Khảo sát hệ thống biểu tượng, điển tích trong dân ca quan họ bắc ninh - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN

----  ----

ĐỖ THỊ BÍCH PHƢỢNG

KHẢO SÁT HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG,
ĐIỂN TÍCH TRONG DÂN CA QUAN HỌ
BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học dân gian

HÀ NỘI – 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN

----  ----

ĐỖ THỊ BÍCH PHƢỢNG

KHẢO SÁT HỆ THỐNG
BIỂU TƢỢNG, ĐIỂN TÍCH TRONG
DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: ............................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 3
6. Đóng góp của khóa luận ..................................................................................... 3
7. Cấu trúc khóa luận.............................................................................................. 4
NỘI DUNG: ........................................................................................................... 5
Chương 1: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ DÂN CA QUAN HỌ VÀ HỆ THỐNG
BIỂU TƯỢNG, ĐIỂN TÍCH TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH .......... 5
1.1. Dân ca Quan họ Bắc Ninh ............................................................................... 5
1.1.1. Hoàn cảnh nảy sinh ...................................................................................... 5
1.1.2. Làng Quan họ và Lối chơi Quan họ ............................................................. 8
1.1.3. Đặc sắc ngôn từ dân ca Quan họ ................................................................ 13
1.2. Biểu tượng và điển tích trong dân ca Quan họ Bắc Ninh ............................. 20
1.2.1. Khái niệm biểu tượng, điển tích ................................................................. 20
1.2.2. Khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng và điển tích trong dân ca Quan họ
Bắc Ninh………………………………………………………………………..24
Chương 2: HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA BIỂU TƯỢNG
TRONG DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH ........................................................ 25
2.1. Hệ thống biểu tượng ...................................................................................... 25
2.1.1. Khảo sát tư liệu .......................................................................................... 25
2.1.2. Phân loại biểu tượng................................................................................... 26
2.2. Ý nghĩa của biểu tượng ................................................................................. 32
Chương 3: HỆ THỐNG ĐIỂN TÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐIỂN TÍCH TRONG
DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH ....................................................................... 39



Với tất cả những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài “Khảo sát hệ thống biểu
tượng, điển tích trong dân ca Quan họ Bắc Ninh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Dân ca Quan họ Bắc Ninh từ xưa đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, nhiều nhà nghiên cứu. Đã có không ít công trình qui mô nghiên cứu về
Dân ca Quan họ Bắc Ninh như:

1


- Một số vấn đề về dân ca Quan họ, (1972), Ty văn hóa Hà Bắc xuất bản.
- Đặng Văn Lung, (1978), Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển,
Nxb Khoa học xã hội.
- Trần Linh Quý, Hồng Thao, (1997), Tìm hiểu dân ca Quan họ, Nxb văn
hóa dân tộc, Hà Nội.

Các công trình trên chủ yếu tìm hiểu về dân ca Quan họ một cách tổng
quát về nguồn gốc, quá trình phát triển, lề lối, giới thiệu về trang phục và cách
ứng xử của người Quan họ, một số lời ca Quan họ…
Ngoài ra, có thể kể đến bài viết của “Câu Lạc Bộ Văn Hóa” trong
vietnamnet.vn/vnn3/vhvietnam, đề cập đến việc xây dựng những hình tượng
trong lời ca Quan họ, song chỉ dừng lại ở mức độ điểm qua, sơ lược.
Đáng kể nhất là cuốn “Dân ca Quan họ - lời ca và bình giải” của Lê
Danh Khiêm, tái bản lần thứ nhất, năm 2010 đã cung cấp cho độc giả một số
lượng lời ca Quan họ tương đối phong phú. Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào
“bình giải các điển cố, điển tích, các khái niệm trong hệ thống lời ca” song rõ
ràng là, sự quan tâm ấy còn chưa thỏa đáng, nhiều vấn đề còn có thể đào sâu và
khai tác cụ thể, kỹ lưỡng và có hệ thống hơn nữa.
Trên cơ sở những hiểu biết hết sức khiêm tốn của mình về dân ca Quan họ

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp điền dã
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Những đóng góp về mặt khoa học
+ Cung cấp một cách hệ thống lý thuyết và thực tiễn về các biểu tượng, điển tích
trong dân ca Quan họ Bắc Ninh và những ý nghĩa của nó.
+ Cung cấp nguồn tài liệu chi tiết, hấp dẫn và đáng tin cậy về dân ca Quan họ
Bắc Ninh.

