Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh bắc ninh - Pdf 10

Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách
và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Nguyễn Thị Duyên

Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên; Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tìm hiểu và hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản về nhân cách và hiện tượng
bắt nạt, bị bắt nạt ở học sinh phổ thông. Nghiên cứu khảo sát, phân tích đánh giá thực
trạng hiện tượng bắt nạt của 303 học sinh phổ thông ở Bắc Ninh. Chỉ ra mối liên hệ
giữa hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt và đặc điểm nhân cách của học sinh phổ thông,
qua đó chỉ ra được những đặc điểm nhân cách chủ chốt của thủ phạm và nạn nhân
của bắt nạt.

Keywords: Tâm lý học; Nhân cách; Bắt nạt học đường; Tâm lý học trẻ em; Trẻ vị
thành niên

Content
1. Lý do chọn đề tài
Hiện tượng bắt nạt nói chung và bắt nạt học đường nói riêng đã xuất hiện từ lâu, từ khi
các hình thức dạy học đầu tiên hình thành, bởi vì gây hấn, thống trị và cạnh tranh là một phần
trong các đặc tính của con người. Mức độ, hình thức và hậu quả của bắt nạt ngày càng tinh vi,
nguy hiểm và để lại hậu quả nặng nề cho cá nhân, gia đình mà toàn xã hội.
Nhân cách là tập hợp những đặc điểm riêng của mỗi cá nhân, được thể hiện một cách
ổn định thông qua hành vi ứng xử của họ. Ngoài giai đoạn hình thành nhân cách mạnh mẽ
lần thứ nhất khi đứa trẻ khoảng ba tuổi, nhân cách được đình hình rõ ràng xung quanh lứa

Qua việc tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các
trang web,… về các vsấn đề liên quan như đặc điểm nhân cách, hiện tượng bắt nạt, bắt nạt
học đường, … từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho
đề tài
7.2. Thang đo và bảng hỏi:
- Thang đo bắt nạt và bị bắt nạt: Chúng tôi dùng thang đo của Mynard và Joseph (2000
được dịch và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh Việt Nam.
- Trắc nghiệm nhân cách Eysenck và NEO- PI- R, chúng tôi sẽ trình bày rõ hai trắc
nghiệm này ở mục sau.
- Bảng hỏi: Ngoài thang đo bắt nạt, bị bắt nạt, trắc nghiệm Eysenck, NEO-PIR, chúng tôi
cũng thiết kế một bảng hỏi để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đặc điểm nhân cách của cá
nhân và hiện tượng bắt nạt, sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng xác suất thống kê:
Chúng tôi sử dụng phần mềm 17.0 SPSS để phân tích. Ngoài các phân tích thống kê
thông dụng như phần trăm, tỉ lệ, tính tổng, điểm trung bình chúng tôi dùng ANOVA để
phân tích và so sánh các nhóm. Chúng tôi sử dụng tương quan (correlations) để tìm hiểu
mối quan hệ giữa các thang đo và tiểu thang đo, và một số mối quan hệ khác.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày
trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Các lý thuyết về nhân cách
Lý thuyết chất dịch cho rằng: là cơ thể chứa đựng những chất dịch hay chất lỏng có
nhiều nhất trong cơ thể như máu, đờm, dãi, mật đen, và mật vàng, và những chất này có ảnh
hưởng nhiều tới nhân cách của con người. Nhân cách vui vẻ, hoạt bát, sinh động được cho
rằng phần lớn ở người có tỉ lệ máu cao, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt

hướng nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định – không ổn định. Nếu phân tích theo hướng
nội - hướng ngoại, một số người thường điềm tĩnh, cẩn thận trầm ngâm và ức chế (người
hướng nội) còn một số khác là những người luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động
(người hướng ngoại). Con người cũng có thể chia thành kiểu người buồn rầu, hay tự ái,
nhạy cảm (không ổn định), hay điềm tĩnh, đáng tin (ổn định). Bằng cách đánh giá con người
theo hai chiều hướng này, Eysenck có thể dự đoán hành vi con người trong nhiều tình
huống khác nhau. Với số câu vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck
(Eysenck Personality Inventory, viết tắt là EPI) đã được dịch và đưa vào sử dụng trong
nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng ở Việt Nam khá lâu. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi sử dụng thang đo nhân cách của Eysenck để tìm hiểu nhân cách của học sinh phổ
thông.
Lý thuyết về đặc điểm nhân cách đó là sự ra đời của mẫu 5 yếu tố lớn của nhân cách.
Người ta cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn
định ở lứa tuổi trưởng thành (McCrae và Costa). Năm 1981, Golberg sau khi tổng hợp các
nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghi lấy tên gọi 5 nhân tố đó là “Big
Five”.
5 nhân tố mà được nhiều người tán thành nhất đó là Nhiễu tâm, Hướng ngoại, Cởi mở, Dễ
đồng ý và Tận tâm. Ý nghĩa của của 5 yếu tố được diễn giải như sau:
Nhiễu tâm dùng để đánh giá sự bất ổn định về mặt cảm xúc, nhận ra những cá nhân
dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá.
Hướng ngoại đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích
cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
Cởi mở là yếu tố để mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao sự nắm giữ kinh
nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát những cái mới lạ.
Dễ đồng ý đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con người với một
chuỗi từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động.
Tận tâm đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng tới mục đích
của cá nhân. Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc
lập và mềm mỏng.
Bộ trắc nghiệm đánh giá nhân cách NEO PI-R (Personality lnventory - Revised) được xây

đã nghiên cứu Nạn nhân bắt nạt,
tự đánh giá bản thân và lo âu ở học sinh tiểu học trên 279 học sinh lớp 6, lớp 7, lớp 8, trong
đó học sinh nam chiếm 47%, học sinh nữ chiếm 53%. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng 75/279
chiếm 27.7% học sinh bị bắt nạt. Trong đó, học sinh nam bị bắt nạt chiếm 55% (n=41) và
nữ chiếm 45% (n=34).
Ở Việt Nam những nghiên cứu về bắt nạt thì mới bắt đầu từ năm 2009, bắt đầu với
bài báo Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học
sinh phổ thông nghiên cứu trên học sinh ở mỹ của Trần Văn Công, nghiên cứu sinh, Trường
Đại học Venderbilt của Hoa Kỳ, nhưng nghiên cứu về bạo lực học đường thì có từ lâu trước
đó. Với tính chất nguy hiểm và hậu quả để lại quá nặng nề cả mặt thể chất, lẫn tinh thần nên
hiện nay cũng có nhiều các nghiên cứu khác nhau về hiện tượng bắt nạt như các báo cáo
khoa học của sinh viên trường Đại Học Giáo Dục, ĐHQGHN, luận văn thạc sĩ của Khoa
tâm lý trường Đại Học KHXN&NV, ĐHQGHN.
Các công trình nghiên cứu về bắt nạt cũng đã đề cập đến các vấn đề khác như: Khái
niệm, đặc điểm, nguyên nhân, hậu quả của bắt nạt:
1.3.1. Khái niệm:
Người bắt nạt là cá nhân hoặc nhóm người cố tình sử dụng lời nói hoặc hành vi nào đó lặp
đi lặp lại nhằm gây tổn thương đến cơ thể hoặc tâm lý của người khác, dựa trên sự ưu thế
về quyền lực và vị thế xã hội của mình.
1.3.2. Các đặc điểm của bắt nạt:
Đặc điểm của nạn nhân, đặc điểm của thủ phạm là khác nhau: Tuy nhiên đều chung các
nhóm đặc điểm đó là: Đặc điểm cá nhân, đặc điểm về giới, độ tuổi, môi trường gia đình
Các đặc điểm của nạn nhân:

Thứ nhất là đặc điểm cá nhân: Những học sinh hay bị bắt nạt thường yếu đuối về thể
chất, rụt rè, nhút nhát, lầm lỳ ít nói, cau có, không có kỹ năng kết bạn nên ít bạn bè, thường
tách biệt, luôn cảm thấy thiếu sự hỗ trợ chung quanh nên dễ sợ hãi, và thiếu tự tin vào khả
năng và sức mạnh của chính mình, hoặc là những trẻ bị khuyết tật. Tuy nhiên những trẻ này
cũng thường có nhiều nguy cơ sẽ đi bắt nạt những trẻ yếu thế hơn mình.
Đặc điểm về giới tính

