BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
HỒ THỊ HÒA
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA NỢ XẤU
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01 Giảng viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
TP.HCM, tháng 10.2014 LỜI CAM ĐOAN
văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên,
khuyến khích tinh thần lẫn vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện luận
văn này.
Xin gửi lời chúc sức khỏe và trân trọng cám ơn!
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hồ Thị Hòa
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
TÓM TẮT ix
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1. Lý do chọn đề tài 1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu 3
1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 3
1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp 4
1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.5.1. Ý nghĩa khoa học 4
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
Thừa Thiên Huế 58
4.4.1. Mặt mạnh 58
4.4.2. Các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
5.1. Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu 64
5.2. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
5.3. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Agribank : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Agribank chi : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh
nhánh Huế Thừa Thiên Huế
CN : Chi nhánh
CP : Chính phủ
CBTD : Cán bộ tín dụng
NH : Ngân hàng
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
TCTD : Tổ chức tín dụng
VN : Việt Nam
TSTC : Tài sản thế chấp
XLRR : Xử lý rủi ro
ATM : Máy rút tiền tự động (Automated teller machine)
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
POS : Máy chấp nhận thanh toán thẻ (Point of Sale)
RRTD : Rủi ro tín dụng
IPCAS : Interbank Payment and Customer Accounting System-Dự án
Hình 4.6: Diễn biến nợ xấu và khả năng sinh lời của Agribank chi nhánh Thừa
Thiên Huế trong giai đoạn nghiên cứu 43
TÓM TẮT
Thực tế tại Việt Nam từ giai đoạn năm 2008 cho đến nay đã cho thấy, nợ xấu
luôn là căn bệnh cố hữu chưa được giải quyết và từ đó tiềm ẩn các nguy cơ đổ vỡ của
cả hệ thống và ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Là một thành
viên của hệ thống Agribank, Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế cũng không tránh
khỏi các vấn đề nợ xấu, khả năng sinh lời trong bối cảnh hiện tại. Vì vậy, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa nợ xấu và khả năng sinh lời của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Thừa Thiên Huế”
làm luận văn thạc sĩ. Luận văn được thực hiện với mục tiêu phân tích, đánh giá hiện
trạng nợ xấu và khả năng sinh lời của Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế trong giai
đoạn 2000-2014, từ đó có các kiến nghị cải thiện tình hình nợ xấu, tăng cường khả
năng sinh lời cho ngân hàng trong giai đoạn tới. Nghiên cứu được thực hiện với đối
tượng nghiên cứu là nợ xấu (NPL), khả năng sinh lời (ROA) và các biến kiểm soát
như nợ vay, ứng trước của khách hàng, tổng huy động, dự phòng rủi ro, các nhóm nợ
…của Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế. Thông qua phương pháp nghiên cứu
định lượng, tác giả thực hiện xem xét mối quan hệ giữa nợ xấu, khả năng sinh lời và
các biến kiểm soát thông qua phần mềm nghiên cứu Eviews 6. Các nghiên cứu đi
trước của các tác giả K.Rama Mohana Rao và Tekeste Berhanu Lakew (2012),
Kolapo T. Funso; Ayeni, R. Kolade (2012), Ahlem Selma Messai (2013), Neir Klein
(2013), Aamir Azeem, Amara (2014), Trinh Quốc Trung, Nguyễn Văn Sang (2013),
Đỗ Quỳnh Anh, Nguyễn Đức Hùng (2013) được tổng hợp lại để có cái nhìn tổng
quan về mối quan hệ giữa nợ xấu và khả năng sinh lời của ngân hàng. Trên cơ sở đó,
tác giả đã ứng dụng mô hình nghiên cứu của Kolapo T. Funso; Ayeni, R. Kolade
(2012), Neir Klein (2013), Ahlem Selma Messai (2013) để thực hiện mô hình nghiên
cứu như sau:
phù hợp của mô hình còn thấp, từ đó hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả là mở
rộng quy mô mẫu ra toàn ngành ngân hàng và đưa thêm một số biến phù hợp với
nền kinh tế VN vào mô hình nghiên cứu.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thị trường tài chính luôn được xem là xương sống của bất kỳ nền kinh tế nào
trên thế giới, trong đó hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong thị
trường tài chính. Do có sự quan trọng này vì nó vừa đóng vai trò là nguồn cấp tín
dụng quan trọng nhất cho nền kinh tế, vừa đóng vai trò là nhà đầu tư (các ngân hàng
đầu tư) để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đồng thời nó cũng đóng vai trò là công
cụ để Ngân hàng Trung ương (hay Ngân hàng nhà nước) điều tiết chính sách tiền tệ
quốc gia. Khi nghiên cứu phạm trù hiệu quả thì không thể không nói đến lợi nhuận,
khả năng sinh lợi của ngân hàng, khi đề cập đến vấn đề ổn định thì không thể không
bàn về vấn đề nợ xấu của hệ thống ngân hàng.