3


6.2. Những đóng góp về mặt thực tiễn
+ Góp phần giới thiệu, quảng bá về dân ca Quan họ Bắc Ninh.
+ Góp phần nâng cao ý thức giữ gìn vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của khóa luận được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung về dân ca Quan họ và hệ thống biểu tượng, điển
tích trong dân ca Quan họ Bắc Ninh
Chương 2: Hệ thống biểu tượng và ý nghĩa của biểu tượng trong dân ca Quan họ
Bắc Ninh
Chương 3: Hệ thống điển tích và ý nghĩa của điển tích trong dân ca Quan họ Bắc
Ninh

4




công chúa đã được mọi người tôn làm Vua Bà – Thủy tổ Quan họ. Những ngôi
làng mà họ thành lập được gọi là làng Quan họ. Do đó mới có 49 làng Quan họ
gốc, và làng Diềm được coi là nơi phát tích dân ca Quan họ. Hiện nay, tại làng
Diềm vẫn còn ngôi đền thờ Vua Bà gọi là Nghè Vua Bà và ngày 06 tháng 02 âm
lịch hàng năm được coi là ngày hóa của Vua Bà, nó trở thành ngày hội truyền
thống của làng Diềm để tưởng nhớ công lao của Vua Bà. Ngày nay, người dân
làng Diềm vẫn còn truyền tụng bài ca:
“Vốn xưa Quan họ Bắc Ninh
Muốn tìm tích cũ đến làng Diềm thôn
Thủy tổ Quan họ làng ta
Những lời ca xướng Vua bà sinh ra
Xưa nay nam nữ trẻ già
Ai mà ca được ắt là hiển vinh”

Theo đó, dân ca Quan họ có nguồn gốc từ những câu hát do Vua Bà sáng
tạo ra và nơi phát tích Quan họ chính là làng Diềm ngày nay.
Lại có truyền thuyết kể rằng: làng Viêm Xá (làng Diềm) kết nghĩa với
làng Hoài Bão. Viêm Xá mở hội thờ thần vào mồng bốn tháng giêng và mồng
mười tháng tám. Mỗi lần có hội, Viêm Xá mời một đoàn trai Hoài Bão sang. Sau
khi tế lễ xong thì tổ chức ca hát. Bên Viêm Xá toàn nữ, bên Hoài Bão toàn nam.
Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau. Dân làng Viêm Xá quan niệm rằng năm
nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ xảy ra nhiều sự bất an: người,
vật bị ốm, mùa màng thất bát, buôn bán thua lỗ, dân làng cãi cọ nhau, trai gái
sinh ra tật hư nết xấu. Vì vậy mà có hát Quan họ.
Cũng có truyền thuyết kể rằng: Cách đây mười hai đời, có hai người làm
quan thị vệ ở trong triều, một người quê ở Diềm, một người quê ở Bịu (Bịu
Sim). Hồi làm quan, hai người có chơi với nhau, đến khi về nghỉ thì giao ước kết
bạn đi lại, nếu ở làng ai có chuyện vui như cưới xin, khao lão thì mời cả hai họ


Mường. hát Xoan Ghẹo ở Phú Thọ.

