Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường THPT thành phố Vũng Tàu - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------

Phan Ngọc HuỳnhTHỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN LIÊN

TP. Hồ Chí Minh – 2010

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa
học, Khoa Tâm lý - Giáo dục, Phòng Khoa học Công nghệ sau đại học
trường Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh; Quý thầy cô giáo của Sở Giáo

THPT Trung học phổ thông
TP. Thành phố
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ
phát triển giáo dục trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và thế giới. Các thành tựu
về nghiên cứu giáo dục đã nêu rõ quản lý giáo dục (QLGD) là nhân tố then chốt đảm bảo sự thành
công của phát triển giáo dục. Cần đổi mới QLGD nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đào tạo,
các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia. Bối cảnh đó đang tạo thời cơ cho giáo dục nói chung
và QLGD nói riêng tiếp thu thành tựu và kinh nghiệm tiên tiến của thế giới trong việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ QLGD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học và các loại hình
đào tạo khác.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” [5].
Mục tiêu giáo dục là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[5]. Để đạt được mục
tiêu này vấn đề cấp thiết đặt ra cho giáo dục là phải tiếp tục thay đổi toàn diện các hoạt động giáo
dục trong đó đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, đổi mới công tác quản lý là nhiệm vụ
trọng tâm.
Trung học phổ thông (THPT) là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông. Dạy học là hoạt
động trọng tâm mà trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng dạy học. Để nâng
cao chất lượng giáo dục theo quan điểm đổi mới như hiện nay, người giáo viên (GV) không đơn
thuần chỉ truyền tải thông tin cho học sinh (HS) mà họ còn phải tổ chức, điều khiển, hướng dẫn cho
HS học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Tăng cường quản lý hoạt động dạy học để nâng cao chất
lượng giáo dục ở trường THPT là yêu cầu tất yếu hiện nay.
Các trường THPT trên địa bàn thành phố (TP) Vũng Tàu đã và đang cố gắng nổ lực làm tốt
công tác QLGD theo xu thế đổi mới toàn diện các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả và
chất lượng giáo dục. Một số cán bộ quản lý (CBQL) đã có những cố gắng đổi mới công tác quản lý
hoạt động dạy học. Do vậy chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn TP trong những năm
qua đã có chuyển biến tốt. Số HS khá, giỏi, số HS đạt giải trong các kì thi cấp tỉnh, quốc gia ngày
càng nhiều góp phần phát triển giáo dục của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (BR-VT).

6.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát thực trạng giảng dạy và quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường
THPT công lập trên địa bàn TP Vũng Tàu, bao gồm: các trường THPT Chuyên Lê Quí Đôn, THPT
Vũng Tàu, THPT Trần Nguyên Hãn, THPT Nguyễn Huệ, THPT Đinh Tiên Hoàng.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc: là cách thức nghiên cứu quản lý hoạt động giảng dạy
trong mối quan hệ biện chứng với các hoạt động quản lý khác ở trường THPT. Nghiên cứu hoạt
động dạy học (HĐDH) như một hệ thống toàn vẹn, phát triển, phạm vi và mức độ khác nhau. Sự
hình thành và phát triển HĐDH thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại do sự tương tác hợp qui
luật của các thành tố của hoạt động tạo ra. Qua đó phát hiện các yếu tố sinh thành, yếu tố bản chất
và logic phát triển của HĐDH.
- Tiếp cận quan điểm lịch sử: Nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH cần xem xét cả quá trình
phát triển của nó. Từ đó thấy được mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của quản lý
HĐDH.
- Tiếp cận quan điểm thực tiễn: từ việc khảo sát thực trạng quản lý HĐDH ở các trường THPT
TP. Vũng Tàu; thấy được những ưu điểm và hạn chế từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tăng
cường hiệu quả công tác quản lý HĐDH.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa thông tin, tài liệu lý luận.
7.3. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Đối tượng điều tra là: CBQL, GV, HS các trường
THPT công lập ở TP. Vũng Tàu)
- Các phương pháp bổ trợ:
Phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm, ý kiến chuyên gia, nghiên cứu sản phẩm hoạt
động.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Thống kê, phân tích, sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để xử lý số liệu thu thập được từ kết quả
điều tra.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

