LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là do công trình nghiên cứu của chính tôi thực
hiện. những số liệu trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực. Các đoạn
trích được trích dẫn rõ ràng, đúng quyền tác giả. Các kết quả nghiên cứu trong
luận văn chưa từng được công bố.
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 5 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Viết Hưng
Lời cảm ơn !
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học sư
phạm Đà Nẵng, Thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – giáo dục đã tận tình chỉ
bảo giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt 4 năm học tập tại
trường cũng như trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo ThS. Tô
Thị Quyên cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu nhà trường, các
thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ Sử - Địa và bộ môn Giáo
dục công dân, giáo viên chủ nhiệm và tập thể học sinh các lớp 10a1, 10a13,
12b1 và 12b6 cùng toàn thể các em học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà
Tĩnh đã nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác để em có thể hoàn thành khó luận tốt
nghiệp này.
Cảm ơn các bạn trong lớp và các anh chị khóa trước đã chia sẽ tài liệu và
giúp đỡ tôi rất trong quá trình thực hiện đề tài này.
Báo cáo tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để bài đề tài được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.2.1.1. Định nghĩa ................................................................................ 22
1.2.2.1. Những thuộc tính cơ bản của khí chất ...................................... 23
1.2.2. Cơ sở hình thành của khí chất ................................................... 23
1.2.2.1. Cơ sở sinh lý của khí chất........................................................ 23
1.2.2.2. Bản chất xã hội của khí chất ................................................... 26
1.2.3. Đặc điểm của các kiểu khí chất ................................................. 27
1.2.3.1. Kiểu khí chất Xăngghanh: linh hoạt ......................................... 27
1.2.3.2. Kiểu khí chất nóng nảy - kiểu Côlêric ...................................... 28
1.2.3.3. Kiểu khí chất bình thản - Phlecmatic ....................................... 28
1.2.3.4. Khí chất ưu tư - Mêlăngcôlic .................................................... 29
1.3. Những vấn đề chung về stress ......................................................... 31
1.3.1. Khái niệm chung về stress ......................................................... 31
1.3.1.1. Stress là gì? ............................................................................... 31
1.3.1.2. Cơ chế gây bệnh của stress...................................................... 35
1.3.2. Cách phân loại stress .................................................................. 37
1.3.2.1. Stress tích cực (Eustress) ......................................................... 37
1.3.2.2. Stress tiêu cực (Distress)........................................................... 38
1.3.2.3 Hyperstress ................................................................................ 38
1.3.2.4 Hypostress.................................................................................29
1.3.3. Các giai đoạn của trạng thái stress ............................................ 39
1.3.4. Nguyên nhân gây ra stress. ........................................................ 40
1.3.4.1. Những yếu tố sinh học và sức khỏe ......................................... 40
1.3.4.2. Môi trường sống ....................................................................... 43
1.3.4.3. Yếu tố tâm lý ............................................................................. 43
1.3.5. Dấu hiệu nhận biết stress .......................................................... 44
1.3.5.1. Dấu hiệu về stress về mặt cơ thể............................................... 44
1.3.5.2. Dấu hiệu về mặt tâm lý ............................................................. 44
1.3.5.3. Dấu hiệu về hành vi .................................................................. 46
2.3.2.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình .................... ..69
2.3.2.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học ................. 70
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... ..71
3.1. Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của học sinh trƣờng
THPT Hà Huy Tập .................................................................................. 71
3.1.1. Mối liên hệ giữa các kiểu khí chất hướng nội và hướng ngoại
với mức độ stress của học sinh THPT Hà Huy Tập ............................ 71
3.1.2. Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của học sinh trường
