Mối quan hệ giữa âm nhạc của thanh điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ của giai điệu trong dân ca quan họ Bắc Ninh lời cổ - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG MINH THỦY MỐI QUAN HỆ
GIỮA ÂM VỰC CỦA THANH ĐIỆU TRONG LỜI
THƠ LỤC BÁT
VỚI GIÁ TRỊ CAO ĐỘ CỦA GIAI ĐIỆU TRONG
DÂN CA
QUAN HỌ BẮC NINH LỜI CỔ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Lý Toàn Thắng
HÀ NỘI – 2012

2.1. Âm tiết mang thanh điệu trong ca khúc Quan họ Bắc Ninh lời cổ 31
2.2. Tỉ lệ âm tiết mang thanh điệu 33
2.2.1. Tỉ lệ âm tiết mang thanh điệu phân chia theo âm vực Cao-Thấp 34
2.2.2. Tỉ lệ thanh điệu phân chia theo tiêu chí đường nét thanh điệu Bằng-Trắc 35
2.3. Sự thể hiện của các thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc Quan họ 36 2
2.3.1. Thanh Ngang 36
2.3.1.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Ngang 36
2.3.1.2. Âm luyến của âm tiết thanh Ngang 40
2.3.2 Thanh Huyền 43
2.3.2.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Huyền 43
2.3.2.2. Âm luyến của âm tiết mang thanh Huyền 45
2.3.3. Thanh Sắc 47
2.3.3.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Sắc 47
2.3.3.2 Âm luyến của âm tiết mang thanh Sắc 50
2.3.4. Thanh Nặng 52
2.3.4.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Nặng 52
2.3.4.2. Âm luyến của âm tiết mang thanh Nặng 54
2.3.5. Thanh Ngã 56
2.3.5.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Ngã 56
2.3.5.2. Âm luyến của âm tiết thanh Ngã 56
2.3.6. Thanh Hỏi 58
2.3.6.1. Khu vực cao độ của âm tiết mang thanh Hỏi 58
2.3.6.2. Âm luyến của âm tiết mang thanh Hỏi 59
2.4. Tiểu kết chương 2. 61
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ÂM
VỰC CỦA THANH ĐIỆU TRONG LỜI THƠ LỤC BÁT VỚI GIÁ
TRỊ CAO ĐỘ CỦA GIAI ĐIỆU TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC

4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các âm tiết mang thanh điệu trong các bài dân ca
Quan họ Bắc Ninh lời cổ. 32
Bảng 2.2. Tỉ lệ các âm tiết mang thanh điệu 34
Bảng 2.3. Tỉ lệ các âm tiết mang thanh điệu trong một bài Quan họ (phân chia
theo tính chất Cao-Thấp) 34
Bảng 2.4. Tỉ lệ các âm tiết mang thanh điệu trong một bài Quan họ (theo tiêu
chí Bằng-Trắc) 35
Bảng 2.5. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với các âm tiết mang
thanh Ngang 36
Bảng 2.6. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với các âm tiết mang
thanh Ngang 41
Bảng 2.7. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với các âm tiết mang
thanh Huyền. 43
Bảng 2.8. Tổng hợp âm luyến của âm tiết mang thanh Huyền 45
Bảng 2.9.Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với âm tiết mang
thanh Sắc 47
Bảng 2.10. Tổng hợp âm luyến của của âm tiết mang thanh Sắc 50
Bảng 2.11. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với các âm tiết mang