tích cực của HS trong dạy học. Các tư tưởng về phương pháp dạy học này ngày nay vẫn tồn tại và
thậm chí có giá trị rất lớn đối với nhiệm vụ giáo dục hiện nay là đổi mới PPDH mà chúng ta đang
quan tâm.
Về chương trình giảng dạy, Theo John Deway (1859- 1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng
đầu thế kỷ XX đã đưa ra phương hướng cách tân giáo dục. Ông cho rằng phải đưa vào vốn tri thức
của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của GV, đề cao hoạt động đa dạng
của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn [1].
Quản lý hoạt động giảng dạy trong nhà trường phổ thông không chỉ chú trọng đến việc quản lý
phương pháp giảng dạy, quản lý nội dung chương trình mà còn phải chú trọng đến nhiều yếu tố
khác vì chúng có mối liên hệ tương hỗ. Tác giả V.A.Xukhomlinxki cho rằng việc xây dựng và bồi
dưỡng đội ngũ GV là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Người Hiệu trưởng (HT) phải biết chọn lựa
GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng
những biện pháp khác nhau [36, tr.24]. Thực tế cho thấy với đội ngũ GV có năng lực chuyên môn
vững vàng, thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao tay nghề thì công tác đào tạo của nhà trường sẽ
đạt hiệu quả cao.
Ở Việt Nam, nhận thức được vai trò to lớn của công tác QLGD đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nói chung, QLGD nói riêng đã có nhiều
đóng góp về lý luận và thực tiễn, tiêu biểu là các tác giả: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn
Văn Lê, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm, Hà Sỹ Hồ, Nguyễn Ngọc Quang,
Hoàng Chúng, Phạm Thanh Liêm, Võ Quang Phúc...
Nhiều tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động giảng dạy trong đó các vấn đề liên
quan như tổ chức quản lý tốt các hoạt động giảng dạy trong nhà trường bao gồm: Quản lý nội dung
chương trình đào tạo, quản lý xây dựng và phát triển cơ sở vật chất (CSVC), điều kiện phương tiện
phục vụ tốt cho hoạt động dạy và học, quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp, phân công giảng dạy một
cách khoa học, thực hiện kiểm tra thường xuyên các hoạt động giảng dạy của GV; phát hiện và phổ
biến kinh nghiệm giảng dạy và các biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ, để xây dựng tiềm lực giảng dạy cho đội ngũ; đánh giá tầm quan trọng của công tác thi
đua khen thưởng trong quá trình quản lý nhà trường nhằm động viên, phát huy hết khả năng, trí tuệ
của GV…
Một số đề tài luận văn gần đây về quản lý HĐDH; chất lượng giảng dạy; PPDH của các tác giả

bên trong của mỗi thành tố để cùng phát triển.
Quản lý hoạt động giảng dạy cần quan tâm đúng mức mối quan hệ biện chứng giữa dạy và
học, trong đó hoạt động giảng dạy có vai trò chủ đạo và hoạt động học tập có vai trò chủ động.
1.2.3. Chất lượng và chất lượng dạy học
“Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật.”
“Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của của một người, một sự vật, sự việc. Đó là
tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác.”
[15, tr7]
“Chất lượng là phạm trù triết học biểu hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, phân biệt nó
với sự vật khác. Chất lượng là thuộc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài
qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật làm một, gắn bó các sự vật như một
tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật” [32,tr. 419].
“Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông mà người học
lĩnh hội được. Vốn học vấn phổ thông toàn diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của
dạy học [14, tr.8].
Chất lượng dạy học đươc biểu hiện qua chất lượng học tập của HS bởi các tiêu chí chủ yếu:
kiến thức, kỹ năng, thái độ.
HS lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
và rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là
năng lực tư duy sáng tạo, bồi dưỡng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản và những
phẩm chất của con người mới.
1.2.4. Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động giảng dạy
1.2.4.1. Quản lý
Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ
thống bằng những phương pháp thích hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra và cho từng thành tố của hệ
[21, tr.96].
“Là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể, quản lý
về các mặt chính trị, văn hóa, xả hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách các
nguyên tắc, các phương pháp, các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát
triển của đối tượng.” [18, tr.7].

liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng
trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống
nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình, SGK phù hợp với hoàn
cảnh và địa bàn khác nhau.
Đổi mới chương trình SGK, PPDH phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới
trang thiết bị dạy học (TBDH), tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên và công tác QLGD.
1.3.2. Đổi mới chương trình, SGK
Đổi mới chương trình, SGK là một trong những nội dung tâm điểm của đổi mới giáo dục.
Chương trình và SGK phải đảm bảo sự phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mỹ, chú ý tới định hướng
nghề nghiệp, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho người lao động mới.
Về nội dung, SGK và chương trình sẽ đảm bảo kiến thức cơ bản cần thiết, tinh giảm và cập
nhật với sự phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế xã hội, tiến độ với trình độ phát triển của
chương trình giáo dục phổ thông của các nước phát triển trong khu vực và được soạn thảo với
hướng đẩy mạnh đổi mới phương pháp giáo dục giúp HS biết cách tự học, phát hiện và chủ động
giải quyết vấn đề tăng cường việc vận dụng thực hành và sáng tạo.
Thời lượng dạy học và hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông cần tăng cường thời
lượng nghỉ trong quá trình học tập, nhằm tăng cường các hoạt động vui chơi giải trí sinh hoạt tập thể
góp phần làm giảm sự căng thẳng không cân thiết. 1.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học
Ngoài việc đổi mới nội dung dạy học, tăng cường CSVC, đổi mới TBDH thì vấn đề đổi mới
PPDH cũng luôn đặt ra cho các nhà giáo dục những suy nghĩ.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển: “Có nhiều thành tố quyết định
chất lượng quá trình dạy học. Trước hết là mục tiêu, nội dung, PPDH, thiết bị và CSVC, tổ chức và
hình thức dạy học, thi, kiểm tra đánh giá. Trong quá trình đổi mới chương trình SGK, chúng ta xác
định rõ mục tiêu, trong đó nhấn mạnh là dạy học phải góp phần đào tạo ra những con người có lý
tưởng, có phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo, có năng lực tự học và thiết tha với học tập suốt
đời. Đổi mới PPDH phải thực hiện được những mục tiêu đó."

