Khóa luận tốt nghiệp
Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
=== ===
đậu thị lơng anh
nhịp điệu trong thơ lục bát
huy cận
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành ngôn ngữ
Vinh, 5/2007
= =
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
43
Khóa luận tốt nghiệp
Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
=== ===
nhịp điệu trong thơ lục bát
huy cận
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu.................................................................1
2. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................2
3. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.....................................................................2
4. Đóng góp của khóa luận.............................................................................................4
5. Bố cục của khóa luận..................................................................................................4
Chơng 1: Một số vấn đề chung.........................................................................................5
1. Vài nét về Huy Cận và thơ Huy Cận...........................................................................5
1.1. Nhà thơ Huy Cận (1919 - 2005)..........................................................................5
1.2. Thơ Huy Cận.......................................................................................................7
2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài........................................................................8
2.1. Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi...................................................................8
2.2. Thể thơ lục bát..................................................................................................10
2.3. Nhịp điệu và nhịp điệu trong thể thơ lục bát.....................................................11
Chơng 2: Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận............................................................14
1. Nhịp điệu trong câu thơ lục bát.................................................................................14
1.1. Nhịp điệu trong câu lục.....................................................................................14
1.2. Nhịp điệu trong câu bát.....................................................................................19
1.3. Nhịp điệu trong câu lục bát...............................................................................26
1.4. Nhận xét............................................................................................................43
2. Cách bố trí các loại nhịp trong bài thơ lục bát Huy Cận...........................................49
2.1. Bài thơ có hai loại nhịp.....................................................................................49
2.2. Bài thơ có ba loại nhịp.......................................................................................50
2.3. Bài thơ có bốn loại nhịp....................................................................................54
2.4. Bài thơ có năm loại nhịp...................................................................................57
2.5. Bài thơ có sáu loại nhịp.....................................................................................61
2.6. Bài thơ có bảy loại nhịp.....................................................................................64
2.7. Bài thơ có tám loại nhịp....................................................................................67
2.8. Bài thơ có chín loại nhịp...................................................................................70
2.9. Nhận xét............................................................................................................73
Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Nguyễn Hoài
Nguyên đã hớng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
này.
Cho tôi đợc gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, cùng bạn bè và
gia đình đã động viên giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành tốt khóa luận này. Tuy nhiên do thời gian, nguồn t liệu và khả năng có
hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi hy
vọng sẽ nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để
khóa luận đợc hoàn chỉnh hơn.
Vinh, tháng 5 năm 2007.
Sinh viên
Đậu Thị Lơng Anh
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
47
Khóa luận tốt nghiệp
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Huy Cận có vị trí quan trọng. Là
một nhà thơ lớn, Huy Cận đồng thời còn là một nhà chính trị, nhà văn hóa, có nhiều đóng
góp cho sự nghiệp văn học, văn hóa và sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Nổi tiếng trên thi đàn từ phong trào Thơ mới, từ Lửa thiêng đến nay,
Huy Cận đã có một gia tài thơ khá đồ sộ với 20 tập thơ và trở thành cây đại
Đối tợng nghiên cứu của khóa luận là khảo sát nhịp điệu trong thơ
lục bát của Huy Cận, cụ thể là khảo sát nhịp thơ và cách ngắt nhịp câu thơ,
khổ thơ, bài thơ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khóa luận phải giải quyết những vấn đề sau đây:
- Khảo sát thơ Huy Cận, xác định tổng số các bài thơ lục bát của nhà thơ, từ đó xác
định, phân loại các loại nhịp, các cách ngắt nhịp trong câu thơ lục bát.
- Khảo sát tần số xuất hiện để xác định loại nhịp phổ biến đồng thời chỉ ra những
biểu hiện về sự cách tân sáng tạo trong nhịp thơ lục bát của Huy Cận.
- So sánh đối chiếu với ca dao, với các tác giả khác để đánh giá chung về vai trò
của nhịp điệu trong việc biểu hiện ngữ nghĩa và cách cảm thụ thi ca.
3. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn t liệu
Tuyển tập Huy Cận gồm 2 tập. Tập I xuất bản 1986, tập II xuất bản 1995.