Theo văn phòng Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2012), đối với hệ thống
ngân hàng của Việt Nam, dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm từ 35-37% GDP và mỗi
năm ngành ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả
nước
1
. Như vậy ngành ngân hàng đã làm tốt vai trò cấp tín dụng cho nền kinh tế
đồng thời góp phần tạo công ăn việc làm mới, thu hút lao động có trình độ cao. Do
đó, một hệ thống ngân hàng tốt, kinh doanh có hiệu quả và đóng góp tích cực vào sự
ổn định của hệ thống tài chính quốc gia là mục tiêu quan trọng mà bất kỳ một quốc
gia nào cũng muốn hướng tới, Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Tuy nhiên thực tế trong giai đoạn từ năm 2008 cho đến nay đã cho thấy, vấn
nợ xấu luôn là căn bệnh cố hữu chưa được giải quyết và từ đó tiềm ẩn các nguy cơ
đổ vỡ của cả hệ thống và ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của ngân hàng:
- Tính đến cuối năm 2008, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở khoảng
. So với cuối năm 2012, nợ xấu của Agribank đã tăng
thêm tới 5.715 tỷ đồng, tốc độ tăng tương đương 20%. Tổng giá trị nợ xấu tới hơn
33.000 tỷ đồng của Agribank lớn hơn gấp nhiều tổng tài sản của hầu hết các ngân
hàng quy mô nhỏ tại Việt Nam và ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi nhuận của NH.
Như vậy các diễn biến về nợ xấu vừa là nguyên nhân gây mất an toàn cho hệ
thống tài chính ngân hàng, bất ổn cho nền kinh tế, vừa bào mòn lợi nhuận của ngân
hàng. Do vậy, việc tìm hiểu đánh giá các tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lời
của hệ thống NHTM Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh hiện tại cả về mặt thực
tiễn lẫn lý luận.
Là một thành viên của hệ thống Agribank, Agribank chi nhánh Thừa Thiên
Huế cũng không tránh khỏi các vấn đề nợ xấu, khả năng sinh lời trong bối cảnh hiện
tại. Và vì thế, do có được điều kiện công tác tại đây, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn
đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa nợ xấu và khả năng sinh lời của Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thừa Thiên Huế” làm luận văn
thạc sĩ.
1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá hiện trạng nợ xấu và khả năng sinh lời của Agribank chi
nhánh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn vừa qua, từ đó có các kiến nghị cải thiện
tình hình nợ xấu, tăng cường khả năng sinh lời cho ngân hàng trong giai đoạn tới. 4
http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/Co-hoi-pha-bang-no-xau/20429.tctc
5
Trong khi đó, các ngân hàng trước đây được tạm tính là dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu như Sài Gòn Hà Nội - SHB
(trên 9%), Nam Việt - Navibank (6%), Kỹ Thương - Techcombank (5,2%)
3
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Có mối liên hệ, tác động giữa nợ xấu với khả năng
chức, định chế tài chính lớn trên thế giới.
- Các báo cáo nghiên cứu của cơ quan, viện, trường đại học; các báo cáo của
các NHTM, định chế tài chính về vấn đề nợ xấu trong ngân hàng.
- Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí
mang tính hàn lâm có liên quan.
- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là các công trình nghiên cứu
của các tác giả đi trước về lĩnh vực nợ xấu và khả năng sinh lời.
1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp
- Tác giả sử dụng phương pháp tính toán các chỉ tiêu, phương pháp so sánh
và đồ thị nhằm đánh giá diễn biến nợ xấu và khả năng sinh lời.
- Sử dụng phương pháp phân tích logic nhằm suy luận chuỗi lôgic các vấn đề
sự kiện thực tế phát sinh để đưa ra kết luận.
- Xem xét mối quan hệ giữa nợ xấu, khả năng sinh lời và các biến kiểm soát
bằng các kỹ thuật thống kê như phân tích hệ số tương quan; Hồi quy OLS; Kiểm
định giả thuyết
- Phần mềm nghiên cứu: Eviews 6
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
Với đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa nợ xấu và khả năng sinh lời của
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông Thôn chi nhánh Thừa Thiên Huế " tác
giả đã hệ thống hóa được các lý luận về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó góp phần kế
thừa và phát triển tiếp tục các lý luận đó trong thời kỳ mới. Đồng thời kết quả
nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích đối với các độc giả quan
tâm, nghiên cứu về nợ xấu ngành ngân hàng.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra các kết luận về hiện trạng của vấn đề nghiên cứu đối với
Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế, từ đó kiến nghị một số giải pháp cải thiện
tình hình nợ xấu của Agribank chi nhánh Thừa Thiên Huế. Đồng thời, luận văn
5
cùng cần thiết.
Cho tới nay có khá nhiều quan điểm về nợ xấu như sau:
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị
nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường
xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các
khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả
nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “ Về cơ
bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày;
hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc
7
chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày
nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán
đầy đủ”. Hay nói cách khác nợ xấu được xác định trên hai yếu tố: quá hạn trên 90
ngày; nghi ngờ về khả năng trả nợ.
Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS):
BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể tuy nhiên BCBS xác định, việc khoản nợ bị
coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy
ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi Ngân hàng chưa
thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90
ngày. Như vậy có thể thấy nợ xấu là toàn bộ các khoản vay quá hạn trên 90 ngày và
có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ.
