Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Khoa Ngữ Văn
--------------------
Đề tài:
tính chất dân tộc trong truyền
kỳ mạn lục của nguyễn dữ
Cán bộ hớng dẫn : Phạm Tuấn Vũ
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Lan
Lớp
: 42E4 Văn
Vinh, 5/2006
Lời cảm ơn
Đề tài này đợc hoàn thành tại khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh,
dới sự hớng dẫn nhiệt tình của TS. Trần Văn Minh và sự giúp đỡ, động
viên của các thầy cô giáo khác trong khoa, trong tổ Ngôn ngữ, và tổ
Văn học Việt Nam hiện đại.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy hớng dẫn và xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ văn.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong công việc nh ng do năng lực
có hạn và thời gian thực hiện đề tài không đợc nhiều nên khoá luận
cũng không tránh khỏi thiếu sót. Em mong đợc sự góp ý từ các thầy,
cô giáo.
Vinh, ngày 04 tháng 5 năm 2006
VI. Bố cục của khoá luận........................................................
4
Chơng I: Một số giới thuyết chung...........................
5
I. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Bính ...........................................................
5
1. Cuộc đời của Nguyễn Bính .............................
5
2. Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Bính ...........................................
5
II. Hình ảnh và ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính ...................... .
10
1. Hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính ................................................
10
2. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính. ....................................................................
3. Hình ảnh ngời vợ ......................................................................................
46
4. Hình ảnh ngời chị .....................................................................................
48
5. Hình ảnh ngời mẹ .....................................................................................
51
III. Ngôn ngữ thể hiện hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính
54
1. Từ ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật.............................................................
54
2. Từ ngữ miêu tả tâm trạng, tính tình các nhân vật nữ....................................
56
3. Từ ngữ miêu tả phẩm chất nhân vật.............................................................
58
IV. Tiểu kết......................................................................................................
Nghiên cứu đề tài Hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ Nguyễn
Bính để thấy rõ đợc rằng Nguyễn Bính là nhà thơ có tấm lòng yêu thơng, trân trọng đối với ngời phụ nữ. Đề tài này cũng nhằm góp phần
cho việc thực hiện tốt hơn nội dung dạy học thơ Nguyễn Bính trong
nhà trờng.
II. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1. Nhiệm vụ
1.1. Hệ thống hoá các bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có nhân vật
trữ tình ngời phụ nữ Việt Nam.
1.2. Phân tích hình ảnh những ngời phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính theo
các nhóm hình ảnh, các nội dung phân tích, ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
sử dụng để thể hiện hình ảnh ngời phụ nữ.
2. Phạm vi khảo sát
Trong khoa luận này chúng tôi khảo sát các bài thơ của Nguyễn
Bính trớc và sau cách mạng có nhân vật trữ tình là ngời phụ nữ.
III. Lịch sử vấn đề
Cùng với Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính đ ợc xem là
một trong ba đỉnh cao trong phong trào Thơ Mới. Ông đã có nhiều
đóng góp cho nền văn học dân tộc. Lâu nay khi nói về Nguyễn Bính,
ngời ta thờng xem ông là Nhà thơ của tình quê và hồn quê (Tô
Hoài), Thi sĩ của đồng quê(Hà Minh Đức), là Nhà thơ chân quê
(Tôn Phơng Lan), Thi sĩ của hồn quê (Vơng Trí Nhàn)... Nguyễn
Bính là một tác giả có ảnh hởng lớn đối với nền văn học Việt Nam hiện
đại, vì vậy thơ ông đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu.
Đến nay đã có nhiều công trình lớn nhỏ viết về thơ Nguyễn Bính,
với những quy mô và hớng tiếp cận khác nhau. Thơ Nguyễn Bính đợc
công chúng yêu thích, nhng do hạn chế của thời đại nên việc nghiên
cứu thơ ông nh những chuyên luận cha đợc đặt ra. Tuy nhiên, từ sau
Đỗ Lai Thuý Đờng về chân quê của Nguyễn Bính, (1994). Nhìn
chung, các công trình nghiên cứu này đã phát hiện những nét mới mẻ,
đa dạng của thơ Nguyễn Bính. Nhng có thể nói việc nghiên cứu về
hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính là hoàn toàn mới mẻ và
cha ai đề cập đến.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
1. Phơng pháp thống kê: đợc dùng khi lập danh sách các bài thơ có
nhân vật nữ và phân loại các bài thơ đó theo kiểu nhân vật nữ. Đợc
dùng phơng pháp này khi tìm hiểu ngôn ngữ thể hiện hình ảnh ngời
phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính.
