Hình thành tri thức thể loại từ việc dạy học các văn bản văn học việt nam trung đại ở trung học phổ thông luận văn thạc - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN THỊ THU HOÀI

HÌNH THÀNH TRI THỨC THỂ LOẠI TỪ VIỆC DẠY HỌC
CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VĂN - TIẾNG VIỆT
Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. PHẠM TUẤN VŨ

NGHỆ AN - 2012


2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1

1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 7
4. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 7

TRUNG ĐẠI ..................................................................................................... 50
3.1. Khái niệm văn chính luận Việt Nam trung đại ........................................ 50
3.2. Thống kê, phân loại và phân tích sơ bộ kết quả thống kê, phân loại
phần văn chính luận được dạy học ở trung học phổ thông ............................. 52
3.3. Thuận lợi và khó khăn chủ yếu của việc dạy học văn chính luận Việt
Nam trung đại ở trung học phổ thông ............................................................. 53
3.3.1. Thuận lợi ............................................................................................... 53
3.3.2. Khó khăn ............................................................................................... 54
3.4. Những tri thức cơ bản của văn chính luận Việt Nam trung đại cần
hình thành ........................................................................................................ 59
3.4.1. Tính chất nguyên hợp............................................................................ 60
3.4.2. Sự thể hiện hình tượng tác giả .............................................................. 62
Chƣơng 4. THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG THEO HƢỚNG CHÚ TRỌNG
HÌNH THÀNH TRI THỨC THỂ LOẠI .............................................................. 65
4.1. Một số vấn đề về phương pháp dạy học ngữ văn hiện nay có liên quan ........ 65
4.1.1. Dạy học theo yêu cầu đổi mới............................................................... 65
4.1.2. Dạy học theo hướng chú trọng hình thành tri thức thể loại ................. 67
4.2. Thiết kế một số bài giảng theo hướng hình thành tri thức thể loại ......... 68
4.2.1. Giáo án thứ nhất: Thương vợ (Trần Tế Xương).................................... 68
4.2.2. Giáo án thứ hai: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) ... 76
4.2.3. Giáo án thứ ba: Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) ................................. 85
4.3. Kết quả thực nghiệm ................................................................................ 93
4.3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 93
4.3.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 94
4.3.3. Địa bàn thực nghiệm ............................................................................. 95
4.3.4. Quá trình thực nghiệm .......................................................................... 95
4.3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm ............................................................. 96
4.3.6. Kết luận thực nghiệm ............................................................................ 98
4.3.7. Rút kinh nghiệm và giải pháp ............................................................... 98
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 100

chương mà còn chứa đựng trong đó biết bao giá trị văn hóa truyền thống
cùng những vui, buồn, trăn trở của người xưa gửi gắm đến người sau. Tuy
nhiên, trong quá trình giảng dạy văn học trung đại ở trường phổ thông,


2
giáo viên gặp không ít khó khăn. Các văn bản văn học Việt Nam trung đại
được đưa vào trong chương trình phổ thông đều là những tác phẩm xuất
sắc của các nhà thơ, nhà văn lớn của dòng văn học dân tộc. Bộ phận văn
học này đa dạng về thể loại nhưng chúng tôi chỉ nghiên cứu việc hình
thành tri thức ba thể loại là thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính
luận Việt Nam thời trung đại vì trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy
trực tiếp tại trường phổ thông , chúng tôi thấy

giáo viên Ngữ văn khi

giảng dạy các thể loại kể trên gặp một số khó khăn khi truyền đạt đến đối
tượng tiếp nhận. Vì thế, qua luận văn này chúng tôi cũng mong muốn góp
phần nhỏ của mình vào việc dạy tốt hơn ba thể loại vừa kể trên ở nhà
trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở trường trung học thổ thông
cần phải chú ý đến vấn đề dạy tích hợp và chú ý đến đặc trưng thể loại.
Hiện nay có ít tài liệu đề cập đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu. Phần
lớn dưới dạng nghiên cứu cụ thể ở từng tác phẩm. Những vấn đề chung về
đổi mới giáo dục Trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo viết:
“Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới
mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi
mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các
nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ngoài hiện