Các bài thơ lục bát lấy làm t liệu của khóa luận đợc chúng tôi rút ra từ các tập thơ
sau đây:
- Lửa thiêng (1930): 8 bài (Buồn nửa đêm; Trông lên; Chiều xa; Đẹp xa; Ngậm
ngùi; Xuân ý; Thu rừng; Thuyền đi).
- Vũ trụ ca (1942): 2 bài (Nắng đào, Nằm nghe ngời thở).
- Trời mỗi ngày lại sáng (1958): 6 bài (Vệt lá trên than; Thu về trên đèo nai; Nằm
trong tiếng nói; Hoa lay bóng sáng; Đồng quê bát ngát; Quanh nơi làm việc).
- Đất nở hoa (1960): 3 bài (Sang xuân; Hoa sấu bầy ong; Trăng xuân).
- Bài thơ cuộc đời (1963): 5 bài (Chờ con ra đời, Mỗi buổi chiều tới đón con về;
Nhật ký đi đờng; Gió chuyển mùa, Trăng rằm mọc).
- Chiến trờng gần đến chiến trờng xa (1973): 2 bài (Mẹ đi lấp hố bom; Về thăm
quê xã Đức Ân).
- Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975): 5 bài (Thăm lò chum; Mẹ ơi, Đời mẹ;
Đêm trăng ma; Cây hoàng lan vờn tôi; Chiều đông nghe nhạc Betthoven).
- Ngôi nhà giữa nắng (1978): 2 bài (Đêm hè nghe nhạc; Gửi một ngời bạn điêu
thơ lục bát.
- Khóa luận cũng góp phần cung cấp cho việc tìm hiểu yếu tố nhịp điệu trong thơ
của các tác giả khác, từ đó ứng dụng vào việc tìm hiểu thơ nói chung và việc giảng dạy thơ
trong nhà trờng nói riêng.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần phụ lục, phần chính văn của khóa luận gồm 87 trang. Tru phần mở đầu
và kết luận, nội dung của khóa luận đợc trình bày thành 3 chơng:
Chơng 1:
Một số vấn đề chung
Chơng 2:
Nhịp điệu trong thơ lục bát Huy Cận
Chơng 3:
Nhạc điệu trong thơ lục bát Huy Cận
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
50
Khóa luận tốt nghiệp
Chơng 1
Một số vấn đề chung
4
51
Khóa luận tốt nghiệp
Trong kháng chiến chống Pháp, Huy Cận lần lợt đảm nhận các chức vụ: Thứ trởng
Bộ Canh nông (12 - 1946 đến 1947), Thứ trởng Bộ kinh tế (1947 - 1949), Thứ trởng, Tổng
th ký Hội đồng Chính phủ (1949 - 1955).
Từ cuối năm 1955 đến năm 1984 là Thứ trởng Bộ Văn hóa. Từ tháng 9 - 1984 là Bộ
trởng đặc cách công tác Văn hóa Nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trởng, kiêm Chủ
tịch ủy ban Trung ơng Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Tiếp đó là Phó chủ tịch ủy
ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt nam.
Huy Cận là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là đại biểu Quốc hội khóa 1, khóa
2, khóa 7 và khóa 8.
Ngoài nhiệm vụ trong nớc, Huy Cận còn tham gia hoạt động quốc tế, có nhiều đóng
góp trên lĩnh vực văn hóa - thông tin nh: đồng chủ tịch Đại hội nhà văn á Phi họp ở Ai Cập (2 1962), đồng chủ tịch Đại hội văn hóa toàn thế giới họp ở Cu Ba (1-1986), là ủy viên Hội đồng
chấp hành UNESCO (1978 - 1983).
Năm 1990, nhà thơ Huy Cận đợc tặng thởng Huân chơng Hồ Chí Minh.
Năm 1996, Huy Cận đợc tặng giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt
1).
Tháng 6 - 2001, nhà thơ Huy Cận đợc bầu là viện sĩ Viện hàn lâm toàn thế giới về
thơ.
Là nhà thơ có các bài báo đăng từ sớm (1938) và hơn hai năm sau (1940) tập thơ đâu
Lửa thiêng là một nỗi buồn mênh mang, da diết, một hồn thơ ảo não, bơ vơ cố tìm đ ợc
sự hài hòa mà mạch sống âm thần trong tạo vật và cuộc đời. Trong Kinh cầu tự (1942,
văn xuôi triết lí) và Vũ trụ ca (thơ đăng bào 1940 - 1942), Huy Cận đã ca ngợi niềm vui,
sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn cha thoát khỏi bế tắc.