THPT Hà Huy Tập. .............................................................................. 72
3.1.3 Mối liên hệ giữa khí chất với stress theo mức độ stress của các
khối của học sinh trường THPT Hà Huy Tập .................................... 74
3.1.4. Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress theo giới tính của
học sinh trường THPT Hà Huy Tập .................................................... 76
3.2. Mối liên hệ giữa khí chất và nguyên nhân gây ra stress của học
sinh THPT Hà Huy Tập .......................................................................... 78
3.3. Mối liên hệ giữa khi chất và biểu hiện của stress của hóc sinh
trƣờng THPT Hà Huy Tập ..................................................................... 79
3.3.1. Mối liên hệ giữa khí chất và biểu hiện của stress về cơ thể học
sinh trường THPT Hà Huy Tập ........................................................... 79
3.3.2. Mối liên hệ giữa khí chất và biểu hiện stress về mặt tâm lý của
học sinh trường THPT Hà Huy Tập .................................................... 81
3.4. Mối quan hệ giữa khí chất và cách ứng phó với stress của học
sinh trƣờng THPT Hà Huy Tập ............................................................. 83
3.5. Mối liên hệ giữa khí chất và chia sẻ khi bị stress của học sinh
trƣờng THPT Hà Huy Tập ..................................................................... 85
3.6. Tác động của gia đình đối với các kiểu khí chất khi học sinh bị
stress của học sinh trƣờng THPT Hà Huy Tập .................................... 88
3.7. Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối với bố mẹ khi bị
THCS
Trung học cơ sở
3
ĐHSP
Đại học Sư phạm
4
ĐHQGHN
Đại Học Quốc Gia Hà Nội
5
KHXH
Khoa học Xã hội
6
Nxb
Nhà xuất bản
7
Bt
Biểu hiện stress về mặt thể chất
13
TƯ
Trung ương
14
UBND
Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
1
Bảng 2.1. Mẫu khách thể khảo
55
Bảng 3.5. Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất
đối với bố mẹ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà
Huy Tập
81
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
STT
1
Biểu đồ 3.1 Mối liên hệ giữa các kiểu khí chất hướng nội và
Trang
62
hướng ngoại với mức độ stress của học sinh THPT Hà Huy
Tập
2
Biểu đồ 3.2 Mối liên hệ giữa khí chất và mức độ stress của
64
học sinh trường THPT Hà Huy Tập
3
Biểu đồ 3.3 Mối liên hệ giữa khí chất với mức độ stress theo
72
hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy
Tập
8
Biểu đồ 3.8 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và việc
76
chia sẻ vấn đề của mình với người khác nhằm giải tỏa stress
của học sinh THPT Hà Huy Tập
9
Biểu đồ 3.9 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa kiểu khí chất và
77
đối tượng chia sẻ của học sinh trường THPT Hà Huy Tập
10
Biểu đồ 3.10 Biểu đồ thể hiện tác động của gia đình đối với
các kiểu khí chất khi học sinh bị stress của học sinh trường
80
THPT Hà Huy Tập
11
Biểu đồ 3.11 Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất đối
các yếu tố khác như stress với ung thư, stress với nhận thức hay stress với
nghề nghiệp,... Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về
mối liên hệ giữa khí chất và stress, nhất là mối liên hệ giữa khí chất và stress
của học sinh THPT.
Với tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí
chất và stress của học sinh trƣờng THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh”. Đề tài
không những cho chúng ta biết được thực trạng các kiểu khí chất và stress,
mối liên hệ giữa khí chất và stress mà cả xu hướng stress của các kiểu khí
chất, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp giúp học sinh phòng chống stress
phù hợp với kiểu khí chất của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT.
- Đề ra một số giải pháp giúp các em phòng chống stress phù hợp với kiểu
khí chất của mình.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về khí chất, stress và mối liên hệ giữa
chúng.
3.2. Nghiên cứu thực trạng kiểu khí chất và stress ở học sinh, xác định
những yếu tố gây ra stress học sinh, từ đó khảo sát mối liên hệ giữa khí chất
và stress.
3.3. Đề ra phương hướng giải toả và cách thức ngăn ngừa stress theo kiểu
khí chất ở lứa tuổi học sinh
4. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa khí chất và stress của học sinh
THPT Hà Huy Tập, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
- Khách thể nghiên cứu: học sinh THPT
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Trường THPT Hà Huy Tập, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu về khí chất
Từ lâu các nhà tâm lý học đã chú ý đến những sự khác nhau có tính cá biệt
trong hành vi của con người. Ngay từ thời cổ đại, những người có kinh
nghiệm đã ghi nhận rằng có những “hình ảnh hành vi” tiêu biểu cho một cá
nhân. Trong một tình huống nào đó, một người có những đặc tính hành vi nhất
định sẽ hành động chỉ như thế này mà không như thế khác.