cách thức, thông qua đó và bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội
những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học
tập cụ thể” [32, 31].
Phương pháp dạy văn nói chung và dạy học văn học Việt Nam thời
trung đại nói riêng đã được một số nhà khoa học về phương pháp dạy học
nghiên cứu. Chúng tôi xin điểm qua một số những công trình nghiên cứu đó.
Trong giáo trình Phương pháp dạy học của nhóm tác giả Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng và Trần Thế Phiệt do Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội tái bản năm 1999, Phan Trọng Luận cùng các nhà
biên soạn đã đề cập đến phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ


4
thông. Trong giáo trình này các nhà biên soạn đã đưa ra các phương pháp
cụ thể của việc dạy học văn. Đặc biệt là trong giáo trình này các tác giả đã
cho chúng ta thấy được vai trò của người học trong quá trình phân tích tác
phẩm văn chương là chủ thể cảm thụ. Các tác giả cũng đã đưa ra những
phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại nhất định như phương pháp dạy
học môn làm văn, phương pháp dạy học văn học sử... Tuy nhiên về thể loại
văn học Việt Nam thời trung đại các tác giả chưa thực sự quan tâm lắm.
Hơn nữa do tài liệu này ra đời lâu với lại chương chình SGK đã cũ, xu thế
xã hội khác và những phương pháp dạy học văn mà giáo trình nêu ra
không còn phù hợp nữa.
Năm 2007, trong cuốn Để dạy tốt và học tốt tác phẩm văn chương
(phần trung đại) ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã
nêu ra thực tế khó khăn và thuận lợi trong việc dạy học văn học trung đại ở
trường phổ thông. Và cũng trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra các
phương pháp dạy học văn học trung đại như hướng dẫn học sinh đọc tác
phẩm, dạy học văn học thông qua cắt nghĩa, dạy thơ trung đại thông qua
chú giải sâu.

học, nó cập nhật sát với chương trình hiện hành… nhưng các phương pháp
dạy văn mà các tài liệu này đề ra đều chưa mang tính khái quát.
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả có nghiên cứu về
việc dạy học phần văn học Việt Nam trung đại theo từng thể loại. Song
những công trình đó đang dừng lại ở một mức độ nhất định và chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách kĩ lưỡng về phương pháp dạy
học văn học Việt Nam thời trung đại trong nhà trường trung học phổ
thông (THPT).
Đổi mới phương pháp dạy học văn được bắt đầu bằng việc thay
đổi chương trình SGK. Bộ SGK Ngữ văn chương trình chuẩn do tác
giả Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) và bộ SGK Ngữ văn nâng cao
do tác giả Trần Đình Sử (tổng chủ biên) đã có những thay đổi so với
bộ SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000. Bộ SGK Ngữ văn đã định


6
hướng cho giáo viên và học sinh khám phá phân tích tác phẩm bằng
hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, bằng yêu cầu cần đạt và ghi nhớ
ở đầu và cuối mỗi bài học. Phần yêu cầu cần đạt giúp giáo viên xác
định được trọng tâm kiến thức của bài học, giúp học sinh kiểm tra
việc dạy của giáo viên và việc tiếp thu kiến thức của mình. Phần hệ
thống câu hỏi hướng dẫn học bài giúp học sinh (HS) từng bước
khám phá, tiếp cận văn bản và đồng thời nó cũng hướng dẫn giáo
viên (GV) tổ chức giờ dạy.
Năm 2010, với công trình nghiên cứu Về một số vấn đề tác giả tác
phẩm văn chương và cuốn Văn chính luận Việt Nam thời trung đại tác giả
Phạm Tuấn Vũ đã cung cấp cho một số kiến thức về thể loại văn học Việt
Nam thời trung đại và kiến thức về văn chính luận Việt Nam thời trung đại.
Cũng trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích khá cụ thể về
các thể loại văn học học trung đại như thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và

