BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--oOo--
NGUYỄN ĐẠT SỬ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến Sĩ Nguyễn Gia Cầu
VINH 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Gia Cầu,
người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô trường Đại
học Vinh, quý Thầy Cô Khoa đào tạo Sau Đại học trường Đại học Vinh, quý
Thầy Cô Khoa đào tạo Sau Đại học trường Đại học Sài Gòn đã tận tình giảng
dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Và tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Sở Giáo dục và Đào tạo
thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Giáo dục – Đào tạo quận 3, các trường tiểu học ,
các giáo viên, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
tôi hoàn thành luận văn.
24
CHƯƠNG 2 : Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở các
trường tiểu học quận 3, TP.HCM …………………………………
42
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục
tại quận 3, TP.HCM…………………………………………………………………..
42
2.2. Thực trạng giáo dục tiểu học ở các trường quận 3, TP.HCM……….
44
2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các
trường tiểu học quận 3, TPHCM ……………………………………………….
53
2.4. Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở
các trường tiểu học quận 3, TP.HCM…………………………………………
74
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở các
trường tiểu học quận 3, TPHCM …………………………………
3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp ……………………………………………….
4.2.2. Đối với Phòng Giáo dục – Đào tạo quận 3…………………………….
109
4.2.3. Đối với các trường tiểu học trong quận 3………………………………
110
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI một thập niên, với nhiều cơ hội cũng
như thách thức.
Thế giới đang hướng tới một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, lấy tri
thức làm động lực phát triển. Hiện nay, người ta ước tính, cứ sau một chu kỳ từ 5
– 7 năm, thông tin mà nhân loại tích lũy được lại tăng gấp đôi so với tổng thông
tin trước đó.
Nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, quốc
gia nào chiếm hữu được nhiều tri thức thì sẽ có nhiều ưu thế trong cạnh tranh,
trong phát triển.
Nhân loại đang xích lai gần nhau trong các mối quan hệ song phương, đa
phương, mối quan hệ khu vực, châu lục và mối quan hệ toàn cầu. Toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình
đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia. Hiện nay,
nhân loại đang đứng trước rất nhiều vấn đề mang tính toàn cầu, đó là chiến tranh
và hòa bình, đói nghèo, bùng nổ dân số, phát triển bền vững, căn bệnh hiểm
nghèo, ô nhiễm môi trường…
mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng
sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên”. Đối với vấn đề quản lý
giáo dục, văn kiện đại hội X của Đảng nêu rõ: “Đổi mới và nâng cao năng lực
quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo”[16]. Như vậy, để có thể hội nhập với
xu thế phát triển chung trong bối cảnh toàn cầu hóa, công tác giáo dục và đào tạo
phải được đặt ở vị trí then chốt nhất nhằm tạo ra nguồn nhân lực thực hiện thắng
lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý giáo dục các cấp là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định
trong việc chuyển biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, quyết định hiệu quả
và chất lượng giáo dục.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường thì một trong các khâu
then chốt là phải nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giảng dạy của cán bộ
quản lý. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động giảng dạy là thành tố quan trọng
trong cấu thành chất lượng và hiệu quả giáo dục. Thực trạng giáo dục Việt Nam
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Để khắc phục thực trạng
trên, ngành giáo dục cần có sự đánh giá đúng, giải pháp đúng về nhiều mặt, trong
đó không thể bỏ qua một vấn đề quan trọng là công tác quản lý hoạt động giảng
dạy ở nhà trường.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học có một vai trò hết sức
quan trọng. Đó là bậc học nền tảng có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm,
đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất cho trẻ em nhằm hình thành những cơ sở ban
đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người. Một trong những mục tiêu
giáo dục và đào tạo đến năm 2020 được Đảng ta xác định là: “Nâng cao chất
lượng toàn diện bậc tiểu học”. Mục tiêu trên đạt được với kết quả ra sao? Làm
thế nào để mục tiêu đạt kết quả cao nhất? Để trả lời câu hỏi trên, cần phải có sự
đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy trong nhà trường
- Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của cán bộ quản lý và hoạt động
giảng dạy của giáo viên ở các trường tiểu học quận 3, TPHCM.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường tiểu học
quận 3, TPHCM.
4. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát làm rõ thực trạng về công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các
trường tiểu học quận 3, TPHCM.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động giảng
dạy ở các trường tiểu học quận 3, TPHCM
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng
dạy ở các trường tiểu học quận 3, TPHCM.
5. GIẢ THUYỀT KHOA HỌC
- Công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường tiểu học quận 3,
TPHCM hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của ngành giáo
dục – đào tạo và yêu cầu của xã hội hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy và xác
định được các giải pháp quản lý một cách phù hợp sẽ góp phần cải thiện, nâng
cao chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học quận 3, TPHCM
- Đề tài được nghiên cứu ở các trường tiểu học công lập quận 3, TPHCM.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn nêu một số thực trạng về công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở
các trường tiểu học công lập quận 3, TPHCM, đồng thời rút ra những kết quả đạt
được và phân tích những hạn chế của công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các
trường trong tình hình hiện nay.