Ở Phương Đông, những người Ấn Độ cổ đại theo chủ nghĩa khổ hạnh từ
chối hoạt động thể lực, tính lực đã nêu nên một số quy luật trong sự khác
nhau cá biệt của những người tách khỏi sự vận động. Họ cố gắng “tới gần
thượng đế” bằng cách nằm hoặc đứng bất động hàng ngày trong bãi lầy đồng
thời ngẫm nghĩ về “cái tôi” của mình. Họ cho rằng những người trong cuộc
sống hàng ngày luôn nóng nảy, dễ xúc cảm thì hoàn toàn không thể chịu được
sự cố tình từ bỏ cảm xúc trong lúc im lặng không vận động (tức cái gọi là
“chủ nghĩa khổ hạnh bên trong”). Còn những người rơi vào trạng thái xúc
cảm (ý bệnh hysterin) là những người giữ được thăng bằng để chịu đựng hơn
“chủ nghĩa khổ hạnh bên trong” như vậy.
Trong Chu dịch (hay còn gọi là Kinh dịch) cũng bàn đến vấn đề khí chất.
Sự phân loại khí chất mà Chu dịch là phương pháp phân loại sớm nhất, là
nguồn gốc phân loại khí chất của Nội kinh, là mẫu mực hợp nhất của tâm chất
và thể chất, cũng là điểm phạm của âm dương và ngũ hành kết hợp với nhau.
Bát quái Chu dịch tượng trưng 8 loại thuộc tính vật chất, tức quẻ Càn ☰ là
trời, tính mạng; quẻ Khôn ☷ là đất, tính nhu; quẻ Chấn ☳ là sấm, tính cứng;
quẻ Tốn ☴ là gió, tính thuận; quẻ Khảm ☵ là nước, tính nhu; quẻ Ly ☲ là
lửa, tính nóng; quẻ Cấn ☶ là núi, sâu đậm; quẻ Đoài ☱ là đầm, tính thuận,
tuy là Bát quái thực ra là 5 thuộc tính ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Trong đó, quẻ Ly thuộc tính hoả, vì Ly là mặt trời, vì Khảm Đoài đều là thuỷ,
tính nhu; Chấn là sấm, Tốn là gió đều thuộc mộc; Khôn là đất, Cấn là núi đều
Tính phong thuộc dương chủ động nên loại người này hiếu động, tính gấp,
nhanh nhẹn được việc, tư duy minh mẫn, giỏi về ngoại vụ, có tố chất của nhà
ngoại giao. Người quẻ Tốn đến đi vội vàng giống như cơn gió, nhưng tính
phong nhiều biến đổi, vì vậy người quẻ Tốn phần đông không ổn định, khi thì
giống như cuồng phong, khi thì giống như gió thoảng, lúc thì nhu thuận, lúc
thì mạnh mẽ. Người quẻ Tốn cứng mạnh ở bên trong rất ý chí. Ngoài ra,
người quẻ Tốn đa nghi, đố kỵ, lòng dạ hẹp hòi.
Khí chất Bát quái tuy khác nhau, nhưng đều có thể hoà hiệp cùng tồn tại.
Dịch Thuyết quái viết: “Núi đầm cùng thông hơi với nhau, sấm gió cùng xô
xát nhau, nước lửa chẳng cùng diệt nhau”
Biểu thị bất luận giới tự nhiên hoặc xã hội con người tuy tính khác nhau,
nhưng hoàn toàn có thể hài hoà cùng ở với nhau, cho dù vật chất hoặc người
có tính chất trái ngược nhau, cũng có thể hợp thành một thể thống nhất.
Ở phương Tây, ngay ở Hi Lạp cổ đại, để chỉ những đặc điểm cá biệt của cá
nhân, người ta đưa ra thuật ngữ “khí chất” (temperament). Lịch sử còn ghi
nhận lại tên tuổi Hypocrat (377 – 460 TCN) – một bác sỹ, đồng thời là một
nhà triết học – người đã phát hiện ra các loại khí chất. Những công trình
nghiên cứu chứng minh rằng Hypocrat đã chỉ có một tư tưởng là có bốn chất
lỏng (máu, chất nhầy, mật vàng và nước mật đen) trong cơ thể người ta và tỉ
lệ khác nhau của các chất đó quyết định hành vi của con người.