Sau cách mạng tháng Tám - nhất là từ 1958 - hồn thơ Huy Cận đợc khơi nguồn từ
Với tâm hồn đa sầu đa cảm ấy, Huy Cận đi lợm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi
sáng tạo nên những vần thơ ảo não (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam).
Từ tập thơ đầu tay, qua hơn sáu mơi năm sáng tác, Huy Cận đã tiến những bớc dài:
từ những suy nghĩ về con ngời trừu tợng, ông đi đến với giai cấp vô sản; từ nỗi buồn, ông
đến với niềm vui, từ sự buông xuôi, đi đến hoạt động cách mạng. Từ những ngày t ởng nh
bế tắc, Huy Cận là một trong số ít nhà thơ lớp trớc đã suy nghĩ và suy cảm kịp với thời đại,
đóng góp tích cực vào việc xây dựng nên thơ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hình thức biểu hiện của thơ Huy Cận cũng đa dạng, có thơ tình, thơ tự sự - trữ tình,
thơ sân khấu, thơ văn xuôi... Cùng với Chế Lan Viên và một số nhà thơ khác, Huy Cận góp
phần làm cho câu thơ Việt Nam vốn nhuần nhuyễn trong việc diễn đạt các trạng thái uyển
chuyển của tâm tình, nay có thêm những dạng thức biểu hiện mới để diễn đạt cảm xúc mới
của con ngời thời đại. Từ hồn thơ dồi dào và đa dạng ấy ta thấy hiện lên tình yêu thiết tha
cuộc đời, lòng gắn bó sâu xa với truyền thống dân tộc, sự giao hòa rộng rãi với vũ trụ thiên
nhiên.
Những nhợc điểm trong thơ Huy Cận thật ra không phải là khó thấy. Cùng với sự
phát triển chung của đất nớc, ngời đọc muốn nhà thơ giúp mình nhận thức rõ hơn, sâu hơn
cuộc đời trong muôn mặt cụ thể và phức tạp của nó. Tình yêu cuộc đời trong một số bài thơ
của Huy Cận vẫn đôn hậu và hồn nhiên nh thủa nào nhng cha đáp ứng nhu cầu mới của ngời đọc. Cảm giác vũ trụ mà Huy Cận rất a thích không khỏi có lúc quá trừu tợng, thiếu sắc
thái không gian, thời gian cụ thể, trở nên khó hiểu....
Cuộc đời 60 năm cầm bút và 20 tập thơ đã nói rất nhiều về sức lao động bền bỉ và
sức sáng tạo không hề vơi cản của đời thơ Huy Cận. Từ thế giới thơ của ông, ta thấy hiện
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
53
Khóa luận tốt nghiệp
khổ, mỗi khổ có một số câu thờng nh nhau, mỗi câu có một số chỗ thờng nh nhau, các chỗ
này đợc bố trí theo một mô hình có sẵn về thanh điệu, trờng đoạn, âm tiết và từng câu ấy có
một ý nghĩa trọn vẹn; các câu ấy có ít nhất một chỗ cắt mạch, tức là ngay câu thơ cũng đã
là một dạng lặp lại của những vế khác nhau... Đây là một kiến trúc hoàn hảo giúp cho cảm
giác nội cảm hóa dễ dàng và dễ nhớ. Nội dung thông báo của văn xuôi là nội dung do cú
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
54
Khóa luận tốt nghiệp
pháp đem lại. Còn ngữ nghĩa của thơ, ngoài nội dung thông báo còn có những ngữ nghĩa
khác. Nghĩa của thông báo thơ cũng khác với nghĩa thông báo của văn xuôi. Câu văn xuôi
chứa đựng một thông báo cá biệt, hạn chế về địa điểm, đối tợng, thời gian và sau đó không đợc ngời đọc ghi nhớ. Một thông báo của thơ là phi thời gian, phi không gian, cho cả loài ngời.
Do đó, câu thơ nào cũng đa nghĩa, cũng chứa đựng những nỗi niềm, những câu hỏi mà ngời
đọc tự trả lời trong những hoàn cảnh riêng. Chính vì vậy, thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ
rất đặc biệt bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ
chức ngôn ngữ này, trong đó có cách tổ chức nhịp điệu.