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận đề tài.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường tiểu học
quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường tiểu
học quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
1.1.1. Trên thế giới
Từ thời cổ đại, ở phương Đông và cả phương Tây, nhiều nhà triết học đồng
thời là nhà giáo dục đã đề cập đến vấn đề dạy học. Qua các thời kỳ lịch sử, ở các
nền văn hóa khác nhau, các tư tưởng quan điểm giáo dục đã xuất hiện rất phong
phú và đa dạng.
Ở phương Tây, từ trước Công nguyên, Xô – Crat (469 – 339) quan niệm giáo
dục phải giúp con người tìm thấy và tự khẳng định chính bản thân mình. Ông
cho rằng để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng
bước tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lý.
Còn Pla – Tông (427 – 348 trước CN) là người đầu tiên xây dựng một nền
giáo dục có hệ thống dưới sự chỉ đạo của một tư tưởng triết học nhất quán. Ông
xác nhận vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị
đối với giáo dục.
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 trước CN), triết gia nổi tiếng, nhà
giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc cho rằng: đất nước muốn phồn vinh, yên bình
thì người quản lý cần chú trọng đến 3 yếu tố: Thứ (dân đông); Phú (dân giàu);
Giáo (dân được giáo dục). Ông cho rằng giáo dục là cần thiết (hữu giáo vô loại)
và ông quan niệm phương pháp dạy học là dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa,
Nguyễn Bỉnh khiêm, Lê Quý Đôn… với những quan điểm, phương pháp giáo
dục làm nền tảng cho sự phát triển xã hội thời bấy giờ.
Từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam đã xây dựng
một nền giáo dục hoàn toàn mới theo quan điểm, tư tưởng của Đảng và Nhà
nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Trên cơ sở lý luận của Chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có nhiều nhà khoa học, nhà
giáo dục Việt Nam nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học
như Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Hoàng
Tâm Sơn, Nguyễn Văn Tường… Mặc dù mỗi tác giả đi sâu vào những bình diện
khác nhau của hoạt động dạy học nhưng tất cả đều hướng đến việc giải quyết
mối quan hệ giữa giáo viên và nhà quản lý, những nội dung quản lý hoạt động
dạy học của người hiệu trưởng.
Tác giả Nguyễn Văn Lê, trong quyển “Khoa học quản lý nhà trường”, đã đề
cập đến phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường trên mọi lĩnh vực: giảng
dạy, học tập, hướng nghiệp, công tác quản lý nội bộ, đi sâu vào công việc và sự
quan tâm thiết thực của người hiệu trưởng. Hai tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn
trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học - Tập 3” đã cho rằng “Trong
việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy và học là nhiệm vụ trọng tâm
của nhà trường”.
Tóm lại, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu việc quản lý giảng dạy của
hiệu trưởng trong nhà trường. Một số luận văn Thạc sĩ cũng quan tâm đến đề tài
quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, đa số
các luận văn nghiên cứu tập trung nhiều ở các trường trung học phổ thông, trung
học cơ sở, cao đẳng và dạy nghề. Một số luận văn cũng nghiên cứu đến việc
quản lý của hiệu trưởng ở các trường tiểu học nhưng thuộc địa bàn trên TPHCM
vẫn còn ít. Hơn nữa quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy thật sự là vấn
đề cần thiết cần được tiếp tục nghiên cứu. Vì trong giai đoạn hiện nay, theo chỉ
thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.
Các khái niệm trên đây cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người
khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm.
Theo PGS. TS Đặng Quốc Bảo thì: Hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích
hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng
thái ổn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào phát
triển: như vậy quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát
triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lương cao hơn.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: quản lý là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận
dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.
+ Lãnh đạo và quản lý:
- Lãnh đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng đến những hoạt động có liên
quan đến công việc, nhiệm vụ của một nhóm thành viên.
- Lãnh đạo khác với quản lý; quản lý hướng vào trật tự và sự nhất quán của
tổ chức; việc quản lý có thể bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, đội ngũ, lập ngân
sách, kiểm tra xác định mục tiêu, còn lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng, động
viên, hướng dẫn, chỉ dẫn và chỉ thị người khác hành động nhằm đạt được mục
tiêu mong muốn.
+ Kế hoạch hóa
- Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lý. Kế
hoạch hóa là tổ chức công việc theo kế hoạch, đưa mọi hoạt động giáo dục vào
công tác kế hoạch và có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều
kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu, chương trình hành động. Đây là căn cứ để
kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, của đơn vị
môi trường”.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là hoạt động truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã
hội của loài người cho đời sau kế thừa và phát triển. Giáo dục là một hiện thượng
xã hội. Do vậy, quản lý giáo dục cũng là một loại hình của quản lý xã hội, nằm
trong quản lý văn hóa – tinh thần.
Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách
cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội
cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý
trẻ em.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt
động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [5].
GS. TS Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm là
hội tụ quá trình quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [14].
Theo TS. Trần Kiểm thì khái niệm quản lý giáo dục được hiểu trên hai cấp,
đó là cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Đối với cấp độ vĩ mô thì quản lý giáo dục được hiểu là những tác động của
chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ
sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Quản
lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham
gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối
ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến.
PGS. TS Phạm Viết Vượng quan niệm: “Quản lý nhà trường là hoạt động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học
sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để
nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [23].
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
Xét trong phạm vi hẹp, công tác quản lý trường học bao gồm quản lý các
quan hệ giữa trường học, xã hội (quản lý bên ngoài) và quản lý nhà trường
(quản lý bên trong).
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục đào tạo.
Nó chịu sự quản lý trực tiếp của các cấp quản lý giáo dục đồng thời nhà trường
cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lý nhà trường phải nhằm mục
đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà trường. Thực chất
quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm cho hoạt động dạy và
học từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường bao gồm:
+ Quản lý quá trình sư phạm: tức là quản lý quá trình giáo dục và đào tạo.
Các yếu tố của quá trình giáo dục và đào tạo là: mục đích giáo dục, nội dung
giáo dục, phương pháp giáo dục, giáo viên, học sinh, những phương tiện vật chất
kỹ thuật, tài chính... Trong sơ đồ biểu thị các đối tượng của quản lý giáo dục,
mỗi ô là một hệ thống con, mỗi hệ thống con đó bao gồm nhiều hệ thống nhỏ
hơn nữa, tất cả tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó nổi lên vai trò yếu tố
con người – trung tâm của quản lý.
+ Quản lý nhân sự: tức là làm tăng động lực cho đội ngũ giáo viên bằng các
chính sách ưu đãi và kích thích cơ sở vật chất, tâm lý. Ngoài ra còn bồi dưỡng
nâng cao năng lực và chất lượng giáo viên.
Hoạt động giảng dạy là một trong những hoạt động cơ bản của trường phổ
thông nói chung và trường tiểu học nói riêng. Theo tác giả Võ Quang Phúc “Dạy
học là hệ thống tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều nhân tố nhằm mục đích
trang bị kiến thức hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và rèn luyện đạo đức
cho người công dân. Chính những nhân tố hợp thành hoạt động này cùng với hệ
thống tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng mà làm cho việc dạy học thật sự tồn
tại như một thực thể toàn vẹn – một hệ thống”.
Như vậy:
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất hoạt động chỉ đạo của thầy đối
với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò, nhằm làm cho trò
đạt được mục đích học.
Dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung trí dục
mà chỉ đạo hoạt động học tập của trò nhằm làm cho trò đạt đến mục đích học.
Học là quá trình hoạt động của trò, trong đó dựa vào sự chỉ đạo của thầy, vào
nội dung trí dục mà tự chủ động (điều khiển và điều chỉnh) toàn bộ hoạt động
lĩnh hội tự giác tích cực của bản thân, nhằm đạt được mục đích dạy học.
1.2.4.3. Quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động giảng dạy thực chất là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ
giảng dạy của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên. Nhiệm vụ chính của giáo
viên là giảng dạy, truyền đạt tri thức, rèn luyện cho học sinh kỹ năng, bồi đắp
cho học sinh những giá trị tư tưởng, đạo đức và nhân văn. Chất lượng sản phẩm
của quá trình giảng dạy phụ thuộc rất lớn vào năng lực và phẩm chất của người
giáo viên. Để quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên, người cán bộ
quản lý phải am hiểu năng lực của mỗi giáo viên, trên cơ sở đó mà lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức, phân công và kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của họ, định
hướng hoạt động giảng dạy theo mục tiêu đã đề ra.
1.2.5. Quản lý hoạt động học
nhân cách con người.
1.3.2. Mục tiêu của giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học bao gồm việc hình thành những phẩm chất và
năng lực nhất định đối với học sinh tiểu học để góp phần vào quá trình đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế.
Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 xác định mục tiêu của giáo dục tiểu học là:
“Giáo dục tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”.
Việc xác định mục tiêu của giáo dục tiểu học như trên đã khẳng định:
- Giáo dục tiểu học hình thành những phẩm chất và năng lực nền tảng ban
đầu của con người, còn phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu
dài của giáo dục phổ thông.
- Con người muốn phát triển toàn diện thì phải có đầy đủ các phẩm chất và
năng lực về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và phải có các kỹ năng cơ bản để
tiếp tục học lên, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Mục tiêu giáo dục tiểu học được cụ thể hoá thành các mục tiêu của các
môn học và các hoạt động giáo dục khác trong chương trình tiểu học. Đặc biệt,