của dân tộc ta. Hầu hết lời của các bài ca Quan họ đều là thơ lục bát hoặc lục
bát biến thể. Theo sự nghiên cứu của các nhà văn hóa dân gian, trong thực tế
sáng tác dân ca (mà người ta ghi lại được) có sự phân chia thành 3 âm vực:
cao - trung - thấp, và giữa 3 âm vực này có sự tương ứng nhất định, mang tính
quy luật với cao độ thanh điệu của các tiếng (âm tiết) trong ca từ (cụ thể ở đây
là các câu thơ lục bát).
Trong lịch sử nghiên cứu những vấn đề liên quan tới thanh điệu tiếng
Việt và âm nhạc Việt, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nhà nghiên cứu đã rất
tâm huyết bỏ công sức để tìm hiểu mối quan hệ mật thiết này, đặc biệt nhà
nghiên cứu âm nhạc Hoàng Kiều trong công trình nghiên cứu mang tên
“Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền” đã từng nghiên cứu và kết luận
“Thanh điệu tiếng Việt quyết định đến cao độ, sự uốn lượn của âm. Tuy
nhiên, thanh điệu phải thông qua thơ để tiến vào nhạc với những quy luật 6
như: thanh, vần, niêm luật…của thơ dân tộc quy định cho cao độ những luyến
láy, ngưng nghỉ, các trọng âm, đồng thời liên quan đến những thủ pháp kĩ
thuật phối hợp với ngôn ngữ âm nhạc mà hình thành các làn điệu âm nhạc.
Nói cách khác là, âm nhạc cổ truyền của ta từ thơ phổ nhạc mà không phải
làm nhạc trước rồi mới điền lời ca văn xuôi vào nhạc. Hơn nữa, nền âm nhạc
cổ truyền của Việt Nam lấy thanh nhạc là chính mà không phải khí nhạc, nên
thanh điệu và thơ là nhân tố khởi đầu” [30, tr.7]; Trong phần thứ Hai với tên
gọi “Thanh điệu tiếng Việt-sự hình thành ca khúc cổ truyền” tác giả đã tìm
hiểu một cách kĩ lưỡng về các thể thơ trong âm nhạc, và đưa ra một số nhận
định về vai trò của thanh điệu trong ngôn ngữ Việt Nam Đối với âm nhạc.
Hay trong bài viết “Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (từ góc nhìn ngữ âm
tiếng Việt)” của GS Mai Ngọc Chừ cũng đã nhắc tới mối quan hệ giữa thanh
điệu tiếng Việt và giai điệu trong âm nhạc “Trong phạm vi một âm tiết chứa
thanh điệu, sự biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi là âm điệu; còn

của thanh điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ của giai điệu trong
dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo
sát, tìm hiểu:
- Âm tiết mang thanh điệu trong các bài thơ lục bát được sử dụng làm
lời cho các bài dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ
- Các bài dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ đã được các tác giả dùng
điệu thức 7 âm để kí âm.
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, với đối tượng nghiên cứu được nêu
ở trên, chúng tôi hạn định vấn đề nghiên cứu sẽ tập trung vào khảo sát sự
tương ứng giữa âm vực của thanh điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ
của giai điệu trong dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ, cụ thể là sự tương ứng
giữa thanh điệu trong các âm tiết của lời thơ lục bát với sự cao thấp của các
mô hình nốt nhạc trong dân ca Quan họ.
3. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Qua khảo sát, luận văn cố gắng chỉ ra sự tương ứng và mối quan hệ
giữa âm vực của thanh điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ của giai
điệu trong dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ. 8
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn đem đến một cái nhìn tổng quan
về quá trình chuyển hóa một bài thơ lục bát thành một giai điệu của làn điệu
dân ca Quan họ nói chung và sự chuyển hóa thanh điệu trong âm tiết tiếng
Việt trở thành sự cao thấp, lên bổng xuống trầm của các nốt nhạc trong âm
nhạc Quan họ nói riêng.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài hi vọng sẽ đóng góp một phần
tư liệu và nhận định đánh giá vai trò của thanh điệu tiếng Việt đối với âm
nhạc cổ truyền của Việt Nam.