2.2. Thể thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc, rất quen thuộc đối với mọi ngời.
Trong nền văn học dân tộc, thể thơ này có vị trí và vai trò quan trọng. Trong ca dao Việt
Nam, thể lục bát chiếm số lợng lớn, có giá trị nghệ thuật đặc biệt và sức sống mạnh mẽ
nhất. Thực tế thống kê từ cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca của Vũ Ngọc Phan (In lần thứ 8 1978) trong số 1585 bài ca dao thì có tới 1282 bài đợc sáng tác theo thể lục bát và lục bát
biến thể (chiếm hơn 90%). Bên cạnh đó, thể thơ này cũng đợc vận dụng nhiều trong sáng
tác các tác phẩm văn học viết. Nghĩa là có hàng chục tác phẩm đợc sáng tác theo thể lục
bát dài hơn ngàn câu, và Truyện Kiều của Nguyễn Du là một dẫn chứng rất hùng hồn cho
thể này, và đó là kiệt tác có giá trị nghệ thuật tuyệt đỉnh. Không chỉ thế, các nhà thơ hiện
riêng nó và độc lập với hình thức nhịp điệu. Nhịp trong thơ còn phụ thuộc vào nhịp thở,
nhịp thơ có liên quan đến tình cảm, cảm xúc.
Thơ là thế giới của tâm hồn, là lĩnh vực thể hiện tình cảm rất mạnh. Các trạng thái
rung động biến thái tinh vi của cảm xúc đều ảnh hởng rất lớn đến nhịp điệu của câu thơ, bài
thơ. Trumanepxki khẳng định:Nhịp điệu của bài thơ trên bản chất chất liệu ngôn ngữ, dù
có cấu tạo bài thơ riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một
ngôn ngữ và không đợc lặp lại ngoài giới hạn của cái hình thức dân tộc trong lời nói (Dẫn
theo Bùi Công Hùng, 1983, trang 168).
Để khẳng định thêm phần quan trọng của nhịp thì trong Làm thơ nh thế nào?,
Maiacôpxki cũng đã nói rõ vai trò của nhịp: Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng l ợng
cơ bản của câu thơ. Sự ngắt đoạn và ngắt nhịp của bài thơ hệ trọng hơn việc chấm câu đ ợc dùng cho khuôn sáo cũ, nó phải đợc phục tùng ngắt đoạn và nhịp. Nhịp là sáng tạo
những khoảng cách và tổ chức thời gian phải đợc dựa vào những quy tắc cơ bản của mọi
sách giáo khoa thực hành về thơ. Việc thể hiện nhịp trong thơ, thể hiện bản sắc của từng
nhà thơ.
Khác với nhịp của văn xuôi, nhịp thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các
đơn vị âm thanh tạo nên đơn vị ngữ điệu của ngôn ngữ. Timophiep cho rằng: nhịp điệu tr ớc tiên là việc lặp lại có tính quy luật các hiện tợng giống nhau. Đơn vị đầu tiên của nhịp
là âm tiết (quan trọng là vần và thanh điệu).
Thế giới nghệ thuật là một sự đa dạng và trong thơ cũng vậy. Ta thấy rằng cách ngắt
nhịp, tạo nhịp trong thơ là rất đa dạng, có nhiều kiểu tùy câu, tùy đoạn. Nhịp điệu trong thơ
có tính chất mĩ học do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng, tình cảm của con ngời.
Nhiều khi một câu thơ đợc biểu hiện theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào cách ngắt
nhịp. Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ứng với cách ngát nhịp
trong câu thơ.
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
56
cơ bản đó tạo ra những biến thiên khác để đem đến tính đa dạng. Nh vậy, từ nhịp cơ bản
của lục bát là 2/2/2/2 và 3/3 (câu lục), 2/2/2/2 và 4/4 (câu bát), các nhà thơ đã tạo ra nhiều
cách ngắt nhịp cho câu thơ lục bát. Từ đó câu thơ lục bát có chức năng biến hóa theo nhiều
dạng khác nhau. Câu lục có 6 dạng nhịp phổ biến sau: 6, 2/2/2; 2/4; 4/2; 3/3; 1/5. Câu bát
có 10 dạng phổ biến sau: 8; 2/2/2/2; 2/6; 6/2; 4/4; 3/5; 5/3; 1/7; 2/4/2; 1/3/4. Nh vậy sự tổ
hợp câu lục với câu bát sẽ cho ta tối thiểu là 60 dạng câu lục bát khác nhau. Việc xác định
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
57
Khóa luận tốt nghiệp
đợc nhịp điệu của câu thơ cũng là lúc ta thấy đợc cái hay, cái đẹp của bài thơ, giúp ta đọc
đúng, diễn cảm và đọc hay nó.