PPDH:
Đổi mới không phải là thay đổi toàn bộ PPDH đã có, mà phải trên cơ sở phát huy những yếu tố
tích cực của PPDH hiện nay, từng bước áp dụng những PPDH tiên tiến và phương tiện dạy học hiện
đại nhằm thay đổi cách thức dạy học, thay đổi phương pháp học tập của HS, chuyển từ học tập thụ
động sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, từng bước chuyển dần PPDH theo hướng biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học.
Hoạt động đổi mới PPDH diễn ra rất lâu dài, là hoạt động sáng tạo hàng ngày của cả thầy và
trò. Vì vậy, để đổi mới PPDH có kết quả, phải có định hướng đúng.
Các hoạt động đổi mới PPDH rất phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung diễn ra theo ba hướng
chính:
Tiếp cận theo quan điểm Tâm lý- Giáo dục: Bản chất của quan điểm này là tìm mọi cách phát
huy năng lực nội sinh của người học, phát triển sức mạnh trí tuệ, tâm hồn, ý chí của họ. Đây là
phương pháp tiếp cận đã có bề dày lịch sử lâu dài và vẫn giữ vai trò chủ đạo, quyết định sự thành
công của công cuộc đổi mới PPDH hiện nay vì nó tác động trực tiếp đến người học.
Tiếp cận theo quan điểm điều khiển học: Có nghĩa là tạo điều kiện cho người học được tự do
phát triển nhu cầu học tập, phát triển năng lực cá nhân, trong mối quan hệ thống nhất biện chứng
giữa hoạt động dạy và hoạt động học. Điều khiển mối quan hệ thầy trò theo hướng lấy người học
làm trung tâm, cần hướng tới việc điều khiển hoạt động trí tuệ, nhu cầu, động cơ, ý chí học tập của
HS.
Tiếp cận theo quan điểm công nghệ: tư tưởng công nghệ hóa quá trình dạy học trước hết là
đưa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào dạy học, đồng thời thiết kế quá trình
dạy học theo một quy trình khoa học, có thể điều khiển, kiểm soát và đo lường được.
Tóm lại, khi nói đến đổi mới PPDH phải nhìn nhận vấn đề một cách linh hoạt theo ba hướng
chính, đó là phát triển năng lực nội sinh của HS; đổi mới quan hệ thầy trò và đưa công nghệ hiện đại
vào nhà trường. Ba định hướng trên đây rất khái quát, cho phép hình dung bức tranh chung về đổi
mới PPDH đa dạng trên thế giới hiện nay.
Đổi mới cái gì là câu hỏi mà mỗi thầy giáo đều đặt ra, là vấn đề quan trọng đầu tiên mà HT
cần phải nắm vững và quán triệt đến tận từng GV. Từ sự nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn
dạy học, chúng tôi có thể nêu lên một số nội dung đổi mới PPDH cơ bản sau đây:
Một là đổi mới về cách dạy của thầy, cần hướng đến làm thay đổi tính chất hoạt động nhận

1.3.4. Tăng cường CSVC, phương tiện dạy học và ứng dụng CNTT
CSVC là điều kiện, là phương tiện lao động sư phạm của GV và phương tiện học tập của HS,
là một trong những thành tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Các thiết bị dạy học làm thay đổi phương pháp và hình thức dạy học, làm cho nội dung dạy
học sinh động, diễn cảm và hứng thú hơn, giúp GV tổ chức điều khiển tối ưu quá trình nhận thức
tích cực của HS, tạo ra trong quá trình dạy học môt nhiệp độ, phong cách và trạng thái tâm lý mới.
Các tài liệu phương tiện trực quan, các thiết bị thực hành, thí nghiệm… giúp HS học tập hứng thú,
tăng cường sự chú ý; rèn luyện các đức tính kiên trì, cẩn thận…; tư duy và hoạt động nhanh nhạy,
chính xác mà còn giúp HS bổ sung, đánh giá, kiểm tra lý thuyết với thực tiển.
CBQL trên cơ sở điều tra, đánh giá số lượng và chất lượng CSVC và phương tiện dạy học để
lập kế hoạch bổ sung, mua sắm và xây dựng CSVC, phương tiện dạy học lâu dài. Bên cạnh đó công
tác của lãnh đạo còn bao gồm việc GV sử dụng và bảo quản CSVC- TBDH bằng cách tác động về
vai trò quan trọng của nó đối với công tác dạy học; xây dựng quy chế sử dụng và bảo quản TBDH;
bồi dưỡng cho GV năng lực sử dụng phương tiện, kỹ thuật mới trong dạy học; chỉ đạo các bộ phận
liên quan như: phòng thí nghiệm thực hành, phòng nghe nhìn, thư viện, sân bãi…hoạt động có hiệu
quả; tạo điều kiện và động viên GV và HS sưu tầm, làm đồ dùng dạy học; kiểm tra việc thực hiện
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học, kiểm tra sổ sách, tài sản, dự giờ, đánh giá tỷ
lệ và chất lượng sử dụng …để động viên uốn nắn quá trình sử dụng và bảo quản nhằm phục vụ tốt
hơn hoạt động dạy học.
Ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới PPDH. CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi
cho triển khai PPDH tích cực, chứ không phải là điều kiện đủ của PPDH này. Để một giờ có ứng
dụng CNTT là một giờ học có phát huy tính tích cực của HS, thì điều kiện tiên quyết là việc khai
thác CNTT, phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của PPDH tích cực mà GV lựa chọn.
PGS.TS Lê văn Tiến cho rằng: “hai trong các đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực là: HS được tạo
cơ hội hoạt động tích cực và kiến thức là do HS kiến tạo với sự giúp đở của GV.”
Trong thực tế dạy học hiện nay, các bài giảng có khai thác ứng dụng CNTT thường chỉ dừng
lại ở hai cấp độ: cấp độ một thay thế chức năng của bảng và phấn; cấp độ hai là tạo ra các hình ảnh
trực quan cụ thể về toán hoặc về quy trình thao tác trên các đối tượng đang nghiên cứu trong bài
dạy. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho HS tiếp thu kiến thức toán học vốn rất trừu tượng, nói
cách khác, nguyên tắc dạy học “từ trực quan sinh động đến tư duy trù tượng, và từ tư duy trù tượng