Đặc điểm về gia đình: Những thủ phạm của bắt nạt thường sống trong gia đình
thường thiếu vắng sự có mặt của người bố. Những đứa trẻ này, cả nam và nữ, chúng có
khuynh hướng ít được khuyến khích, ủng hộ trong gia đình của mình.
1.3.3. Hình thức bắt nạt
Có rất nhiều các hình thức bắt nạt khác nhau: Bắt nạt thể chất, bắt nạt quan hệ, bắt
nạt công nghệ…
Trong nghiên cứu này chúng tôi chia bắt nạt theo hai hình thức là bắt nạt trực tiếp và
bắt nạt gián tiếp. Bắt nạt trực tiếp là thủ phạm tác động một cách trực diện vào nạn nhân mà
không qua trung gian nào, ví dụ hành vi đấm đá trực tiếp vào người khác, còn bắt nạt gián
tiếp là thủ phạm sử dụng trung gian để bắt nạt người khác ví dụ cô lập, bảo các bạn khác
không chơi với ai đó
1.3.4. Hậu quả của bắt nạt
Có rất nhiều hậu quả do bắt nạt gây ra đối với cả thủ phạm, nạn nhân, gia đình hai
bên và toàn xã hội.
Ví dụ đối với nạn nhân những học sinh bị bắt nạt kéo dài, ngoài ảnh hưởng xấu việc
học tập, còn có tác hại rất lớn đến sự phát triển của các em, cả về mặt xã hội lẫn cảm xúc.
Các em rất dễ bị trầm cảm và luôn có cảm giác thấp kém, những điều sẽ gây khó khăn cho
cuộc sống của các em ngay cả lúc đã ở tuổi trưởng thành…
Hậu quả đối với thủ phạm của bắt nạt
Có thể nhận thấy, bắt nạt ở trường học thường được coi là vấn đề nghiêm trọng về
mặt cá nhân, xã hội và giáo dục, ảnh hưởng tới không ít học sinh. Bắt nạt cũng gây ảnh
hưởng xấu ngay cả đối với người đi bắt nạt. Học sinh chuyên bắt nạt học sinh khác thường
phát triển thành "thú vui" trong việc thể hiện sức mạnh và uy thế đối với nạn nhân và
không thể phát triển sự đồng cảm với người khác. Cứ như vậy, những trẻ đó có thể sẽ dần
hình thành những hành vi phạm pháp và tội ác.
1.3.5. Nguyên nhân của bắt nạt
Có rất nhiều những quan điểm khác nhau về nguyên nhân của bắt nạt và chúng tôi
xin đưa ra các nguyên nhân mà được nhiều người đồng ý nhất: Điều kiện kinh tế gia đình,
hình thức bên ngoài của học sinh….
1.3.6. Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt.

chiều cao, cơ lực, hệ xương, giới tính. Các em có sức lực dồi dào, bắp thịt nở nang, thân
hình cân đối khỏe mạnh và đẹp.
Đặc điểm nhân cách
Đây là độ tuổi phát triển mạnh mẽ về nhân cách, tự ý thức, tự khẳng định bản thân.
Ở lứa tuổi này các em học sinh đã và đang có những cảm nhận sâu sắc về người lớn.
Các em muốn mình là người lớn, và cũng muốn những người khác tôn trọng mình như
người lớn. Do vậy trong giai đoạn này các em dễ có những mâu thuẫn với cha mẹ vì các em
thì muốn chứng minh mình là người lớn, còn cha mẹ thì chưa thừa nhận các em là người
lớn.
Vị thế xã hội của lứa tuổi đầu thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt
các quan hệ xã hội của thanh niên được mở rộng. Trong các mối quan hệ đó người lớn, kể
cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người chuẩn bị thành người
lớn và đòi hỏi các em phải có cách cư xử phù hợp với vị thế của mình.
CHƢƠNG 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Các thang đo và bảng hỏi đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
2.1.1. Các thang đo và bảng hỏi
Thang đo bị bắt nạt : Là thang đo của hai tác giả Helen Mynard và Stephen Joseph,
được phát triển vào năm 1999 bởi, từ Khoa tâm lý học, trường Đại học Essex, Colchester,
nước Anh. Thang đo đã được chuẩn hóa trên 812 học sinh phổ thông. Những phân tích về
độ tin cậy đã cho thấy mức độ tin cậy từ chấp nhận được đến tốt, cho thấy thang đo có thể
dùng để tìm hiểu việc trẻ bị bạn cùng lứa bắt nạt.
Thang đo nói trên được nghiên cứu sinh Trần Văn Công, Đại học Venderbilt dịch từ
tiếng Anh sang tiếng Việt. Sau đó, giáo sư Bahr Weiss, Đại học Vanderbilt, Hoa Kỳ hiệu
đính lại. Thang đo này đã được chúng tôi thích nghi về từ ngữ và văn hóa, đồng thời được
thu gọn lại và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh ở Việt Nam và với nghiên cứu này.
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng đồng thời cả thang đo bắt nạt, bị bắt
nạt, trắc nghiệm nhân cách của Eysenck, và trắc nghiệm nhân cách của NEO- PI-R. Do vậy
sử dụng thang đo bắt nạt là để tìm hiểu mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng
bắt nạt, tìm hiểu xem có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách ở học sinh và hiện tượng