Ngoài ra, có thể còn có các dạng nhịp khác nh 5/1; 7/1; 1/5/2; 1/3/2... nhng không
phổ biến.
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
58
Khóa luận tốt nghiệp
Chơng 2
(Kỷ Niệm - Hoàng Cầm)
1.1.1.2. Nhịp 3/3
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
59
Khóa luận tốt nghiệp
Ngoài nhịp phổ biến 2/2/2, thơ lục bát truyền thống còn hay dùng nhịp 3/3 (trong
Truyện Kiều có 80 câu theo nhịp 3/3) và loại nhịp này cũng đợc Huy Cận sử dụng khá nhiều
trong những câu lục, gồm 15 câu (chiếm khoảng 5,47%).
Ví dụ minh họa:
Gió đa hơi, / gió đa hơi.
(Trông lên, câu 5, tr. 106; tập I)
Ngủ đi em / mộng bình thờng
(Ngậm ngùi, câu 7, tr.125; tập I)
Đêm vừa nhẹ / gió vừa mơn
(Xuân ý, câu 1, tr.126, tâpI)
Ví dụ so sánh:
Ca dao hầu nh không có nhịp tiểu đối, nhng ngợc lại trong Truyện Kiều tỉ lệ câu
lục có nhịp 3/3 lại khá cao (chiếm 4,9%).
Làn thu thủy / nét xuân sơn
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Chia cho em / một đời thơ
(Nguyễn Trọng Tạo)
Đừng anh nhé ! / Đừng nói năng
(Đêm tạm biệt, Hoàng Cầm)
Còn em / lãng đãng nơi đâu
(Viết trong quán cà phê - Hoàng Cầm)
Hỏi tên? / rằng biển xanh đâu
(Bùi Giáng)
Tình em / nh sợi heo may
(Tình em nh sợi heo may - Hoàng Cầm)
1.1.2.2. Nhịp 4/2
Đây cũng là một loại nhịp cách tân từ nhịp truyền thống, nhịp này xuất hiện trong
20 câu lục, tức chiếm 7,3 % tổng số câu đợc khảo sát.
Ví dụ minh họa:
Nắng ma nửa bãi, / chiều rồi
(Ngậm ngùi, câu 1, tr.125; tập I)
Con vừa năm tuổi / mầm non
(Mỗi buổi chiều đón con về, câu 3, tr.217; tập I)
Thấy thuyền con chạy / mông mênh
(Mỗi buổi chiều đón con về, câu 13, tr.217; tập I)
Ví dụ so sánh:
Hỡi cô tát nớc / bên đàng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Sông bao nhiều nớc / cũng vừa
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Là nhà Ngô Việt / thơng gia
Ngẫm duyên kỳ ngộ / xa nay
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Nếu cùng ngời mới / dạo chơi
(Con đờng - Phan Thị Thanh Nhàn)
Tê mê lại hát /... Ơ kìa
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
Ly cà phê nữa / tỉnh / mê.