đính chính những sai sót trong sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài
liệu tham khảo hữu quan.
3.4. Soạn một số giáo án theo hướng chú trọng hình thành tri thức thể
loại văn học Việt Nam trung đại.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc hình thành tri thức thể loại từ việc dạy học
các văn bản thuộc thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính luận Việt
Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Ngữ văn : thống kêphân loại, tổng hợp- phân tích, đối sánh, kết hợp với sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục: phương pháp quan sát, phương pháp
điều tra, phương pháp thực nghiệm.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày
trong bốn chương.
Chương 1: Hình thành tri thức về thơ Đường luật
Chương 2: Hình thành tri thức về truyện truyền kỳ
Chương 3: Hình thành tri thức về văn chính luận Việt Nam trung đại


8
Chương 4: Một số giáo án theo hướng chú trọng hình thành tri thức
thể loại văn học Việt Nam trung đại
Chƣơng 1
HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ THƠ ĐƢỜNG LUẬT
1.1. Khái niệm thơ Đƣờng luật
Không một thể thơ nào được di thực vào Việt Nam có lịch sử lâu dài,
được sử dụng phổ biến và nhiều thành tựu như thơ Đường luật. Văn bản
văn chương thẩm mỹ Việt Nam có niên đại sớm nhất hiện còn được viết
theo thể thơ này (Quốc tộ của Khổng Lộ thiền sư). Ở những tháng năm

trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau; trong mỗi cặp câu (còn
gọi là “liên”), các chữ tương ứng của câu số lẻ và câu số chẳn phải có thanh
ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu); nhịp đi của “liên”
trên phải khác nhịp đi của “liên” dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn
thuộc “liên” trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc” liên” dưới
(sự giống nhau đó gọi là “niêm” vì làm cho hai câu thuộc hai “dính” vào
nhau). Ví dụ: công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng:
b b t t t b b ( vần)
t t b b t t b ( vần)
t t bbbtt
b b

t t t b b ( vần )

b b ....
Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra
lệ “bất luận” chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều
được); chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng
có thể bất luận; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thanh
trắc, nhất là ở câu có vần. Về cách đối; đối ở phần “thực” và “luận”.
Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại. Các nhà thơ thường
thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu
thủy (hơi thơ cũng như ý của câu thư hai là do câu thứ nhất trượt xuống,


10
không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để
đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một
câu), khoan đối (đối không thật chỉnh)... Về cách gieo vần: chỉ gieo một
vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, ,6 ,8). Riêng chữ cuối câu

phổ biến nhất là bát cú. Ở Việt Nam thơ Đường luật phổ biến tới mức có
thể nói các thi gia thời trung đại đều sử dụng thể thơ này. Thơ Đường luật
thời kỳ nào cũng có thành tựu. Các tác giả lớn đều có những tập thơ quy
mô hoặc số lượng lớn tác phẩm sử dụng thể loại này, thật khó kể hết.
Thể thơ Đường luật còn giúp người Việt Nam từng bước xây dựng
những thể thơ dân tộc, tiêu biểu nhất là Nguyễn Trãi, với tác phẩm thơ
Nôm Đường luật Quốc âm thi tập, đây là tập thơ Nôm cổ nhất, phong
phú nhất của Việt Nam còn lại đến ngày nay, gồm 254 bài, với tác phẩm
này,

ông đã được xem là người có công lớn đầu tiên trong “một cố

gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam” (Bùi Văn Nguyên), Lịch sử
văn học Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1978.
Nguyễn Trãi là người thể hiện mạnh mẽ xu hướng phá cách trong
sáng tạo thơ Nôm Đường luật. Dường như với Ức Trai, xu hướng dân
tộc hóa trước hết biểu hiện ở chỗ tìm cho mình cái riêng, cố gắng khác
các thi nhân Trung Quốc, chính cách này cũng đã tạo cho ông một lối đi
riêng , một phong cách riêng để người đọc nhớ mãi một Ức Trai trữ tình
sâu lắng khi tiếp cận các tác phẩm thơ trữ tình của ông.Chính vì vậy,
những câu thơ sáu chữ vốn không phải của Đường thi lại trở thành phổ
biến trong Quốc âm thi tập.
Thể thơ Đường luật còn có vai trò trong việc từng bước làm cho
tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ văn chương thuần thục, qua việc có
hàng loạt tập thơ Nôm quy mô như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi,
Hồng Đức quốc âm thi tập của vua tôi Lê Thánh Tông, Bạch Vân quốc
ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm... tất cả các tác phẩm này đều tạo
nên phong cách thời đại của thơ Nôm Đường luật.