Theo một số tiêu chí của NHTM liên minh châu Âu: nợ xấu trong hoạt
động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường
không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn
nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho
Ngân hàng. Quan điểm này được xác định dựa trên kết quả trả nợ cuối cùng của
khách hàng đối với ngân hàng.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế -IAS: nợ xấu là những khoản nợ quá hạn
trên 90 ngày và/hoặc nghi ngờ khả năng trả nợ. Về cơ bản IAS chú trọng tới khả
tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; các
khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định. Các khoản nợ quá hạn
dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn
và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Các khoản nợ khác được phân
loại vào nhóm 1 theo quy định.
Đối với khoản nợ quá hạn, TCTD phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp
hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối
với nợ gốc quá hạn); nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian 6
tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, 3 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể
từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn.
9
Có tài liệu hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã
được xử lý, khắc phục.
TCTD có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có
khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi trong thời hạn còn lại.
Đối với các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, TCTD phân loại lại
vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại
trong thời gian 6 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, 3 tháng đối với các khoản nợ
ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn cơ cấu lại.
Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ
đã được xử lý khắc phục.
TCTD có đầy đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách
hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại; Các
khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến
180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời
đặc biệt, chi nhánh nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; các khoản nợ khác được
phân loại vào nhóm 5 theo quy định.
Đối với các nhóm nợ 2, 3, 4, 5 TCTD phải chuyển khoản nợ vào nhóm có
rủi ro cao hơn trong các trường hợp:
Toàn bộ dư nợ của 1 khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.
Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn TCTD làm đầu mối phải thực hiện
phân loại nợ đối với các khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thông
báo kết quả phân loại nợ cho các TCTD tham gia cho vay hợp vốn. Trường hợp
khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại TCTD tham gia
cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không có cùng nhóm nợ của khoản nợ
vay hợp vốn do TCTD làm đầu mối phân loại, TCTD cho vay hợp vốn phân loại lại
11
toàn bộ dư nợ (kể cả các phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn
vào nhóm nợ do TCTD đầu mối phân loại hoặc do TCTD tham gia cho vay hợp vốn
phân loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn.
TCTD phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào các nhóm
theo quy định và nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của TCTD khi xảy ra các
trường hợp:
Có những diễn biến tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh doanh
của khách hàng.
Các khoản nợ của khách hàng bị các TCTD khác phân loại vào nhóm nợ
có rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng
thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị
suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm.
Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài
chính theo yêu cầu của TCTD để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp Ngân hàng có thể kiểm
soát được các danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp
“Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi
ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng
trong dài hạn”.
Như vậy, có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro tín dụng,
song các quan niệm về rủi ro tín dụng đều hội tụ với nhau về bản chất đó là: Rủi ro
tín dụng là khả năng (xác xuất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải
gánh chịu do khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam
kết với NH.
Rủi ro tín dụng có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là làm giảm
thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng sẽ
dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản Ngân hàng và từ đó là
căn nguyên gây ra vấn đề nợ xấu.
13
2.1.2. Khả năng sinh lời
Khái niệm: Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh hay sử dụng tài sản. Khả năng sinh lời là quá trình nghiên cứu để đánh
giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng nhằm làm rõ
chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, từ đó đề ra
các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải
dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp
dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và
tài chính, thể hiện bằng kết quả đạt được trên phương tiện đó. Khả năng sinh lời có
thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản.
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng
như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và
khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với rủi ro tín dụng và chỉ
ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. Những ngân hàng hoạt
động không hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản “xấu”, cuối
cùng sẽ tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ.
Theo Daft (2008) định nghĩa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung
năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.
Công thức: ROE = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường /Vốn cổ phần
thường. Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích
lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so
sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định
mua cổ phiếu của ngân hàng nào. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử
dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài
hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong
quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ
phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
- Thu nhập từ lãi biên % (NIM_Net interest margin) = (Thu nhập cho vay và
đầu tư CK - Chi trả lãi tiền gửi và nợ khác)/ tổng tài sản có sinh lời bình quân((cuối
kỳ + đầu kỳ)/2). Tài sản có sinh lời là những tài sản mang lại lợi nhuận cho NH như
15
cho vay KH, các khoản đầu tư, cho vay liên NH, tiền gửi tại NHNN. Đơn giản hóa
phần tử số chính là khoản thu nhập lãi thuần trong bảng cân đối kế toán. Tỷ lệ thu
nhập lãi cận biên được tính bằng cách chia phần thu nhập từ lãi cho tổng tài sản có
sinh lời bình quân. Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là
thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. NIM có xu hướng cao ở
các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho
vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ
chức cho vay cầm cố. Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản Nợ -
Có trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng
đang bị co hẹp lại.
Tóm lại, dù đo lường cách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận của
ngân hàng sau một thời kỳ hoạt động trong các mối tương quan với nguồn vốn, tài
sản, khả năng bù đắp chi phí và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn
và phát triển vốn. Để có lãi, các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng
tăng cho mình, phải tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn
chế được những rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và