những ưu điểm riêng đối với các kỳ thi này. Tuy nhiên trong đào tạo thì không được lạm dụng hình
thức này, vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo
cũng như năng lực giải quyết những vấn đế phức hợp.
Tóm lại, người lãnh đạo cần có những biện pháp cụ thể trong công tác chỉ đạo. Vậy biện pháp
cụ thể trong chỉ đạo đổi mới KTĐG là gì?
Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiễn: “Trước hết phải quán triệt tinh thần đổi mới KTĐG đến
các cấp giáo dục, GV thậm chí là toàn xã hội. Phải tập huấn GV về năng lực ra đề, lập dàn ý sao cho
quán triệt định hướng đổi mới KTĐG.” [2]. Thực tế cũng đã nhiều nơi tiến hành nhưng GV vẫn
chưa vận dụng tốt. Cần kiểm tra để giúp đỡ, yêu cầu và điều chỉnh kịp thời đối với đội ngũ GV.
Trong chỉ đạo đổi mới KTĐG, cán bộ QLGD cần có các biện pháp cụ thể như: Các trường cần xây
dựng ngân hàng câu hỏi và bài tập trên cơ sở đó tổng hợp thành những đề thi; kiểm tra phù hợp với
mục tiêu, với yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi nhà trường và trình độ HS.
Tăng cường kiểm định, kiểm tra chất lượng với các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy cụ
thể, rõ ràng.
1.4. Giáo viên THPT với hoạt động giảng dạy
Hoạt động dạy học bao gồm các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, GV,
HS và kết quả đạt được trong một môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Các thành tố đó có mối
liên hệ, tác động lẫn nhau.
 Lập kế hoạch dạy học theo phân phối chương trình
Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành, trong đó quy định các môn học, trình tự
giảng dạy, học tập các môn, số giờ dành cho mỗi môn (trong một tuần, học kỳ, năm học) [9].
Người GV trên cơ sở thực hiện kế hoạch phân phối chương trình của Bộ Giáo dục- Đào tạo áp
dụng cho bộ môn của mình có kế hoạch cụ thể cho việc soạn giảng, lên lớp và KTĐG quá trình học
tập của HS trong một năm học.
Việc lập kế hoạch bộ môn giảng dạy giúp GV định hướng cụ thể quá trình dạy học, kiểm soát
tiến độ thực hiện phân phối chương trình theo tiến độ thời gian từ đó có kế hoạch điều chỉnh phù
hợp, bên cạnh đó GV cần nhận thức được rằng tất các môn học đã được đưa vào trong kế hoạch dạy
học là chuẫn những kiến thức rất cần thiết trong đào tạo một cấp học nhất định vì thế GV cần thực
hiện đúng quy định phân phối chương trình, không được tùy tiện cắt giảm tiết, điều đó ảnh hưởng
đến chất lượng chương trình đào tạo đã quy định.