2. Phơng pháp phân tích miêu tả: đợc dùng khi tìm hiểu hình ảnh và
ngôn ngữ thơ, nhất là hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính.
3. Phơng pháp so sánh: dùng để so sánh không chỉ nội bộ thơ Nguyễn
Bính mà với các tác phẩm khác cũng đề cập đến ngời phụ nữ.
4. Phơng pháp tổng hợp: sử dụng chủ yếu ở phần kết luận của khoá
luận.
V. Đóng góp của đề tài
Từ đề tài nghiên cứu này chúng ta hiểu rõ hơn về nội dung thơ
Nguyễn Bính nói chung và thấy đợc hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ
ông nói riêng. Từ đó khoá luận hy vọng trở thành tài liệu tham khảo ở
cấp phổ thông.
VI. Bố cục của khoá luận
Khoá luận gồm 63 trang chính văn và danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung khoá luận
công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1956, ông làm chủ bút Tuần
báo Trăm hoa. Đầu năm 1964, Nguyễn Bính về công tác ở Ty Văn hoá
Nam Hà. Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm ất Tỵ (tức
ngày 20 tháng 1 năm 1966) khi đến thăm nhà một ngời bạn ở xã Hoà
Lý (nay là xã Nguyên Lý), huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Nguyễn
Bính đã đợc nhà nớc tặng giải thờng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ
thuật (đợt 2 năm 2000).
2. Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Bính
2.1. Nguyễn Bính sáng tác nhiều thể loại khác nhau (thơ, truyện thơ,
kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác). Hoạt động văn nghệ của ông
phong phú, đa dạng, song thành tu xuất sắc nhất đợc độc giả yêu
chuộng là thơ. Nguyễn Bính là nhà thơ quen thuộc của nhiều thế hệ
độc giả Việt Nam. Tuy qua đời đã 40 năm, khi cha bớc vào tuổi 49 nhng ông để lại một thi nghiệp khác đồ sộ: gồm 20 tập thơ trong đó có
một số truyện thơ, kịch thơ và trờng ca. Nguyễn Bính đã để lại gần hai
nghìn bài thơ. Có thể nói Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn. Ông đã tạo
cho mình một gơng mặt rất riêng giữa nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ
ông gần với ca dao, duyên dáng, ý nhị, vơng vấn những nỗi buồn thầm
kín diệu vợi.
Các tập thơ chính của Nguyễn Bính: Lỡ bớc sang ngang (1940);
Tâm hồn tôi (1940); Hơng cố nhân (1941); Một nghìn cửa sổ (1941);
Mời hai bến nớc (1942); Ngời con gái ở lầu hoa (1942); Mây Tần
(1942); Ông lão mài gơm (1947); Những dòng tâm huyết (1953); Mừng
Đảng ra đời (1953); Trả ta về (1955); Động Tháp Mời (1955); Gửi ngời vợ Miền Nam (1955); Nớc giếng thơi (1957); Tình nghĩa đôi ta
(1960); Đêm sao sáng (1962).
Ngoài ra Nguyễn Bính còn viết:
Truyện thơ: Cô gái Ba T (1943); Cây đàn Tỳ bà (1944); Trông
bóng cơ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958).
Truyện: Ngậm miệng (1940); Thạch xơng bồ (1944); Không đất
táccủa thơ ông.
2.2.1. Thơ Nguyễn Bính trớc cách mạng tháng Tám
Trớc cách mạng tháng Tám, Nguyễn Bính chủ yếu là sáng tác
thơ. Chỉ có quê hơng mới tạo nên từng chữ, từng câu thơ của Nguyễn
Bính. Trên ngót nửa thế kỷ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi n ớc
mắt khi đằm lên, ngây ngất nhớ thơng day dứt không thể yên, khi ấy
xuất hiện những bài thơ tình yêu tuyệt vời của Nguyễn Bính. Sức mạnh
sáng tạo của Nguyễn Bính cũng từ nơi đồng đất trắng trời này. Khi tâm
hồn và sự chân thành đi cùng thơ, Nguyễn Bính đạt đến sự toàn bích.