Nghiên cứu này được tiến hành trên địa bàn Thị xã Từ sơn, Tỉnh Bắc Ninh, và trên
hai trường thuộc địa bàn thị xã là trường THCSTân Hồng, và Trường THPT Lý Thái Tổ.
Thị xã Từ sơn có vị trí địa lý tiếp giáp với Thủ đô Hà nội, là nơi có nhiều làng nghề truyền
thống, và là nơi có thu nhập đầu người được đánh giá là cao so với các nơi khác trong cả
nước. Vì vậy, người dân có nhiều điều kiện chăm sóc, đầu tư cho con cái. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển của xã hội, ở đây cũng nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại như: Tệ nạn
trộm cắp, cờ bạc, đề đóm, đánh nhau, bạo lực, trong đó vấn đề học sinh bắt nạt nhau cũng
được người dân quan tâm nhiều. Bởi vì trong thời gian gần đây tình trạng học sinh đánh
nhau dưới nhiều hình thức xảy ra rất nhiều làm ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của từng
cá nhân học sinh và chất lượng học tập của cả trường, điều này đã làm đau đầu các thầy cô
giáo, phụ huynh học sinh và toàn xã hội, hiện tượng bắt nạt ở học sinh không chỉ là vấn đề
riêng của phụ huynh học sinh đó, của nhà trường mà trở thành vấn đề mà toàn xã hội cần
quan tâm và tìm cách giải quyết.

CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách của nạn nhân và thủ phạm của
bắt nạt khi so sánh với học sinh nói chung.
Như đã đề cập phía trên, bảng hỏi 1, 3 và 7 có nội dung câu trả lời tương tự nhau, chỉ
khác nhau về nội dung câu hỏi. Bảng 1 hỏi về nạn nhân – người hay bị bắt nạt, bảng 3 hỏi
về thủ phạm – người hay đi bắt nạt, bảng 7 hỏi về chính người trả lời. Như vậy, bảng hỏi 7
có thể coi là bảng hỏi đối chứng vì nó đại diện cho đặc điểm của học sinh nói chung.
Ứng dụng phân tích nhân tố kết hợp với đánh giá về mặt ý nghĩa của từ, chúng tôi
tìm ra 3 nhóm đặc điểm nhân cách trong tổng cộng 28 đặc điểm tính cách được liệt kê ra
trong bảng hỏi.
Nhóm một – những đặc điểm tích cực và được mong đợi (12 đặc điểm): linh hoạt, tự
tin, năng động, nhiệt tình, hòa đồng, ngoan ngoãn, chăm chỉ, nhanh nhẹn, cẩn thận, hài
hước, điềm đạm, ý thức tốt”.
Nhóm hai – những đặc điểm tiêu cực mang tính hướng ngoại tiêu cực (10 đặc điểm):
thích gây sự, đố kỵ, xấu tính, nghịch ngợm, ganh tị, vênh váo, cứng nhắc, nóng tính, ghê