hành, sử dụng CNTT...
 Tổ chức hoạt động dạy học trên lớp
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ và tác giả Lê Tuấn: "Giờ lên lớp là hoạt động dạy của GV và hoạt động
học của HS được tiến hành tương tác giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học theo đó là mục
đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học." [7, tr34].
Giờ dạy học trên lớp thể hiện đầy đủ nhất năng lực chuyên môn và khả năng sư phạm, năng
lực hiểu biết xã hội và những phẩm chất khác của GV.
Trong giờ lên lớp, GV tiến hành các hoạt động cụ thể theo kế hoạch của bài soạn ở nhà nhằm
truyền đạt tới HS phạm vi kiến thức bài giảng theo mục đích yêu cầu thông qua việc tổ chức hoạt
động của GV và HS.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tổ chức dạy học trên lớp cần chú trọng nhiều đến việc đổi mới
PPDH và việc KTĐG kết quả học tập của HS. Thay đổi PPDH, tổ chức hoạt động truyền đạt tri thức
thông qua hình thức phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS "lấy người học làm trung
tâm". HS không chỉ lĩnh hội kiến thức từ nội dung bài giảng của GV mà còn phải rèn luyện được
những kỹ năng vận dụng và thái độ nhận thức sau bài học, bên cạnh đó đánh giá kết quả của HS cần
quan tâm chú ý đến quá trình học tập của HS.
 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là một nội dung không kém phần quan trọng trong
nhiệm vụ dạy học của GV. Qua kết quả kiểm tra, HS có thể tự đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức
của mình từ đó có nhận thức đúng đắn để tự điều chỉnh hoạt động học tập trên lớp của mình một
cách tích cực và hiệu quả.
Đối với GV, kết quả KTĐG kết quả học tập của HS sẽ giúp GV vừa đánh giá được trình độ và
năng lực nhận thức của HS vừa tự đánh giá bản thân mình về tri thức, trình độ chuyên môn, năng
lực sư phạm và uy tín đối với HS. Trên cơ sở những đánh giá đó, GV sẽ tự đề ra phương hướng,
biện pháp khắc phục, hoàn thiện quá trình dạy học để điều chỉnh những lệch lạc, sai sót mà HS đã
bộc lộ qua các hình thức kiểm tra đồng thời bản thân cũng tự mình hoàn thiện về trình độ chuyên
môn, năng lực sư phạm và nhân cách người thầy giáo.
Trong kế hoạch giảng dạy, GV cần có kế hoạch xây dựng lịch KTĐG kết quả học tập của HS
theo đúng thời điểm của chương trình đã dạy. Lưu ý cải tiến hình thức kiểm tra đánh giá theo quan
điểm giáo dục hiện đại phù hợp với việc đổi mới chương trình SGK. Đánh giá kết quả học tập của