Thơ và cuộc đời ràng buộc ông. Trớc sau và mãi mãi vốn là nhà thơ
của tình quê, chân quê và hồn quê.
Thơ Việt Nam ở thời kỳ này đã hoàn toàn đổi mới. Các nhà Thơ
Mới đã nhanh chóng chiếm đợc trận địa thơ với sự cổ vũ và tin yêu của
mọi độc giả bằng sự ra đời những bài thơ hay cha bào giờ thấy mà lại
gần gũi trong hồn thơ dân tộc. Thơ Nguyễn Bính là một nhành hoa
trong trào lu cách tân này. Với thơ Nguyễn Bính, ngời đọc bị lôi cuốn
vào trong mạch tình cảm trong trẻo và nhiều màu sắc của quê h ơng và
văn hoá làng quê. Mỗi ngời tự nhận ra mình là một thành viên lớn từ
cội nguồn đó. Thơ Nguyễn Bính là lời tâm tình chân thực cảm động với
nhiều bao dung và cảm thơng những cảnh đời, những chuyện tình
duyên tủi buồn tỏng cuộc đời này.
Đọc thơ Nguyễn Bính ở thời kỳ này, ngời ta cảm thấy những tình
cảm, những chuyện đời tởng nh nhỏ bé nhng vẫn da diết, có sức thu
hút và lôi cuốn. Niềm vui và nỗi buồn của ngày qua, hôm nay, của cô
gái chân quê, cô hàng xóm chẳng phải là chuyện riêng của mỗi ngời.
Thơ Nguyễn Bính có một phong cách rất độc đáo: Nguyễn Bính
đã thổi hồn quê vào phong trào Thơ Mới với sự khai thác sâu sắc ca
dao, dân ca truyền thống.
Các cô thôn nữ trớc e lệ, vụng nhớ trộm yêu thì nay ba đảm đang...
cô gái năm xa nay đã có chồng con, quê nhà cảnh cũ đã thay đổi,
những con ngời vẫn trớc sau chung thuỷ vẹn tròn: vàng son vẫn vẹn
giá vàng son.
Làng quê không biến diễn trong cuộc đời bình lặng mà trong
khói lửa chiến tranh, kẻ mất ngời còn. Nhìn lại mời lăm năm, cuộc đời
có bao nhiêu biến động và biến đổi.
Một cơn khói lửa mấy tơi bời
Cảnh cũ làng xa khác cả rồi
Ngớc mắt trông lên trời cũng lạ
Nhà ai đât chứ phải nhà tôi
(Trờ về quê cũ)
Cảnh đẹp của làng quê năm xa vẫn còn đó, song lại có thêm
những chất liệu mới của cuộc đời hôm nay. Những cánh cò vẫn bay lợn, dây hoa thiên lý, mùa cốm non vẫn toả hơng thơm và cuộc sống đã
có những dấu hiệu đầy đủ của hạnh phúc.
- Mùa nắng đất khô cỏ cháy
Mùa ma nớc ngập lau tràn
Cò trắng nghìn năm bay chẳng dứt
Chân trời bốn mặt rộng thênh thang
- Con cò bay lả trong câu hát
Giấc ngủ say dai nhịp vọng ru!
Sau những câu thơ xao xuyến, nôn nao nh xé nát lòng, nh buồn
đến chảy nớc mắt, chảy cả máu trong tim, nh nổi buồn vô vọng của kẻ
thất tình triền miên là những câu, những bài...Vẫn là thơ tình, một th
tình yêu mới: vẫn duyên dáng, vẫn ngọt ngào, vẫn đắm say nh ng đó là
cái đắm say của một con ngời đã biết và đang đi đến đích, cái đích
phải trả giá: Sẳn sàng chịu gian khổ, dám hy sinh để cứu n ớc, cứu nòi.