Một bác sỹ La Mã là Galen (130 – 250 TCN) đã hoàn thành kỹ thuật của
Hypocrat và phân loại thành bốn loại tương ứng với bốn khí chất. Các bác sỹ
Hy Lạp – La Mã cổ đại đều cho rằng mỗi một kiểu khí chất đều phụ thuộc vào
tỷ lệ giữa máu, chất nhầy và mật trong cơ thể người ta. Họ đều nêu lên các
đặc tính sau đây của khí chất cơ bản.
Kiểu linh hoạt là kiểu có số lượng máu trong cơ thể nhiều. Kiểu người này
dễ thay đổi sự quyến luyến, thói quen. Tâm trạng của người kiểu này dễ di
chuyển sang các trạng thái có tính chất khác nhau. Người kiểu khí chất linh
quy luật của hoạt động thần kinh cấp cao (gồm hai quá trình căn bản đó là
hưng phấn và ức chế và những thuộc tính của hai quá trình thần kinh gồm có
3 thuộc tính cơ bản đó là: cường độ, cân bằng và linh hoạt.
Theo I. P. Pavlov đặc điểm của các hoạt động thần kinh với 3 thuộc tính
bao giờ cũng có hai trạng thái đối lập nhau đó là: Mạnh – yếu, cân bằng –
không cân bằng, linh hoạt – không linh hoạt.
Ba thuộc tính: cường độ, cân bằng, linh hoạt kết hợp độc đáo với nhau tạo
nên 4 kiểu thần kinh cơ bản, đó cũng là cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý:
khí chất – mỗi kiểu hình thần kinh tương ứng với một kiểu khí chất và có
những đặc điểm tâm lý khác nhau từ đó biểu hiện ra cách ứng xử khác nhau.
Trên cơ sở các dạng thần kinh này có bốn loại khí chất tương ứng: sôi nổi,
linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh.
1.1.2. Tổng quan về nghiên cứu về stress
Stress không chỉ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học của
tâm lý học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau như sinh lý học, xã hội học, y học, tâm thần học… Các nghiên cứu được
nghiên cứu ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có nước
ta.
1.1.2.1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài
Thuật ngữ stress lúc đầu được sử dụng trong vật lý học, để chỉ một sức nén
mà một loại vật liệu nào đó phải chịu đựng.
Trong y học, từ lâu người ta đã chú ý đến vấn đề là tại sao những bệnh
nhân khác nhau lại mắc những triệu chứng giống nhau. Nhiều tác giả đã mô tả
các triệu chứng loét dạ dày và ruột ở những bệnh nhân bị bỏng da như Svon
(1823), Kerling 1842) – người Anh hoặc ở những bệnh nhân sau một phẫu
thuật lớn bị nhiễm trùng như Billrot – người Đức. Viện Paster Rom và viện
Yersen đã mô tả tuyến thượng thận của chuột lang bị tăng trưởng và xuất
huyết khi chúng bị nhiễm bệnh bạch hầu...
chung” hay còn gọi là “triệu chứng stress sinh học”. Và ba biến đổi trên đã trở
thành ba chỉ số quan trọng của stress và là cơ sở để phát triển một khái niệm
đầy đủ về stress.
Ông cũng là người đã phổ biến từ stress trong quần chúng khi ông phát
hành cuốn “The Stress of Life” vào năm 1956.
Năm 1984 nhóm các nhà khoa học tại Đại học Tổng hợp Los Angeles bang
Caliphonia đã khám phá ra vai trò của các peptids dạng opi trong sự thiếu hụt
miễn dịch liên quan đến stress, nhất là đối với các tế bào tiêu diệt tự nhiên.
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra
những bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng, cung cấp những lập luận vững
chắc về mối tương tác giữa stress và phản ứng miễn dịch.
Plaut và Friedman (1981) đã chứng minh stress làm tăng nguy cơ tiếp xúc
với các bệnh nhiễm trùng, các phản ứng dị ứng ở người. Irwin và Livnat
(1987) cho thấy có vô số tác nhân stress đã làm giảm sự tuần hoàn của tế bào
T. Họ cũng đồng thời chứng minh các yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến khả
năng miễn dịch với stress, nhưng cơ chế đích thực thì chưa rõ ràng.