thực tế đơn vị.
- Việc học tập và rèn luyện của HS được coi là mục đích tồn tại của nhà trường vì thế CBQL
phải tập hợp được toàn thể cán bộ, GV nhân viên trong nhà trường kiểm tra thường xuyên các hoạt
động đang diễn ra trong nhà trường và thu thập những dữ liệu cần thiết cho việc chỉ đạo điều hành
nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục được chứng minh bằng thành tích học tập và kết quả rèn
luyện của học HS.
- CBQL cần thúc đẩy và chỉ đạo phát triển chuyên môn trong nhà trường theo định hướng chú
trọng vào việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị: HS, cha mẹ HS và đội ngũ cán bộ.
Xác định mục tiêu, lập kế hoạch giảng dạy và chương trình bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán
bộ.
- CBQL cần xây dựng các chính sách khen thưởng để động viên khích lệ những nỗ lực đạt kết
quả tốt của tập thể GV, thiết lập các tiêu chuẩn công bố và công khai để khuyến khích sự phấn đấu
của cả thầy và trò.
Bên cạnh đó, việc vận dụng tính quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt động giảng dạy
của CBQL cần được chú ý, đây là cơ sở thực tiễn nhằm định hướng quan điểm, đường lối trong điều
hành, chỉ đạo không những ở hoạt động chuyên môn mà còn ở những hoạt động khác trong nhà
trường.
1.5.2. Vai trò, nhiệm vụ của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
 Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học
- Trong quản lý hoạt động dạy học, HT là người trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện
chương trình, và KTĐG kết quả học tập của HS và những vấn đề khác liên quan đến hoạt
động dạy học theo quy định của Bộ GD&ĐT ban hành.
- Hoạt động dạy học chính là nhiệm vụ chính yếu trong công tác giáo dục của nhà trường,
vì vậy đòi hỏi người HT phải là người tạo động lực cho các thành viên trong hội đồng sư
phạm nhà trường phát huy hết khả năng, tư duy tích cực nhằm đạt được mục tiêu dạy học
như mong muốn.
 Nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học
- Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo của nhà trường trước mắt và lâu dàì;
xác định tầm nhìn, mục tiêu, xứ mạng của nhà trường.
- Quản lý những nội dung trọng tâm sau:

tác, ưu tiên những công tác trọng tâm, phát huy sức mạnh tổng hợp, phát huy tiềm năng trí tuệ của
đội ngũ, tạo nên động lực phát huy nội lực, đánh thức tiềm năng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng
dạy học.
Một vấn đề quan trọng trong công tác tổ chức cán bộ là xây dựng qui chế làm việc, trách
nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ cộng tác giữa các thành viên, giũa các bộ phận trong nhà trường,
thực hiện sự phân cấp trong quản lý. Sức mạnh của công tác tổ chức quản lý là quan điểm đánh giá
con người khách quan trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của các nhà quản lý.
Quản lý tổ chức dạy học bao gồm CSVC kỹ thuật, tổ chức lao động sư phạm của GV và HS
trong và ngoài giờ lên lớp, tổ chức nâng cao năng lực giảng dạy của GV, tổ chức hướng dẫn phương
pháp học tập trên lớp và tự học ở nhà của HS, xây dựng cơ chế phối hợp các tổ chức trong và ngoài
nhà trường trong việc giáo dục, dạy học.
 Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là tác động đến các thành viên để họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu. CBQL phải
chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người vào mục tiêu
chung để thực hiện kế hoạch.
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý sử dụng quyền lực để tác động đến các
đối tượng quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào thực hiện
kế hoạch.
Trong thực tế khi điều hành công tác chuyên môn, người HT chỉ có thể thông thạo duy nhất bộ
môn của mình do đó việc chia sẻ sự chỉ đạo với các thành viên nòng cốt trong nhà trường; việc phân
quyền sẽ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về sự thành đạt, ý thức về sự công nhận, sự
tôn trọng và tạo điều kiện, sự kích thích để các thành viên phát huy hết tiềm năng của mình.
Chỉ đạo hoạt động dạy học là hướng dẫn, giải thích, thuyết phục cán bộ, GV nhiệt tình, tự giác,
nỗ lực, phấn đấu hoàn thành các kế hoạch dạy học. Chú trọng chỉ đạo xây dựng nề nếp dạy học, bồi
dưỡng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, GV, chỉ đạo đầu tư trang bị sử dụng CSVC- TBDH kết
hợp với chỉ đạo đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học.
 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là chức năng quan trọng của người quản lý. Nhờ có kiểm tra mà HT đánh giá được
kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp điều
chỉnh kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo tiếp theo.