7


Ông Lê Văn Hảo cho rằng: “hát Quan họ thoát thai từ hát Đúm”. Vũ Ngọc
Phan lý giải Quan họ có từ đời Lý. Có người lại cho rằng Quan họ có từ thời
Trần, xuất thân tục hát giỗ các vua nhà Lý của nhân dân khoảng đầu thế kỷ XIII.
Lại có người nghĩ rằng thứ hát dân ca này chỉ vừa mới ra đời đầu thế kỷ XV.
Như vậy, để đi đến một kết luận cụ thể về hoàn cảnh này sinh của dân ca
Quan họ thật không đơn giản. Và khi đã lý giải được nó rồi thì mọi lý thuyết,
truyền thuyết, sự tích và mọi thứ liên quan sẽ được sáng tỏ. Nhưng có thể khẳng
định rằng dân ca Quan họ đã được hình thành trên vùng đất mà từ lâu đời đã là
một vùng kinh tế mạnh của đất nước, một vùng đất lịch sử rất mực anh hùng,
một vùng văn hóa là nền tảng của văn hóa, văn minh Đại Việt – Thăng Long,
một địa bàn giao lưu với nhiều nền văn hóa, văn minh các nước lân bang và luôn
chứng tỏ một bản lĩnh văn hóa vững vàng, mang bản sắc riêng độc đáo.
1.1.2. Các làng Quan họ và lối chơi Quan họ
1.1.2.1. Các làng Quan họ
Chủ nhân của dân ca Quan họ Bắc Ninh là người Việt cư trú ở hai tỉnh
Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay, sinh sống bằng nghề trồng lúa nước và nghề
thủ công. Các làng Quan họ nằm ở hai bên bờ sông Cầu, cách thủ đô Hà Nội về
phía Bắc khoảng 30km.
Những năm đầu thế kỉ XX, nếu lấy hai tiêu chuẩn để định làng Quan họ:
“các bọn Quan họ đi kết bạn với các bọn Quan họ khác giới, khác làng liên tục
từ hai, ba thế hệ trở lên; được Quan họ các làng thừa nhận” thì theo các nghệ
nhân còn sống vào những năm đầu thập niên 70 cho biết có 49 làng Quan họ. Về
sau, không còn đủ các làng như vậy. 49 làng Quan họ hiện nay phân bố ở hai
tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, trong đó có 44 làng thuộc tỉnh Bắc Ninh, bao gồm:
Huyện Tiên Du (8 làng): Duệ Đông, Lũng Giang (Lim), Lũng Sơn, Ngang

cái cầu nối với đất trời, thần, phật để thỉnh cầu: cầu mưa, giải hạn, tiêu trùng...
Chính tâm lý này đã tạo nên những thói quen, phong tục đẹp của làng xã, gia
đình đối với những người ca hát Quan họ, đối với hoạt động ca Quan họ, do đó,
góp phần quan trọng vào việc giữ gìn, phát triển Quan họ bền vững, lâu dài.

9


1.1.2.2. Lối chơi Quan họ
Xa xưa ít người nói: “Đi hát Quan họ” mà thường dùng: “Đi chơi Quan
họ”; cũng có người kiêng chữ “hát” thì nói: “Chúng em đi “ca” Quan họ”. Ca
Quan họ mới chỉ là công việc “bày tỏ nỗi lòng bằng ca hát”, còn “chơi Quan họ”
bao gồm tất cả những việc như: giao tiếp, ứng xử, ăn mặc, phong tục lễ nghĩa, ca
hát, lối sống…mà ngày nay, các nhà nghiên cứu nói gộp lại bằng cụm từ: Văn
hóa Quan họ.
Xưa nay, Quan họ thường có chung một quan niệm: không phải ai hát
Quan họ giỏi mà đã biết chơi Quan họ, chính vì vậy có khi người đi chơi Quan
họ thì đông nhưng không phải ai cũng biết hát, và ngược lại nhiều người hát
Quan họ nhưng chưa hẳn đã biết chơi. Ngày xưa, người ta thường dặn dò nhau:
“chơi Quan họ phải đúng lề lối”.
“Lề lối hát Quan họ”: Đó là hát đối, hát canh, hát hội, hát thờ, hát cầu
đảo, hát giải hạn, hát mừng và hát kết chạ.
Hát đối gồm đối đáp nam-nữ, đối giọng, đối lời và hát đối giữa đôi namđôi nữ. Đối nam-nữ bao giờ nữ cũng được hát trước một bài, sau đó bên nam đối
lại, cứ thế kéo dài hết canh hát (nếu là canh thi thì bên nào không đối được tức là
bên ấy bị thua). Khi đối phải tuân thủ trước tiên là đối giọng, tức là bên nữ hát có
làn điệu âm nhạc nào, thì bên nam phải đối giọng theo làn điệu âm nhạc ấy.
Còn đối lời, khác với đối giọng ở chỗ, đối giọng thuộc lĩnh vực âm nhạc, còn đối
lời thuộc lĩnh vực đối thơ ca. Ví dụ: nếu bên hát trước ra một lời ca nào (một bài
hay một đoạn thơ) thì bên đối sau cũng phải sử dụng cả làn điệu âm nhạc phải
thế nhưng lời ca như khác, nhưng phải thể hiện được việc đối có tình, có ý để đối