Tiếp đó, Sklar và Anisman (1987) cho rằng những thay đổi đột ngột trong
việc tiếp xúc với bầy đàn đã làm tăng sự phát triển của khối u trong thực
nghiệm chuột nhắt, các quan sát phản ứng với stress ở người nói chung cũng
xác nhận những kết quả tương tự.
Ở nước ngoài hiện nay có thể nói rằng tình hình nghiên cứu về stress rất
được quan tâm chú ý với nhiều đề tài nghiên cứu phong phú. Trước hết, các
phản ứng hoặc tình trạng stress có những biểu hiện rõ nhất trên bình diện sinh
lý học, y học và gần đây người ta bắt đầu nghiên cứu stress trên bình diện tâm
lý.
1.1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, có lẽ không thừa nếu các nhà chuyên môn biết vận dụng kinh
nghiệm của người xưa trong việc hóa giải stress ở người bệnh. Không phải
đời sống”, “Stress và sức khỏe”, “Chung sống với stress”.
Hai tác giả Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “Stress
trong thời đại văn minh” nxb Đà Nẵng, 1986 đã cảnh báo với tất cả những
người đang sống trong xã hội văn minh về nguy cơ stress và hậu quả của
stress... Nguyễn Công Khanh, tiến sĩ tâm lý lâm sàng đã nghiên cứu về các
liệu pháp trị liệu tâm lý, các công trình nghiên cứu của các tác giả này mang
một giá trị khoa học cao, gắn liền với các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp của
họ.
Hiện nay, ngoài những nghiên cứu chính thức tại Việt Nam đã có những
công trình nghiên cứu, tác phẩm, bài viết hoặc bài dịch từ tiếng nước ngoài
đăng trên các báo và tạp chí trong nước, hoặc phổ biến trên các website... giúp
ích cho người dân hiểu biết và phòng chống stress. Luận văn thạc sỹ tâm lý
của tác giả Lại Thế Luyện năm 2007 đã tìm hiểu về “Biểu hiện stress trong
sinh viên trường Đại học sư phạm Kỹ Thuật TPHCM”. Trong công trình này
tác giả Lại Thế Luyện đã đưa ra kết quả: Trong 500 khách thể nghiên cứu có
10,8% SV rất căng thẳng, 49,8% SV căng thẳng, 33,8% SV ít căng thẳng,
5,6% SV không có biểu hiện căng thẳng.
Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Nhân ĐH Quy Nhơn “Bước
đầu tìm hiểu thực trạng hiện tượng stress của sinh viên ĐH Quy Nhơn” cũng
đã đưa ra kết quả nghiên cứu trên 300 SV, trong đó 56,7% sinh viên có biểu
hiện stress ở các mức độ khác nhau.
Một số nghiên cứu ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2007 cho thấy có 21% học sinh bị trầm cảm, 3% có hành vi cố ý
gây thương tích, 8% đã từng bỏ nhà đi. Một nghiên cứu khác của Trung tâm
Nghiên cứu phụ nữ (ĐHQGHN) năm 2008 khảo sát trên 200 học sinh THPT
đã chỉ ra rằng 47% học sinh bị stress từ mức độ nhẹ, vừa và nặng.
1.2. Những vấn đề chung về khí chất
1.2.1. Khái niệm về khí chất
trưng chung nhất về cường độ, nhịp độ của toàn bộ hành vi của cá nhân, là
động lực tương đối bền vững trong cả cuộc đời cá nhân.
1.2.2.1. Những thuộc tính cơ bản của khí chất
- Tính nhạy cảm: một lực tác động bên ngoài nhỏ nhất đủ gây một phản ứng
tâm lý nào đó.
- Tính phản ứng, tính dễ xúc cảm: chức năng của tính chất này được xác
định bởi sức mạnh phản ứng cảm xúc của con người đối với các tác nhân kính
thích bên ngoài và bên trong.
- Tính đề kháng: là sự chống lại các điều kiện không thuận lợi làm ức chế
hoạt động.