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, hiện nay, dân
ca Quan họ Bắc Ninh có khoảng 500 bài lời cổ, dung lượng mỗi bài trung
bình là 4 câu/bài, trong số đó chỉ có khoảng 100 bài được các tác giả kí âm.
Vì vậy, phạm vi tư liệu nghiên cứu đề tài của chúng tôi chỉ giới hạn trong các
bài dân ca đã được kí âm này, cụ thể chúng tôi sẽ khảo sát:
- Các bài thơ lục bát được sử dụng làm ca từ trong các bài dân ca Quan
họ Bắc Ninh lời cổ đã được các tác giả kí âm.
- Quan hệ tương ứng giữa âm tiết mang thanh điệu và cao độ của các
mô hình snốt nhạc trong các bài dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ đã được các
tác giả kí âm đó.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 3
chương như sau:
Chương 1. Những cơ sở lí luận
Chương 1 giới thiệu các vấn đề lí luận xác định âm vực và đường nét
thanh điệu tiếng Việt, một số vấn đề cơ bản về giá trị cao độ của giai điệu
trong âm nhạc nói chung và âm nhạc Quan họ Bắc Ninh nói riêng.
Chương 2. Sự thể hiện của các âm tiết mang thanh điệu thuộc phần
lời thơ lục bát trong âm nhạc Quan họ Bắc Ninh lời cổ
Chương 2 thống kê kết quả khảo sát sự tương ứng giữa những âm tiết
mang thanh điệu của tiếng Việt với những mô hình âm điệu được thể hiện
trong giai điệu âm nhạc Quan họ Bắc Ninh lời cổ. Đồng thời, trong chương 10
này, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét ban đầu về mối quan hệ giữa thanh
điệu tiếng Việt với những mô hình âm điệu trong giai điệu dân ca Quan họ
Bắc Ninh lời cổ.
Chương 3. Một số nhận xét về mối quan hệ giữa âm vực của thanh
điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ của giai điệu trong dân ca


1.1. Vấn đề nghiên cứu vai trò của thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc
dân gian Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam, nhiều nhà
nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng như Dương Viết Á, Hoàng Kiều, Nguyễn Trọng
Ánh, Lê Văn Chưởng… đã đánh giá vai trò vô cùng quan trọng của thanh
điệu tiếng Việt - “thanh điệu là một trong hai nhân tố khởi đầu của nền âm
nhạc cổ truyền (thanh điệu và thơ)”. Các tác giả trên đã nhận định: Thanh
điệu tiếng Việt quyết định cao độ, sự uốn lượn của âm. Tuy nhiên, thanh điệu
tiếng Việt phải thông qua thơ để tiến vào nhạc với những quy luật như thanh,
vần, niêm, luật… của thơ dân tộc quy định cho cao độ những luyến láy,
ngưng nghỉ, các trọng âm, đồng thời liên quan đến những thủ pháp kĩ thuật
phối hợp với ngôn ngữ âm nhạc mà hình thành các làn điệu âm nhạc. Nói một
cách khác, âm nhạc cổ truyền của Việt Nam từ thơ phổ nhạc mà không phải
làm nhạc trước rồi điền lời ca văn xuôi vào nhạc.
Đó là những nhận định từ góc nhìn của các nhà nghiên cứu âm nhạc,
còn từ quan điểm của các nhà ngôn ngữ học cũng đã có nhiều công trình
nghiên cứu, tìm hiểu về tính nhạc trong ngôn ngữ thơ Việt Nam. Chúng ta có
thể liệt kê các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học của các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ học, văn học như Nguyễn Phan Cảnh, Lý Toàn Thắng,
Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Hữu Đạt….Đặc biệt, một số
nhà ngữ âm học như Đoàn Thiện Thuật, Phạm Đức Dương, Nguyễn Đình
Hòa, R.Jones, Huỳnh Sanh Thông, Masp’ero…với những quan điểm khác
nhau về việc phân chia âm vực của thanh điệu (chia âm vực 6 thanh điệu tiếng
Việt có thể thành 2, 3 thậm trí là 4 mức khác nhau). Trong đó, điểm hình nổi
lên 2 xu hướng hiện đang còn nhiều tranh luận, đó là ý kiến của Đoàn Thiện 12
Thuật với cách chia 6 thanh điệu tiếng Việt thành 2 âm vực cao-thấp và ý kiến