nhanh nhẹn thì ít có nguy cơ bị bắt nạt.
3.2.2. Quan điểm của học sinh về đặc điểm và nhóm đặc điểm nhân cách thủ phạm của
bắt nạt.
Khi hỏi về đặc điểm tính cách của những học sinh hay bắt nạt, những đặc điểm nhân
cách mang tính chất hướng ngoại tiêu cực được lựa chọn nhiều nhất, ví dụ“Vênh váo”,“Xấu
tính”,“Thích gây sự”,“Khinh thường người khác”,“Nghịch ngợm”,“Ghê gớm”,“Không có
ý thức”,“Nóng tính”,“Mâu thuẫn với người khác”, “Không hòa đồng”,“Thích thể
hiện”,“Thích nổi bật”…
Trong đó đặc điểm nhân cách “Vênh váo” là đặc điểm mà được nhiều học sinh lựa
chọn nhất có 222/303 học sinh chiếm 73,3% học sinh lựa chọn, đặc điểm tính cách “xấu
tính” cũng là đặc điểm thuộc nét nhân cách hướng ngoại tiêu cực và có 189/303 học sinh lựa
chọn chiếm 62,4%, các đặc điểm “thích gây sự”, “khinh thường người khác”, là những đặc
điểm tính cách mà cũng được nhiều học sinh lựa chọn và chiểm từ 60- 62,4%.
Bên cạnh những đặc điểm nhân cách mang tính hướng ngoại tiêu cực như đã liệt kê ở
(bảng 3.6) - là những đặc điểm mà học sinh cho rằng những người nào có những đặc điểm
đó thì thường có xu hướng bắt nạt người khác, thì những đặc điểm mang tính hướng nội tiêu
cực như thiếu tự tin… và đặc điểm hướng ngoại mang tính tích cực như hòa đồng, nhanh
nhẹn… ít có xu hướng bắt nạt người khác hơn.
3.2. Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với các thang đo nhân cách và bảng hỏi nhân
cách
3.2.1. Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với thang đo nhân cách NEO FFI
Kết quả tính tương quan giữa thang đo nhân cách NEO PI-R chúng ta thấy rằng có
tương quan thấp giữa lĩnh vực nhiễu tâm với cả hai hình thức bị bắt nạt trực tiếp và bị bắt
nạt gián tiếp với các hệ số là r=0,193** đối với bị bắt nạt gián tiếp và r=0,233** đối với bị
bắt nạt trực tiếp.
Theo quan điểm của trắc nghiệm nhân cách 5 yếu tố thì mặt Nhiễu Tâm có các tiểu
thang đo lo âu; giận dữ, thù địch; trầm cảm; ý thức về bản thân; hung tính; dễ bị tổn
thương.
Qua những đặc điểm của các tiểu thang đo thuộc mặt nhiễu tâm cùng với tương quan
giữa thang đo bị bắt nạt và trắc nghiệm nhân cách NEO FFI thì thấy rằng những người có

gián tiếp.
3.3. Mối quan hệ giữa thang đo bắt nạt với các thang đo và bảng hỏi nhân cách
3.3.1. Quan hệ giữa thang đo bắt nạt với thang đo nhân cách NEO FFI
Phân tích tương quan cho thấy thang đo bắt nạt có tương quan có ý nghĩa thống kê
với 4 trong 5 lĩnh vực nhân cách của NEO FFI. Các tương quan này đều ở mức độ thấp.
Thang đo đi bắt nạt và các lĩnh vực của thang đo nhân cách NEO FFI là có tương quan với
nhau theo cả hai chiều thuận và ngược. Đối với đặc điểm nhân cách ở mặt NEO–Dễ chịu và
NEO–Tận tâm, NEO–Cởi mở thì có tương quan ngược.
Như vậy, những học sinh có đặc điểm tính cách trong trắc nghiệm NEO FFI càng dễ
chịu, càng tận tâm và càng cởi mở bao nhiêu thì ít có xu hướng đi bắt nạt người khác bấy
nhiêu.
Ngược lại với các đặc điểm nhân cách nói trên, thì ở đặc điểm nhân cách NEO - Nhiễu tâm
thì lại có tương quan thuận với thang đo bắt nạt với hệ số tương quan là r=0,198** có nghĩa
là những học sinh có đặc điểm nhân cách trong trắc nghiệm NEO là nhiễu tâm càng cao thì
có xu hướng đi bắt nạt người khác càng cao.