cùng nhau. Và như vậy khi hát vui người ta không bắt buộc phải có chặng “lề
lối” mà đi ngay vào giọng vặt. Khi tan hội bọn Quan họ cũng dùng dằng giã bạn
và ca những câu thể hiện tình nghĩa gắn bó, nỗi buồn man mác khi phải chia ly.
Còn Quan họ hát lễ thờ, hội thường sắm giầu, cau, hương, nến, hoa quả để
ra đình làm lễ thánh. Nhóm này thường có cả nam và nữ. Khi họ dâng lễ ở đình
làng có hội thường được các bậc cao niên, bô lão… của làng tiếp đón rất trân

11


trọng. Mặc dù xưa kia, con gái không được lễ đình nhưng đối với bọn Quan họ
thì dân làng đồng ý và rất tôn trọng họ. Sau lễ họ thường hát một số bài để chúc
thánh, chúc dân “người an, vật thịnh, lộc, thọ, khang, ninh”, rồi mới ra hát vui ở
hội và hát canh ở nhà.
Cũng như hát lễ thờ, Quan họ giống người dân vùng lúa nước, họ tin rằng
có thánh, có trời phù hộ để âm dương hoà hợp giữa đất trời và con người vì vậy
họ tổ chức hát cầu đảo để cầu mong thánh thần, đất trời phù hộ. Hát cầu đảo
thường chỉ có Quan họ nữ. Khi hát cầu đảo Quan họ phải giữ chay tịnh, họ đến
ăn ngủ ở đền trước 2-3 ngày đêm. Những bài hát cầu đảo thường là có nội dung
cầu cho mưa thuận, gió hoà, cho mùa màng tươi tốt, người an, vật thịnh.
Hát giải hạn là do người xưa thường tin vào số mệnh, nếu gặp điều gì
không may thì phải giải hạn. Khi cúng lễ giải hạn người dân vùng Quan họ
thường mời một số bạn Quan họ ( cả nam và nữ) đến nhà ca một đêm, và cho
rằng như vậy, thì cái hạn sẽ qua đi và niềm vui sẽ đến. Hát giải hạn thường theo
với điệu la rằng. Họ cũng hát đối, bên trước hát bài nào thì bên sau hát làn điệu
ấy nhưng phải khác lời để đối lại, thường là những bài có nội dung vui vẻ, gắn
bó, ước hẹn, thề nguyền…Khi giã bạn, họ chúc cho chủ nhà may mắn, bình yên,
phúc đến nhà, hoạ ra đi… và gia chủ thường biếu lộc thánh nhóm Quan họ.
Ngược lại với hát giải hạn là hát mừng. Ngày trước khi khánh thành nhà,
mừng con đỗ đạt, khao lão, mừng thọ…. họ thường tổ chức ăn mừng. Trong