luật

Chữ
Nôm
Chữ
Nôm

3.

Độc Tiểu Thanh kí

Nguyễn Du

4

Tỏ Lòng

Phạm Ngũ
Lão

Đường
luật
Đường
luật

Chữ
Hán
Chữ
Hán


7

Thu điếu

( II)

Được
dạy học
ở lớp

Ghi chú

10

Nâng cao
và cơ bản

10
10
10
11
11
11

Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy số lượng các tiết dạy đọc hiểu
văn bản thuộc thể loại thơ Đường luật là rất ít.
Theo phân phối chương trình lớp 10 và 11, các văn bản thuộc thể loại
thơ Đường luật được dạy ở chương trình học kì I của lớp 10 gồm các văn





14
đương đại đối với người dạy và người học hôm nay có cùng những khó
khăn khi tiếp cận. Những bài thơ ấy được viết bằng một ngôn ngữ và tư duy
thơ có những đặc điểm riêng. Tuy nhiên so với việc dạy và học những bài thơ
dịch từ những ngôn ngữ khác, dạy học những bài thơ chữ Hán Đường luật
thuận lợi hơn.
Bài thơ được coi là tuyên ngôn đầu tiên của nước Nam là bài Nam
quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) của Lý Thường Kiệt cũng được viết
bằng thể thơ này, đại bộ phận thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Cao Bá Quát... viết bằng thể thơ Đường luật, Ngục trung nhật ký - tập thơ
lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh sử dụng thể loại này, và cho đến tận hôm nay
các nhà thơ và những người làm thơ nghiệp dư còn sử dụng thể thơ Đường
luật. Thơ Đường luật không chỉ được viết bằng chữ Hán mà còn được viết
bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Chính vì vậy, thơ Đường luật đã có
những cải biến mạnh mẽ theo hướng Việt hóa, nhất là từ khi xuất hiện thơ
Nôm Đường luật. Đây chính là những thuận lợi cho giáo viên khi dạy một
giờ đọc hiểu văn bản thơ Đường luật vì giáo viên có thể tham khảo rất
nhiều tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, điều
này đã mang lại những thuận lợi cho người dạy và người học để tìm ra cho
mình những định hướng đúng khi tiếp cận văn bản thơ Đường luật.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong đó có đổi mới phương
pháp giảng dạy Ngữ văn làm cho học sinh có thái độ tích cực, tự giác hơn
trong việc tìm hiểu, tiếp cận các tác phẩm trước khi nhận được sự chỉ dẫn
tận tình của người dạy.
1.3.2. Khó khăn
Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển trong mối quan hệ
giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, chủ yếu là văn học Trung Quốc.
Sản phẩm tiêu biểu cho mối quan hệ giao lưu này có thể kể đến thể thơ

Đa số các em học sinh hiện nay khi tiếp cận thơ Đường luật đều cảm
thấy rất khó khăn vì các bài thơ Đường luật được đưa vào trong chương
trình đều được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm.