Nguyễn Bính đã viết nhiều tác phẩm kịp thời ca ngơi cuộc chiến đấu
1.1.1. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính trớc Cách mạng
tháng Tám
Thiên nhiên trong Thơ Mới đợc cảm nhận bằng cái tôi cá nhân,
sắc thái cá nhân nên nó mang sắc thái cụ thể, riêng biệt và rất sinh
động. Hơn nữa viết về tình yêu thiên nhiên cũng là thể hiện lòng yêu
nớc, thể hiện khát vọng tự do, tình yêu cuộc sống. Đề tài thiên nhiên
đợc các nhà Thơ Mới đặc biệt quan tâm, trong đó cảm hứng về mùa
xuân là một trong những cảm hứng tiêu biểu của họ. Hầu hết các nhà
Thơ Mới đều có các tác phẩm viết từ cảm hứng mùa xuân. Nguyễn
Bính miêu tả gợi cảm, nhất là không khí làng quê vào mùa xuân. Xuân
về, làng quê trở lại với sự thanh bình, tạo vật cũng nh bớc vào vận hội
của mùa xuân: hoa nở, bớm bay, thiên nhiên sinh sôi nảy nở.
Bữa ấy ma xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay
Khi xuân về hình ảnh thiên thiên cũng trở nên thơ mộng:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mợt nh nhung
Đầy vờn hoa bởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hơng bay bớm vẽ vòng.
Nguyễn Bính đã để lại cho đời một mùa xuân nguyên vẹn, một
năm mới bắt đầu từ một ngày xuân tơi đẹp:
Năm mới tháng giêng, mùng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân
(Nhạc xuân)
Mùa xuân không chỉ gắn bó với cuộc đời mà còn gắn bó với sự
nghiệp thơ Nguyễn Bính. Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, dù ông đang làm
gì, ở đâu chăng nữa, ông đều có thơ. Ông có những bài thơ xuân nh:
Xuân về, Ma xuân, Vờn xuân, Tiếng trống đêm xuân, Xuân tha hơng,
thật gần gũi, thân thuộc, rất riêng của đất nớc khi mùa xuân sang. Với
những hạt ma xuân, cây cối đua nhau đơm hoa kết quả, làng quê ngào
ngạt hơng hoa, rộn ràng cánh bớm:
Đầy vờn hoa bởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hơng bay bớm vẽ vòng
(Ma xuân)
Đọc thơ ông, ngời đọc dễ dàng nhận ra một không gian làng quê
êm đềm, bầu trời trong xanh, nắng vàng rực rỡ, những cánh đồng lúa
mợt nh nhung, ma xuân nhẹ bay, hoa xoan tím rụng rơi đầy... Cái
không gian nên thơ và độc đáo ấy cùng với những hình ảnh quen thuộc
của ngời dân Việt Nam đã dệt nên bức tranh làng quê đất Việt đẹp nh
mơ song rất đỗi thân quen gần gũi. Một bức tranh mà ở đó con ng ời và
thiên nhiên hoà quyện vào nhau: con trẻ chạy xum xoe, m a tạnh, bầu
trời xanh trở lại, dới ánh nắng ban mai những búp non nh ai tráng bạc
và vài cơn gió heo may thổi nhẹ, tất cả đều đẹp đẽ, thơ mộng, trong
một không gian làng quê yên tĩnh.
Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê, con ngời và cảnh vật của
làng quê thấm đợm thơ ông. Trong một kỷ niệm riêng về Nguyễn Bính,
nhà văn Tô Hoài đã viết: Khi nào anh cũng là ngời của các xứ đồng,
của cái diều bay, của dây hoa lý, của ma tha, ma bụi giữa mọi công ăn
việc làm vất vả sơng nắng. Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ
Nguyễn Bính.