13
- Các âm tiết mở (không có âm cuối) được bổ sung tuyến điệu Ngang-
Huyền (tuyến điệu 1) còn lẫn và nhau.
Vào giai đoạn cuối của tiếng Việt Mường chung và đầu giai đoạn tiếng
Việt và tiếng Mường tách khỏi nhau, sự tiếp xúc và vay mượn từ tiếng Hán
đời Đường đã làm thay đổi hệ thống âm đầu của tiếng tiếng Việt Mường
chung. Trong thời kì này, đại bộ phận các âm đầu tiếng Việt Mường chung
đều là âm vô thanh, trong khi đó rất nhiều âm đầu tiếng Hán là âm hữu thanh.
Khi được vay mượn vào tiếng Việt Mường, nhiều âm đầu hữu thanh của tiếng
Hán phải vô thanh hóa cho phù hợp với hệ thống Việt Mường.
Từ đây nảy sinh một nhu cầu phải phân biệt các âm đầu vô thanh tiếng
Hán với các âm hữu thanh đã được vô thanh hóa trong tiếng Việt Mường.
Tiếng Việt Mường đã lựa chọn biện pháp bổ sung thanh điệu để phân biệt các
âm đầu của từ vay mượn tiếng Hán. Nguyên tắc chung của quá trình biến đổi
này như sau:
- Các âm đầu vô thanh tiếng Hán khi chuyển sang âm đầu vô thanh Việt
Mường phải mang thanh điệu Ngang, Sắc, Hỏi (gọi là thanh điệu bổng)
- Các âm đầu hữu thanh tiếng Hán khi chuyển sang âm đầu vô thanh
trong tiếng Việt Mường đều mang thanh điệu Huyền, Nặng, Ngã (gọi là thanh
điệu trầm).
Như vậy, lúc này tiếng Việt Mường chung đã nhân đôi hệ thống thanh
điệu của mình: từ 3 tuyến thanh điệu trước kia, lúc này nó có tới 6 thanh điệu.
Quá trình tách đôi 3 tuyến thanh điệu này có thể biểu thị bằng sơ đồ như sau:
Tuyến điệu Ngang-Huyền chung: vô thanh -> vô thanh = thanh Ngang
hữu thanh -> vô thanh = thanh Huyền
Tuyến điệu Sắc-Nặng chung: vô thanh -> vô thanh = thanh Sắc
hữu thanh -> vô thanh = thanh Nặng
Tuyến điệu Hỏi-Ngã chung: vô thanh -> vô thanh = thanh Hỏi
hữu thanh -> vô thanh = thanh Ngã


chữa thêm bớt, hoặc luyến láy thêm vào cho đến khi định hình (tương đối) và 15
thậm chí khi định hình rồi vẫn còn có thể sửa đổi. Thậm chí một bài hát có thể
được rút ngắn hay kéo dài thêm đoạn đầu hay đoạn cuối trở thành một loạt bài
hát có âm điệu hay cấu trúc từ một điệu gốc nào đó, ngày nay những bài hát
như thế được sắp xếp trong một “hệ thống làn điệu”.
1.3. Thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc
1.3.1. Mối quan hệ giữa âm và thanh
Âm vốn tự phát ra thành tiếng (thường là các nguyên âm) như: â, ô,
ư…, còn Thanh là các giọng làm cho âm biến ra các tiếng khác như: à, ố, ự,…
Như đã biết, tiếng Việt của chúng ta có 6 thanh điệu: Ngang, Huyền,
Ngã, Hỏi, Sắc, Nặng. Sự biến thiên theo thời gian của các thanh điện là hoàn
toàn khác nhau. 6 thanh này căn cứ vào máy móc đo âm thanh có được hình
dáng đường nét tượng trưng về sự uốn lượn và độ cao thấp của các thanh và
trong Ngữ âm tiếng Việt của GS Đoàn Thiện Thuật, ông đã ghi ra bằng chữ số
để biểu hiện như sau: - Thanh 1 Ngang 55 tức âm ngân dài đầu và cuối cao bằng nhau
- Thanh 2 Huyền “ \ ” 32 tức từ bậc 3 xuống bậc 2
- Thanh 3 Ngã “~” 325 tức từ bậc 3 xuống bậc 2 rồi lên 5
- Thanh 4 Hỏi “?” 323 tức từ bậc 3 xuống 2 lại lên 3