này.
1.1.3. Đặc sắc ngôn từ dân ca Quan họ
1.1.3.1.Ðôi nét về văn bản lời ca
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Lê Danh Khiêm cùng đồng nghiệp là
nhà nghiên cứu Hoắc Công Huỳnh (nay thuộc Ban Sưu tầm, nghiên cứu và bảo
tồn di sản văn hóa Quan họ, Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh) đã đi tới tất cả
các làng Quan họ gốc, gặp gỡ tất cả các nghệ nhân nổi tiếng, đồng thời khai thác
bài bản Quan họ từ các nghệ sĩ là lớp diễn viên đầu tiên của Đoàn Dân ca Quan
họ Bắc Ninh, các nhà nghiên cứu trước đó. Kết quả là đã sưu tầm, ghi trên băng
từ tính hơn 500 bài ca Quan họ, phân định thành 213 giọng (làn điệu) khác nhau.

13


Đó chính là số lượng giọng cao nhất so với tất cả các công trình sưu tầm trước đã
công bố. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết đã khảo sát 390 lời ca
trong cuốn “Dân ca Quan họ - Lời ca và bình giải” của Lê Danh Khiêm, tái bản
lần thứ nhất, năm 2010.
Lời ca cho một bài nào đấy, nhìn chung thống nhất trong cả vùng, nhưng
cũng có những dị bản, và nhất là khác đi một số từ ngữ. Trong trường hợp có
những chữ khác nhau trong lời ca, cũng như khác nhau về giai điệu bài ca (chi
tiết) cũng thường gây nên tranh cãi nhiều khi gay gắt trong giới Quan họ mà
không phải bao giờ cũng tiến tới thống nhất được.
Ví dụ có làng hát:
“Rủ nhau đi gánh nước thuyền
Ðứt quang vỡ sải nước liền xuống sông.”
Nhưng làng khác nhất định hát :
“Rủ nhau đi gánh nước thuyền
Ðứt quang vỡ sải nước liền xuôi đông.”
Có một ví dụ nữa, các cụ hát:

ngữ, truyện Nôm, nhất là truyện Kiều.
Ví dụ nói: “Bây giờ gặp mặt nhau đây mà cứ ngỡ như là chuyện chiêm
bao...” Câu nói này khiến ta liên tưởng đến những chữ đã dùng trong 2 câu thơ
truyện Kiều:
“Bây giờ gặp mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.”
Ví dụ nói để khen bạn: “Thưa anh Hai, anh Ba... thật là thơm cây, thơm
rễ, người giồng (trồng) cũng thơm, đấy ạ!”. Câu nói này khiến ta nghĩ ngay đến
câu ca dao:
“Người như hoa quế thơm lừng
Thơm cây, thơm rễ, người giồng (trồng) cũng thơm.”
Lời ca Quan họ là kết tinh của sự mộc mạc và sự trau chuốt. Có một số lời
ca, nếu tách riêng thành văn bản, thì bước đầu tiếp xúc, có khi ta chưa thấy hết

15


cái đẹp, cái hay của lời ca đó, nhất là cảm thụ theo góc độ thi ca thuần tuý.Ví dụ,
lời bài ca “Trên rừng 36 thứ chim”:
“Trên rừng ba mươi sáu thứ chim
Thứ chim chèo bẻo, thứ chim chích choè
Trong Quan họ có người trồng tre…”
Nhưng khi tiếng hát rộn ràng bài hát đó lên, ta bị cuốn hút dần vào bài ca,
và, trong nhiều xúc cảm, thì một xúc cảm gây ấn tượng sâu sắc trong ta là: sự
mộc mạc của ngôn từ lời ca đã đưa ta đến bắt gặp một dáng dấp, một phong
cách, một dạng hình, một tâm hồn... cũng hết sức mộc mạc nhưng rất đáng yêu
của con người lao động một thời, con người ấy phải được miêu tả bằng ngôn từ
ấy.
Ở một bài ca khác, bài “Ngồi tựa mạn thuyền” và “Ngồi tựa song đào”
thì lại chiếm lĩnh tâm hồn người nghe không phải bằng một ngôn từ mộc mạc