Hình ảnh làng quê thôn dã trong thơ Nguyễn Bính vẫn gần gũi,
chân chất, mộc mạc nhng có phong vị rất riêng. Đó là những cánh bớm, cái giậu mồng tơi, cây bởi, cây chánh, giàn trầu, hàng cau, hội
làng chiếu chèo, sự hò hẹn lứa đôi, hiện lên đằm thắm duyên quê là
hình ảnh các cô thôn nữ đang độ tuổi yêu đơng. Làng quê trong thơ
Nguyễn Bính là làng quê của tình ngời, tình nghĩa và của tình yêu đôi
lứa. Nguyễn Bính giỏi miêu tả cảnh vật nhng ông không sa vào chi tiết
Bính là ngời miêu tả những cánh bớm đẹp và gợi cảm nhất trong Thơ
Mới:
Qua giậu tầm xuân thấy bớm nhiều
Bớm vàng vàng quá, bớm yêu yêu
Em sang bắt bớm vờn anh mãi
Quên cả làng ngang động trống chèo
(Hết bớm vàng)
Đọc thơ của Nguyễn Bính, ta nh đợc trở về làng quê thân yêu với
những phiên chợ Tết, với những tiếng trống chèo, với hơng đồng gió
nội, với những mảnh vờn sực nức hơng hoa... Nghĩa là ta thoáng gặp
một cái gì đó rất đỗi thơng yêu của làng quê Việt Nam. Miêu tả thiên
nhiên mà làm hiện lên quan niệm sống, quan niệm nghệ thuật, quả là
Nguyễn Bính có ý thức chiếm lĩnh và thể hiện nó một cách nhất quán.
1.1.2. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính sau Cách mạng
tháng Tám
Nguyễn Bính đã nhanh chóng nhập cuộc vào dòng thác cách
mạng, liền sau đó thơ của ông cũng đã vang lên ca ngợi cuộc chiến đấu
và sự nghiệp xây dựng của nhân dân ta. Nguyễn Bính cũng vẫn tìm về
chất liệu xa; cảnh thiên nhiên làng quê xa đã có thêm chất liệu mới của
cuộc đời hôm nay. Trong Bài thơ quê hơng, với niềm tự hào của ngời
con quê hơng, nhà thơ kể chuyện về đất qua hình ảnh của nhiềuvùng
quê khác nhau. Bất kể ở mặt trận nào, chiến trờng nào, bất kể lúc gặp
đồng chí, đồng bào, đói hay no, bình lặng hay tiếng súng ran giòn, gặp
cô du kích đáng yêu hay nghe anh lính trẻ tâm sự nhớ nhà... thơ
Nguyễn Bính ào ạt chảy ra nh dòng nớc nguồn trong trẻo, tuôn ra tự
nhiên nh tạo hoá đã định sẵn ở khối óc và trái tim của một con ng ời
tuyệt diệu. Hình ảnh thiên nhiên của miền quê hết xứ Bắc lại đến xứ
Nam hiện lên rất rõ nét. Vẫn là hình ảnh chim bay, cò đậu, mảnh đất
đổi mới. Thơ viết về quê hơng lúc này mang âm điệu ngợi ca. Những
cảnh đẹp của làng quê năm xa vẫn còn đó nhng có một chất liệu mới
của thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Những cánh cò vẫn bay lợn, dây hoa
thiên lý, mùa cốm non vẫn toả hơng thơm, cuộc sống của con ngời đã
có những dấu hiệu đầy đủ, hạnh phúc.
Con cò bay lả trong câu hát
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru...
... Đờng mòn rộn bớc chân về chợ
Vú sữa đầy căng mặt yếm sồi
(Chiều thu)
Nguyễn Bính đã khơi dậy ở mỗi ngời đọc tình cảm quê hơng.
Ông yêu mến và giới thiệu những hình ảnh đẹp, tiêu biểu của làng quê
Việt Nam mà mỗi cảnh vật, con ngời đều thấm đợm hồn quê. Nguyễn
Bính đã tạo đợc một phong điệu trữ tình đằm thắm mang nhiều phong
vị của thiên nhiên làng quê ở cả hai thời kỳ.