Nặng là ngả xuống, Huyền là đi ngang nhưng hơi chúc xuống, còn thanh
Ngang là đi ngang cuối cùng mới ngả xuống. Như vậy cho thấy thanh giọng
của ta không chỉ có bậc cao thấp khác nhau giữa các thanh giọng mà còn có
sự uốn lượn, nên ngay trong một thanh cũng có tính đa âm sắc.
Khi từ một bản âm đưa các dấu giọng khác nhau vào không chỉ làm cho
bản âm đó biến đổi cao độ của thanh mà còn biến đổi cả ngữ nghĩa.
Theo các nghiên cứu ngôn ngữ học như GS Đoàn Thiện Thuật, thì tiếng
Thái Lan có 5 thanh điệu, tiếng Hán có 4 thanh điệu. Trong đó các thanh
phân biệt nhau bằng sự di chuyển cao độ từ thấp lên cao hoặc từ cao xuống
thấp. Loại này được gọi là thanh điệu hình tuyến, cũng giống như sự di
chuyển của thanh điệu tiếng Việt. Cũng có một số loại là thanh điệu chỉ được
phân biệt với nhau về các mức trên thang bậc cao độ mà không có uốn lượn, 18
loại này được gọi là thanh điệu khu vực. Sự phân biệt giữa chúng chỉ đơn
thuần là mức cao thấp khác nhau, nên người ta gọi loại thanh điệu này là loại
giản đơn và các mức cao độ cũng không nhiều, chỉ khoảng 2, 3 bậc.
Từ hai bảng thanh điệu ghi bằng máy điện tử cho thấy dấu giọng (thanh
điệu) của ta mềm mại, uyển chuyển, đa âm sắc và phong phú mà nhiều ngôn
ngữ khác không có. Do đó, tạo cho nhạc hát và nhạc đàn Vịêt Nam những giai
điệu trữ tình và duyên dáng, mềm mại và sâu lắng, quyến rũ lòng người.
Trong 6 thanh của tiếng Việt, căn cứ vào đường nét lại chia ra làm hai
nhóm gọi là thanh bằng và thanh trắc:
- Thanh bằng có hai thanh là: thanh Ngang (đoản bình thanh) và thanh
Huyền (trường bình thanh)
- Thanh trắc, có bốn thanh là: thanh Sắc, thanh Hỏi, thanh Ngã, thanh Nặng
Từ sự phân chia này đã tạo cho thể thơ lục bát (6-8) hay Song thất lục
bát có một quy tắc chặt chẽ và độc đáo khác thường so với các nước trên thế
giới. Vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc, phân câu, trọng âm và âm kết [32, tr.6]

Ở sơ đồ trên đã tạm ghi các bậc âm cơ bản trong âm nhạc thể hiện độ
cao của giai điệu bằng chữ có kèm dấu Huyền, dấu Sắc hoặc Ngang để thấy
được một cách tương đối về sự khác nhau giữa các nhóm bảy bậc cơ bản. Các
con số 132, 264, 528 là tầm số dao động của các âm Đô.
Trong thơ ca người ta không dùng thuật ngữ giai điệu như trong âm
nhạc. Song cũng như âm nhạc, trong thơ ca các âm cũng cần phải được tổ
chức theo trật tự thời gian. Trong phạm vi một âm tiết chứa thanh điệu, sự
biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi là âm điệu, còn trong một ngữ
đoạn, sự biến thiên của âm vực theo thời gian thì được gọi là ngữ điệu. Cả hai
yếu tố này (âm điệu và ngữ điệu) có vai trò như giai điệu trong âm nhạc và do
vậy, chúng là những yếu tố rất quan trọng để tạo ra tính nhạc cho thơ. 20
Sự đối lập về âm điệu trong âm tiết tiếng Việt chính là sự đối lập giữa
các thanh bằng và các thanh trắc. Sự luân phiên bằng trắc trong câu thơ tạo ra
giai điệu của nó, có thể nói như vậy nếu xem câu thơ từ góc nhìn âm nhạc
học. Trong thơ ca truyền thống Việt Nam, lục bát và Song thất lục bát là
những thể thơ có sự thể hiện rất phong phú về giai điệu (âm điệu) do sự phân
bố đan xen bằng trắc hài hòa, cân đối và không cứng nhắc.
1.3.3. Âm vực của thanh điệu tiếng Việt theo quan điểm của Âm nhạc học
Thanh điệu là yếu tố thay đổi cao độ của âm tiết. Nói đến tính nhạc,
trước hết phải kể đến một yếu tố ngữ âm không thể thiếu đối với âm nhạc, đó
là âm vực của thanh điệu. Trong âm nhạc, âm vực là một trong những yếu tố