(Viết trong quán cà phê - Hoàng Cầm)
Xa /... anh dồn gió đuổi mây
(Hai nửa - Hoàng Cầm)
Gọi tên / là / một / hai / ba
(Bùi Giáng)
Đâu rồi - / em - / áo mơ phai
(Tình khúc tháng giêng - Nguyễn Nguy Anh)
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
62
Khóa luận tốt nghiệp
Từ việc khảo sát và thống kê các loại nhịp trên, chúng tôi tiến hành tính đếm số lợng
các loại nhịp và tỉ lệ của chúng. Số lợng thống kê đợc thể hiện qua bảng sau:
TT
Các loại nhịp
trong câu lục
Số lợng câu thơ
(tần số xuất hiện)
Tỉ lệ %
1
5
Nhịp 1/1/4
1
0,36
6
Nhịp 1/3/2
1
0,36
7
Nhịp 1/5
1
0,36
8
Nhịp 5/1
1
63
Khóa luận tốt nghiệp
(Ca dao)
Chồng chan / vợ húp / gật đầu / khen ngon
(Ca dao)
Trời xanh / quen thói / má hồng / đánh ghen
Chị em / sắm sửa / bộ hành / chơi xuân
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Y nguyên / hai múi / bởi đào / em cho
(Đồng Đức Bốn - Tập Chăn trâu đốt lửa)
1.2.1.2. Nhịp 4/4
Nhịp 4/4 là loại nhịp đã đợc dùng nhiều trong ca dao, đến Truyện Kiều Nguyễn
Du cũng phát huy thế mạnh của cách ngắt nhịp tiểu đối này. Đến Huy Cận ông lại kế thừa
nó một cách thành công, với 88 lần xuất hiện trong câu bát, chiếm tỉ lệ 32,11%.
Ví dụ minh họa:
Nghìn cây mở ngọn, / muôn lòng hé phơi
(Xuân ý, câu 8, tr.126; tập I)
Với cây hiu quạnh, / với lòng quạnh hiu
(Thu rừng, câu 8, tr.130; tập I)
Bóng cành chi chít, / ánh dơng chan hòa
(Hoa lay bóng sáng, câu 2, tr.158; tập I)
Ví dụ so sánh
Xui ong lấy mật, / giục tằm nhả tơ
(Ca dao)
Hạt rơi xuống giếng/ hạt vào vờn hoa
(Ca dao)
Mây thua nớc tóc/ tuyết nhờng màu da
Mây lời hạ tứ / ném châu / gieo vàng
Duyên này thì giữ / vật này / của chung
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Nh môi nh mắt /
nh mình /
nh không
(Nghĩ thơng - Hoàng Cầm)
Cái thời ấy/ bây giờ / vẫn nguyên
(Cái thời xa ấy- Vũ Thị Khơng)
1.2.2.2. Nhịp 2/2/4
Xuất hiện 12 lần, chiếm 4,37% trong tổng số 274 câu bát.
Ví dụ minh họa:
Là ta /, là nhạc /, cũng là trời sao
(Nhạc ơi, câu 4, tr103, t 2)
Nắng vàng /, gió nhẹ /, cũng buồn tơng t
(Gọi điện thoại, câu 6, tr 128, t 2)
Dặm trờng / ánh biếc / soi vào đời anh
(Tóc em, câu 8, tr 135, t 2)
Ví dụ so sánh:
Khác gì / chim phợng / gặp cây ngô đồng
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
65
Khóa luận tốt nghiệp
(Cao dao trữ tình Việt Nam)
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Đậu Thị Lơng Anh - 43E Ngữ văn
4
66
Khóa luận tốt nghiệp
Nhói đau / một mối tình đầu / trong tim
(Vô tình - Dơng Trọng Dật)
Anh sang, / ngày đã tàn chiều, / vẫn sang
(Ngẫu hứng chiều - Mã Giang Lân)
1.2.2.4. Nhịp 3/5
Nhịp 3/5 không phải cha từng đợc sử dụng nhng đó cũng là một loại nhịp cách tân
của thơ lục bát đợc Huy Cận phát huy trong tác phẩm của mình. Trong các bài thơ lục bát
của mình, nhà thơ đã 20 lần sử dụng nhịp 3/5, chiếm 7,29%.
Ví dụ minh họa:
Đông rét muộn, / tởng xóm làng sang xuân
(Sang xuân, câu 8, tr 191, t 1)
Đàn ong quen / - lại đến tìm lùm hoa
(Hoa sấu bầy ong, câu 4, tr 192, t 1)
Mẹ thơng cha,/ hẳn giống cha mời phần
(Chờ con ra đời, câu 4, tr 215, t 1)
Miệng không cời, / cũng lạ lùng nét tơi
(Nhật ký đi đờng, câu 16, tr 221, t 1)
Ví dụ so sánh:
Nhịp 3/5 hiếm gặp trong ca dao, nhng lại đợc Nguyễn Du sử dụng khá nhiều trong
Truyện Kiều, đến thơ lục bát hiện đại có rất nhiều nhà thơ cũng vận dụng nó.