1.2. Hình ảnh cuộc sống trong thơ Nguyễn Bính
1.2.1. Hình ảnh cuộc sống trong thơ Nguyễn Bính trớc Cách mạng
tháng Tám
Trong mỗi bài thơ của Nguyễn Bính bao giờ cũng thấy một bức
tranh đợc hiện lên mà ở đó con ngời và thiên thiên hoà quyện vào
nhau. Không gian quen thuộc của làng quê - Không gian văn hoá trong
đó bao gồm những nếp sống, phong tục, tập quán đợm màu sắc dân
tộc, giản dị chân quê của những hội xuân, những đêm hát chèo, những
buổi hát lễ hội. Hầu hết những bài thơ của Nguyễn Bính đều có báng
dáng của những đêm hát chèo hay của những ngày hội, có thể đ ợc tô
đậm hay đôi khi chỉ thoáng qua:
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Trong những ngày Tết, đó là pháo chuột, tranh gà, giết lợn, đồ
xôi, giết gà cùng với các tập tục, tập quán của ngời Việt thờ cúng tổ
tiên, rồi những kiêng kỵ trong ngàyTết, nào là dậy sớm, không đ ợc
tranh cãi... Tóm lại, tất cả những tâm niệm, những lễ nghi trong ngày
Tết đều đợc khắc hoạ:
Giết lợn đồ xôi, lại giết gà
Cỗ bàn xong cả từ hôm qua
Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức
Lẩm thẩm cầu kinh đức Chúa Ba
Mẹ tôi gọi cả các em tôi
Đến bên nhà dặn sáng ngày mai
Các em phải dạy saôch sớm
Đến năm năm mới phải lanh trai.
Hơn nữa hội làng, hội xuân đã trở thành những kỷ niệm thiêng
liêng không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt và trong tâm hồn nhà
thơ ngay từ thuở thiếu thời. Những lễ hội văn hoá của làng quê đợc nhà
thơ miêu tả vô cùng sinh động và đặc sắc với các trò chơi dân gian, hội
chùa, đêm hát chèo... Tất cả đều diễn ra trong khung cảnh thiên nhiên
thơ mộng:
Trên đờng cát mịn một đôi cô
Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
Tay lần tròng hạt miệng nam mô
(Xuân về)
Hình ảnh nông thôn nh một cái gì đó bất biến trong không gian
gắn liền với những đêm hội chèo, nơi mỗi cá nhân đợc nghỉ ngơi, đợc
tiếp thêm sức mạnh trong cộng đồng và bởi cộng đồng. Nông thôn là
nơi có cuộc sống giản dị và thơ mộng (thanh đạm), có sự huy hoàng
Bất an trớc cuộc sống đô thị:
- Hà Nội cơ hồ loại tiếng ve
Nắng dâng làm lụt cả tra hè
- Lá úa kinh thành rơi ngập đất
Lòng vàng hỏi vẫn nhớ thơng nhau?
Sự tha hoá ở chốn kinh thành:
ở mãi kinh kỳ bút với nghiên
Đêm đêm quán trọ thức tri đèn
Xót xa một buổi soi gơng cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền
Cuộc sống đô thị hiện đại tạo cho con ngời một cảm giác lạc
loài, bơ vơ và lo âu. Nó đã làm phá vỡ gia đình truyền thống nh là một
đơn vị kinh tế, địa lý, giáo dục. Nó lôi ngời ta khỏi cuộc sống hạnh
phúc, gây nên bao cảnh ly biệt mà nhà ga là một biểu tợng:
Những cuộc chia lìa khởi từ đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lợt theo nhau suốt tối ngày
Cuộc sống đô thị phồn hoa nhng lạnh lùng, đầy lo âu, bất trắc;
mặt khác sự cảm nhận đợc bản thân mình không hoà nhập nổi với nó,
đã làm đậm thêm mối sầu đô thị.
Dù thế nào chăng nữa, Nguyễn Bính đã phản ánh đợc khát vọng
bình dị của ngời nông dân: đợc sống một cuộc sống thanh bình, thơ
mộng, với những đêm hội chèo náo nức thâu đêm. Bởi vậy ng ời dân
cho dù vất vả, bận rộn quanh năm vẫn mong ngóng chờ đợi hội chèo
làng Đặng đi ngang ngõ. Qua đó ta thấy ẩn chứa vẻ đẹp tinh thần,
quan niệm sống hồn nhiên, lạc quan của ngời dân Việt Nam.
1.2.2. Hình ảnh cuộc sống trong thơ Nguyễn Bính sau Cách mạng