âm vực càng thấy rõ hơn, ví dụ:
Trời buồn làm gì trời rầu rầu
Anh yêu em xong anh đi đâu?
Lắng tiếng gió suối thấy tiếng khóc…
(Lê Ta)
Câu thứ nhất toàn thanh trầm (Huyền) Đối lập với câu thứ hai toàn
thanh cao vừa (Ngang) và câu thứ ba toàn thanh cao (Sắc). Đây là một ví dụ
khá điển hình về sự đối lập ba mức âm vực trong tiếng Việt từ góc nhìn Âm
nhạc học.
1.4. Một vài điểm khái quát về đặc điểm âm nhạc dân ca Quan họ Bắc
Ninh lời cổ
1.4.1. Một số vấn đề cơ bản về dân ca Quan họ Bắc Ninh lời cổ
Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa,
giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam
Ðịnh, chèo tàu của Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù ca Huế, dân ca
Nam bộ vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa
như:
"Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc
Chị Hai xinh chị Hai đứng một mình vẫn xinh" 22
Ðó là dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh. Quan họ vừa như
một làn điệu hội tụ "khí chất" của rất nhiều làn điệu dân ca. Cái trong sáng,
rộn ràng của chèo. Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm. Cái khoan nhịp, sâu
lắng của ca trù. Cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam bộ. Nhưng trên
hết, Quan họ mang "khí chất" của chính Quan họ, là hồn của xứ sở Quan họ,
là "đặc sản" tinh thần của Kinh Bắc-Bắc Ninh.
Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị,
nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của Kinh

mai sau, ở trong nước và cả cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Ðến lời ca
Quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Âm nhạc
trong dân ca Quan họ cũng được điểm với những thể dạng, hình thức cấu trúc
điển hình, mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca Và không thể thiếu
được là một số làn điệu Quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được
trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên
quê hương Quan họ Kinh Bắc.
1.4.2. Những tính chất và đặc điểm của âm nhạc Quan họ
Nhịp độ của dân ca Quan họ nói chung ở trạng thái vừa phải, đôi khi ở
trạng thái hơi chậm. Phần lớn bài bản dân ca Quan họ cổ ở trong âm vực chủ
yếu là một quãng 8. Nghệ nhân Quan họ như ít chú ý đến sự thay đổi về
cường độ của những bài, những đoạn Quan họ. Trong một canh hát, mọi bài
hát Quan họ do một đôi nghệ nhân ca hát thường được diễn đạt bằng một
cường độ âm thanh không thay đổi. Một đôi liền anh hoặc liền chị muốn tiếng
hát của mình có chất lượng cao chẳng những đòi hỏi phải cùng thuộc những
bài Quan họ nhất định, mà còn phải có cùng một giọng hát hoà hợp, cùng một
âm sắc. Giọng của những liền anh và những liền chị khi ca hát đối đáp thường
luôn cách nhau một quãng 5 hay quãng 4 mà trong dân gian thường phân biệt
bằng khái niệm "hơi nam" và "hơi nữ".
Âm nhạc của dân ca Quan họ không phải là cái gì hoàn toàn khác đối
với mọi nền âm nhạc khác, mọi nền dân ca khác. Mỗi tính chất và đặc điểm
của âm nhạc dân ca Quan họ, nói cho đúng, đều có thể thấy hoặc nhiều hoặc
ít, hoặc đậm, hoặc nhạt, ở loại dân ca này hoặc loại dân ca kia. Sự khác nhau 24
ở đây là thuộc về mức độ, về sắc thái. Người Quan họ xưa kia đã biết huy
động, vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật có sức biểu hiện cao, có sức hấp
dẫn mạnh (mà từng thủ pháp nghệ thuật ấy thường đã được vận dụng lẻ tẻ
trong một vài thứ dân ca khác), tổng hợp chúng, phối hợp chúng một cách khá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status