lửng đứng sau hoặc tuỳ vào từng văn cảnh.
Nếu dấu chấm lửng đặt ở cuối câu thì sau dấu ấy phải nghỉ hơi một

(55): Món ấy tuy hạ, song, còn hơn nằm nhịn đói.
(Nguyễn Công Hoan - Bớc đờng cùng)
*Dấu phẩy chỉ ra ranh giới giữa phần gọi đáp (hô ngữ) với phần
còn lại của câu.
(56): Trung ơi, chị Minh đi học à?


25
- Dấu phẩy dùng để ngăn cách các thành phần câu có quan hệ đẳng
lập, các thành phần có chức vụ ngữ pháp nh nhau (đồng chức) khi không
dùng kết từ để liên kết và phân lập chúng.
* Ngăn cách các thành phần chính.
+ Ngăn cách chủ ngữ:
(57): Cóc, mận, mãng cầu, chôm chôm, vú sữa, xoài tơng, xoài
cátmọc chen nhau.
(Tiếng Việt 4, tập 1, trang 55)
+ Ngăn cách các vị ngữ:
(58): Một hồi lâu, chiếc dao nóng nảy không chịu làm theo ý Michi-a. Bao giờ nó cũng nóng nảy, vội vàng tìm một cách tuột bên này,
xén lẹm bên kia, nhng không đợc, Mi-chi-a bắt nó phải kiên nhẫn.
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 24)
+ Ngăn cách các thành tố phụ trong các cụm từ đảm nhận làm
thành phần chính trong câu.
+ Ngăn cách định tố:
(59): Cả một đoàn ngời gầy guộc, xanh xao, rách rới, lôi thôi lại hiện ra.
(Nam Cao)
+ Ngăn cách bổ tố:
(60): Hợp tác xã trang bị cho các cụ giờng, chiếu, chăn màn, chum
vại, xoong nồi, ấm pha trà.
- Dấu phẩy đặt ở giữa chủ ngữ và vị ngữ khi cần làm rõ nhịp điệu của
câu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status