3.3.2. Mối quan hệ giữa thang đo bắt nạt với thang đo nhân cách EPI
Kết quả xử lý số liệu cho thấy không có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa EPI và
BQ. Ngoài các phân tích tương quan, chúng tôi cũng phân nhóm các đặc điểm tính cách
trong trắc nghiệm nhân cách EPI thành bốn đặc điểm tính cách là: Ưu tư, Điềm tĩnh, Linh
hoạt, và Sôi nổi, sau đó so sánh điểm trung bình với thang đo đi bắt nạt thì đạt được kết quả
sau.
có sự khác nhau về xu hướng bắt nạt người khác giữa 4 đặc điểm nhân cách theo
EPI. Kiểu nhân cách Ưu tư, linh hoạt, sôi nổi là những kiểu nhân cách có xu hướng bắt nạt
sắp xỉ nhau với điểm trung bình từ 0,4277-0,4321, riêng kiểu nhân cách điềm tĩnh là thấp
nhất và chỉ với điểm trung bình là 0,3238.
3.3.3. Quan hệ giữa thang đo bắt nạt với các đặc điểm và nhóm đặc điểm nhân cách tự
thuật
Giữa thang đo bắt nạt và nhóm đặc điểm nhân cách tự thuật hướng ngoại là có tương
quan thuận với nhau với: r=0,244**. Điều đó có nghĩa là những học sinh thuộc nhóm đặc

cực là chủ yếu và cá nhân có đặc điểm nhân cách hướng nội tiêu cực này thường bị bắt nạt ở
cả hai hình thức bắt nạt gián tiếp và trực tiếp. Còn một phần nạn nhân của bắt nạt có đặc
điểm nhân cách hướng ngoại nhưng là hướng ngoại tiêu cực và những cá nhân này này
thường bị bắt nạt ở hình thức bắt nạt trực tiếp. Thủ phạm của bắt nạt đôi khi cũng là nạn
nhân của bắt nạt.
Thứ hai, có sự khác nhau giữa đặc điểm nhân cách của thủ phạm và nạn nhân
của bắt nạt.
Người đi bắt nạt thường có đặc điểm tính cách hướng ngoại tiêu cực.
Người bị bắt nạt thường có đặc điểm tính cách cả hướng nội tiêu cực và hướng
ngoại tiêu cực nhưng hướng nội tiêu cực là chủ yếu.
Nghiên cứu này đã khám phá ra mối quan hệ, cụ thể là tương quan giữa hiện tượng
bắt nạt và thang đo nhân cách NEO FFI. Thang đo bắt nạt và trắc nghiệm nhân cách NEO
FFI là có tương quan với nhau theo cả hai chiều thuận và ngược. Cụ thể là thang đo bắt nạt
tương quan ngược với đặc điểm nhân cách ở lĩnh vực dễ đồng ý, tận tâm và cởi mở, với hệ
số tương quan lần lượt là -0,251**, -0,189**, và 0,149**. Điều đó có nghĩa là những cá
nhân có đặc điểm nhân cách thuộc mặt dễ chịu, tận tâm, cởi mở của trắc nghiệm nhân cách
NEO FFI càng cao bao nhiêu thì càng ít có xu hướng bắt nạt. Thang đo bắt nạt tương quan
thuận với lĩnh vực Nhiễu tâm với hệ số r=0,198**. Điều đó có nghĩa là cá nhân có đặc điểm
nhân cách thuộc mặt nhiễu tâm của NEO FFI càng lớn thì xu hướng đi bắt nạt người khác
càng nhiều.
Thang đo bị bắt nạt và trắc nghiệm nhân cách NEO FFI có tương quan thấp giữa lĩnh
vực nhiễu tâm với thang đo bị bắt nạt ở cả hai hình thức bị bắt nạt trực tiếp và bị bắt nạt
gián tiếp. Với các hệ số tương quan là r=0,193** đối với bị bắt nạt gián tiếp với hệ số
r=0,233 ** đối với bị bắt nạt trực tiếp. Điều này có nghĩa là những cá nhân có xu hướng
nhiễu tâm theo NEO FFI thì thường bị bắt nạt ở cả hình thức gián tiếp và trực tiếp.
Thứ ba: Một khám phá quan trọng khác của nghiên cứu này là không có bất cứ tương quan
có ý nghĩa nào giữa thang đo bị bắt nạt và bắt nạt với trắc nghiệm nhân cách Eysenck.
Những sự khác biệt này lại hoàn toàn phù hợp với những kết quả của trắc nghiệm NEO FFI
với thang đo bắt nạt và với những đặc điểm nhân cách tự thuật của bản thân học sinh. Đó là,
người có đặc điểm nhân cách thuộc nhóm đặc điểm của kiểu nhân cách ưu tư, linh hoạt, sôi