- Tính cứng rắn và tính dễ uốn: tính cứng rắn thể hiện ở sự không dễ dàng
thích nghi với các điều kiện bên ngoài, còn tính dễ uốn nắn thì ngược lại.
- Tính chuyển hướng ngoài và chuyển hướng trong. Ở đây người ta chú ý
đến việc phản ứng và hoạt động của con người phụ thuộc vào cái gì nhiều
hơn.
- Tính kích thích của sự chú ý: khi mức độ mới mẻ càng ít mà vẫn thu hút sự
chú ý thì sự chú ý của người đó có tính kích thích càng cao.
Khí chất được xác định không phải bởi mỗi một tính chất riêng lẻ ,mà là
bởi sự tương quan tính quy luật giữa mọi tính chất. Nếu không tính đến các
tính chất đối lập nhau (ví dụ tính cứng rắn với tính dễ uốn) thì bất kỳ người
nào, mỗi tính chất đều thể hiện ở một mức độ nhất định và chỉ mối tương
quan nhất định giữa các tính chất đó mới thể hiện khí chất của người đó.
1.2.2. Cơ sở hình thành của khí chất
1.2.2.1. Cơ sở sinh lý của khí chất
Thuyết thần kinh do nhà sinh lý học vĩ đại người Nga I. P. Pavlov đề ra đã
giải thích một cách thực sự khoa học về các khí chất. Theo ông, cơ sở sinh lý
của các kiểu khí chất là kiểu hoạt động thần kinh cấp cao quy định. Trong các
công trình nghiên cứu của mình I. P. Pavlov đã chú ý nhiều đến bốn kiểu hoạt
những thức của hoạt động thần kinh cấp cao của cá nhân. Những kiểu trên là
những kiểu điển hình, thường hay gặp và nỗi bật nhất mà thực tế đã thể hiện
một cách rõ ràng. Ngoài ra còn có những kiểu chuyển tiếp và kiểu trung,
chuyển tiếp là những kiểu thần kinh được tồn tại nhiều nhất trong hiện thực. I.
P. Pavlov cho rằng, tự nhiên hiện thực là vô số những chuyển tiếp, những mức
độ chuyển tiếp.
B. M. Teplov - nhà tâm lý học người Nga còn cho rằng, cùng với những
thuốc tính kiểu loại chung đặc trưng cho hệ thần kinh nói chung còn có
những thuộc tính kiểu loại bộ phận đặc trưng cho từng công việc từng vùng
của vỏ não (ví dụ vùng thính giác, thị giác, vận động). Nếu những thuộc tính
kiểu loại chung quy định khí chất của con người thì những thuộc tính riêng lẻ
có nhiều ý nghĩa trong khi nghiên cứu năng lực chuyên môn. Những kiểu
chuyển tiếp những hình thức qua độ và cuối cùng là những kiểu hoạt động
thần kinh cấp cao bộ phận có thể là kết quả của những tư chất nhất định hoặc
chúng có thể được hình thành từ những kiểu cơ bản của quá trình hoạt động
sống của cá thể, do ảnh hưởng của những ấn tượng sống.
Theo các nghiên cứu tâm lý học, người ta cũng đã phát hiện ra một loạt
các tính chất phối hợp một cách khác nhau sẽ có thể xác định các kiểu thần
kinh.
Sức mạnh của hệ thần kinh nói lên sức mạnh của quá trình hưng phán và
ức chế là do năng lực hoạt động và sức bền của nó xác định, nghĩa là do khả
năng của tế bào thần kinh duy trì duy trì sự hưng phấn lâu dài hoặc rất mạnh
mà không chuyển sang trạng thái ức chế quá mức. Khoa học đã chứng minh
rừng: một hệ thần kinh càng yếu thì càng nhạy cảm. Vì vậy, tính nhạy cảm thị
giác hay thính giác của một số cá thể có thể là chỉ số về sức mạnh hệ thần
kinh của người đó. Điều này, càng khẳng định không có tính chất “xấu”, “tốt”
của hệ thần kinh. Chẳng hạn, nếu một hệ thần kinh yếu sẽ có độ bền bỉ kém
hơn hệ thần kinh mạnh nhưng nó lại nhạy cảm tốt hơn hệ thần kinh mạnh.