từng cán bộ, GV kết hợp với các yếu tố quan trọng khác như quyền lợi của HS, hoàn cảnh và
nguyện vọng và thâm niên công tác của GV...
Phân công khoa học, hợp lý nhằm phát huy tối ưu nguồn nhân lực GV, yếu tố chủ chốt, quyết
định chất lượng dạy học.
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê:
- Phân công để chuyên môn hóa tức chỉ dạy một môn và dạy theo lớp để chịu trách nhiệm
với lớp và nắm vững chương trình toàn cấp sau một thời gian nào đó.
- Phân công mang tính chất kèm cập tức trong một khối lớp phải có một số GV giỏi dạy để
làm nòng cốt cho các GV khác.
- Phân công GV dạy lớp song song để làm giảm số giáo án trong tuần và tăng thời gian
chuẩn bị cho mỗi giáo án.
Theo tài liệu dự án SREM: Phân công giảng dạy phải xuất phát từ yêu cầu của việc giảng dạy
và quyền lợi học tập của toàn thể HS. Phân công GV trước hết phải vì sự tiến bộ của tập thể sư
phạm, tạo điều kiện người giỏi kèm người chưa có kinh nghiệm, người còn yếu, đồng thời chú ý
đúng mức đến khả năng tiếp thu kiến thức của HS.
 Các hình thức phân công:
- Chuyên dạy một khối lớp trong nhiều năm
- Dạy mỗi năm một khối lớp
- Mỗi năm dạy nhiều khối lớp
 Tiêu chuẩn phân công:
Chuẩn phân công dựa trên các nội dung sau:
- Yêu cầu của việc dạy
- Năng lực và sở trường của GV
- Thâm niên nghề nghiệp của GV
- Nguồn đào tạo của GV
- Hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân
 Quy trình thực hiện:
Bước 1: HT thống nhất với phó HT phụ trách chuyên môn về yêu cầu của việc phân công,
chuẩn phân công.
Bước 2: HT phổ biến mục đích yêu cầu, chuẩn bị dự kiến phương hướng phân công, quy trình

Xây dựng thời khóa biểu khoa học, hợp lý để GV có thời gian để soạn bài, chuẩn bị tốt giờ lên
lớp, sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học trong cùng buổi dạy ở nhiều lớp đồng thời tạo điều kiện thuận
lợi để HS nắm vững bài cũ và chuẩn bị bài mới .
1.5.4.4. Quản lý giờ lên lớp của GV
Giờ lên lớp là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của dạy học phổ thông giờ lên lớp của GV thể
hiện năng lực, kinh nghiệm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, sử dụng phương tiện, đồ dùng, PPDH;
nghệ thuật sư phạm trong giảng dạy, giao tiếp trong và ngoài dự kiến…; Nó giữ vai trò quyết định
đến chất lượng dạy học. “Các thuyết, các quan điểm, các phương pháp, thủ thuật dạy học và giáo
dục đều được thể hiện phối hợp và cụ thể hóa, thử thách ở đây" [28, tr.253, 256].
1.5.4.5. Quản lý công tác bồi dưỡng GV
GV là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục. Do đó, CBQL thường xuyên bồi dưỡng
phẩm chất và năng lực chuyên môn là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước. Luật giáo dục
qui định: Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình
độ và chuẩn hóa nhà giáo. Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ, được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ.
Theo đó công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ Cho đội ngụ GV có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Thực tiễn cho thấy nội dung và hình thức bồi dưỡng GV rất
phong phú đa dạng, do vậy người cần nắm rõ cách thức quản lý và tổ chức. Những nội dung quan
trọng trong công tác bồi dưỡng:
 Các bước thực hiện:
- Xác định mục đích yêu cầu, đối tượng tham gia bồi dưỡng
- Nội dung hình thức bồi dưỡng:
+ Thăm lớp, dự giờ
+ Thực tập, thao giảng, hôị giảng, thi giáo viên giỏi

Trích đoạn Biện pháp quản lý thi đua khen thưởng kích thích hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV trong nhà trường.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status