Việc trang bị cho giáo viên và học sinh các kiến thức về bắt nạt, cụ thể là những buổi
nói chuyện về hiện tượng bắt nạt và các yếu tố liên quan như giới tính, độ tuổi, nhân cách,
gia đình… có thể giúp làm giảm hiện tượng bắt nạt trong trường học.
Những hoạt động như đào tạo giá trị cuộc sống, kỹ năng kết bạn và giao tiếp với bạn bè sẽ
giúp các em biết ứng xử với bạn tốt hơn. Những khóa học kỹ năng sống có thể giúp các em
có khả năng đương đầu và giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn gặp phải trong cuộc sống
một cách hiệu quả nhất, từ đó góp phần cải thiện hiện tượng bắt nạt ở học sinh đang ngày
càng trầm trọng hiện nay.

References
Tài liệu trong nƣớc
1. Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si (2010). Mối quan hệ giữa bắt nạt và nhận thức bản
thân ở học sinh. Nghiên cứu khoa học sinh viên, Đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà
Nội.
2. Nguyễn Ngọc Bích (1998), Một số vấn đề lý luận nhân cách, NXB giáo dục.
3. Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole (2009). Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối
liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông. Tạp chí tâm lý học số
11(128), 11-2009. Số đặc biệt nhân thành lập Trường Đại học Giáo dục.
4. Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole. Phát triển và thích nghi thang đo bắt nạt và
bị bắt nạt cho trẻ em Việt Nam (chưa xuất bản).
5. Lê Thị Phƣơng Hiền (2011). Tìm hiểu thực trạng bạo lực học đường ở học sinh THCS
Vụ Bản Nam Định, Khóa Luận tốt nghiệp, Trường ĐH Văn Hiến.
6. Phạm Minh Hạc và cộng sự (Vũ Thị Minh Chí, Nguyễn Văn Huy, Lê Thanh Hương,
Phạm Mai Hương, Đào Thị Minh Hương, Nguyễn Công Khanh, Lê Đức Phúc), (2004)
Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên, NXB Khoa học Xã
hội.
7. Nguyễn Thị Nga, (2011). Tìm hiểu hiện tượng bị bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa
bàn huyện Thanh Hà, Hải Dương, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học khoa học xã hội
và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
8. Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công (2010). Một số đặc điểm nhân cách sinh viên

1, 2002.
19. Hoover, J. H., Oliver, R., & Hazler, R. J. (1992). Bullying: Perceptions of adolescent
victims in the Midwestern U.S.A. School Psychology International, 13, 15-16.
20. Freud, S. 1973 „Why War?‟ In Maple, T. and Matheson, D. W. (ed.) Aggression,
Hostility, and Violence – Nature or Nurture? New York. Holt, Rinehart, and Winston,
Inc. P. 16-27. Adolescent Girls. Journal of Early Adolescence, 9, 3, 357-375. (20)
21. Lorenz, K. (1963). On aggression. First published 1963 by Verlag Dr Borotha-
Schoeler, Vienna, Austria. 1966, 2002 edition by Routledge. (21)
22. Mynard H. & Joseph (2000). Development of the multidimensional peer-victimization
scale. Aggressive behavior. Volume 26, pages 169-178.
23. Mynard, H., Joseph, Amie E. Green và Thomas H. Ollendick (2002). Peer-
victimisation and posttraumatic stress in adolescents. Personality and Individual
Differences, 29, 815-821.
24. Olweus, D. (1994). Bullying at school: What we know and what we can do. Oxford:
Blackwell.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status