Tôi đàn người lý nâng trầu người xơi”
(Vào chùa)
Người Quan họ đã ý nhị mà giải thích rằng: Vì Quan họ xưa có mối quan
hệ rất lịch sự, tuy văn hoa một chút, nhưng là để xứng với khăn vuông mỏ quạ,
áo khăn nhiễu điều nhiều tía, hoa lý hoa đào, xà tích khuyên vàng rộn ràng ý tứ:
… “Em đi khắp bốn phương trời,
Không đâu lịch sự bằng người ở đây…”
Ngôn ngữ trong lời ca Quan họ cũng giàu tính hình tượng như ngôn ngữ
thơ ca dân gian nói riêng và ngôn ngữ thơ ca nói chung. Ta có thể tìm hiểu một
số thành tựu về thủ pháp xây dựng hình tượng trong lời ca Quan họ. Hình tượng
cây trúc ta thường gặp ấy đã trở nên biểu tượng cốt cách, phẩm chất của người
quân tử: cứng rắn, vươn thẳng, sức sống dẻo dai, bền vững trước mọi thử thách;
ý chí kiên định; nhân cách thanh cao... Nhưng hình tượng cây trúc trong lời ca
Quan họ lại mang những biểu tượng gần gũi với phong độ, cốt cách, phẩm chất
đẹp đẽ của người bình dân:
“Hôm nay xum họp trúc mai
Tình trong một khắc, nghĩa dài trăm năm...”
(La Rằng)

17


Hoặc
“Trúc xinh trúc mọc sân đình
Anh (Hai) xinh anh (Hai) đứng một mình cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Anh (Ba) xinh anh (Ba) đứng nơi nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu chùa.
Không yêu em lấy đạo bùa phải yêu.”
(Trúc xinh)

là thứ tình không phải là một đời mà truyền đời.
Nhắc đến ngôn từ dân ca Quan họ, ta không thể không nhắc đến tiếng đệm
(phụ) trong mỗi lời ca. Nhìn vào nhiều bài ca Quan họ, ta thấy có rất nhiều tiếng
đệm độc đáo. Chẳng hạn: Bạn tình ơi, song bên í a, ù xang ù cái lưu phàn xê –
qua lới nọ, duyên tình ơi, tình tang tính, tính tình tang, tình chung rằng là…ư hội
ừ, a hợi à…Không phải tiếng đệm ấy mang vào lời ca một cách ngẫu nhiên mà
còn có nhiều tác dụng khác nhau. Trước hết, nó có tác dụng nối đoạn này với
đoạn kia, câu trên câu dưới hoặc ý nọ với ý kia… Một tác dụng quan trọng là
chính những tiếng đệm này làm cho giai điệu bài ca uyển chuyển, thiết tha, mượt
mà trong sáng, thậm chí, nhiều bài ca hay, một phần nhờ tiếng đệm. Một tác
dụng nữa không kém phần quan trọng là vì tiếng đệm trong Quan họ có đặc điểm
riêng nên nhiều người tỉnh ngoài khi hát khó bắt chước, ta quen gọi là: “Giọng
Quan họ giả cầy”, có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến yếu tố tiếng đệm.
Một thứ ngôn ngữ đầy hình tượng, âm thanh: có cảnh, có tình, cảnh tình
hoà quyện và “bổng trầm, non nỉ...” âm thanh. Từ cảnh ấy, tình ấy, nổi bật lên
con người “tài trai” và “thục nữ”, con người khao khát, đắm say vẻ đẹp của
thiên nhiên, của tình người. Cho nên, dù ngôn từ lời ca Quan họ được thể hiện
trong dạng mộc mạc, hoặc trau chuốt, bóng bảy, đều đạt tới hiệu quả nghệ thuật
cao. Ðược như vậy chính vì người sáng tạo lời ca biết gạn lọc, lựa chọn ngôn từ
ở trình độ cao, có một trình độ tích luỹ, am hiểu sâu rộng về thơ ca dân gian và
cao hơn hết là sự rung cảm nghệ thuật tinh tế, chân thành.

19


Trích đoạn Phân loại điển tích nghĩa của điển tích
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status