16
Nếu giáo viên chúng ta không biết chọn lựa, mà đưa nhiều kiến thức
chuyên sâu sẽ càng làm cho những khó khăn đó nhiều hơn, lớn hơn. Và kết
quả là, thay vì yêu thích thì các em sẽ thấy e ngại, thậm chí sợ hãi những
giá trị văn chương này.
Khó khăn tiếp theo là các tác phẩm thơ Đường luật được đưa vào
trong chương trình đều viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Chính điều này
đã gây khó khăn cho người giáo viên vì khi còn là sinh viên ở các trường
Đại học, họ được học một số kiến thức về chữ Hán và chữ Nôm không
nhiều nên đây là khó khăn nhất đối với giáo viên trong quá trình nghiên
cứu và giảng dạy. Giáo viên mới chỉ đọc được phần phiên âm, nhớ được
phần dịch và dạy chủ yếu ở bản dịch. Vì vậy mà việc đối chiếu với nguyên
tác có nhiều bất cập.
Giáo viên dạy Ngữ văn cần phải chú ý đến bản dịch thơ. Những bài
thơ này là của các nhà thơ Việt Nam thời trung đại (ví dụ Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du), của nhà thơ Việt Nam hiện đại (Hồ Chí Minh) và một số nhà
thơ Trung Hoa cổ (ví dụ Lý Bạch, Đỗ Phủ). Ngoại trừ những trường hợp
có dị bản, còn mỗi bài thơ chứ Hán ít nhất có ba văn bản giúp cho giáo
viên và học sinh tìm hiểu các giá trị của nó: bản phiên âm Hán - Việt, bản
dịch nghĩa và bản dịch thơ. Bởi vậy chúng ta chỉ bàn đến bản dịch thơ
nhưng không thể bỏ qua vai trò của nguyên tác và bản dịch nghĩa.
Một thực tế nữa là khi giáo viên giảng dạy thơ chữ Hán Đường luật
thường tiến hành đối chiếu bản dịch thơ để xem có sát với nguyên tác và
bản dịch nghĩa hay không để rồi từ đó, cho rằng bản dịch thơ sát hay không
sát với nguyên tác hoặc là bản dịch thơ hay hơn nguyên tác hoặc chưa

khó tránh khỏi hạn chế trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn
bản thơ Đường luật.
Về phía học sinh, theo khảo sát của chúng tôi các em học sinh say mê
học văn chưa nhiều, không ít em có năng lực yếu kém về môn văn, khả
năng cảm thụ, phân tích văn học còn hạn chế nên tỏ ra chán học văn. Vì
thế, các tiết học thơ Đường luật thời trung đại lại càng khó khăn đối với


18
các em. Tiếp xúc với phần văn học trung đại Việt Việt Nam và thể loại thơ
Đường luật đa phần các em chưa tiếp thu bài tốt.
Với những khó khăn mà chúng tôi vừa trình bày ở trên, chúng tôi hệ
thống một số phương pháp tiêu biểu khi tiếp cận thơ Đường luật Việt Nam
thời trung đại.
Thông thường, khi giáo viên tiến hành một giờ dạy đọc – hiểu văn
bản thơ Đường luật, thường có bốn bước tiếp cận:
Bước 1: Đặt bài thơ trong mối liên hệ với tác giả và hoàn cảnh ra
đời của tác phẩm, giáo viên chúng ta sẽ lần lượt: Giới thiệu (Giới
thiệu tác giả với các yếu tố: Thời đại, quê hương, gia đình, tính cách,
phong cách sáng tác…; Giới thiệu tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài,
thể loại, bố cục, chủ đề…). Ở bước này, việc tìm hiểu tác giả là rất
quan trọng, bởi vì, tác giả là người sáng tạo nên tác phẩm. Mỗi tác giả
có một hồn riêng, một quan niệm, sở thích riêng cũng như phong
cách thể hiện riêng và điều đó đã thể hiện rất rõ trong tác phẩm của
mình. Ví dụ, khi dạy văn bản Thương vợ của Trần Tế Xương (Tú
Xương), để hiểu đúng giọng điệu trữ tình trong tác phẩm, giáo viên
không thể không cung cấp cho học sinh những thông tin về cuộc sống
khoa cử lận đận “chín khoa chưa khỏi phạm trường quy” và tâm sự
bất đắc dĩ của tác giả này.
Khi nói đến hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thông thường người

bố cục, giáo viên có thể giúp các em cảm nhận diễn biến tâm trạng của
nhân vật trữ tình cũng như cách mà tác giả sử dụng từ ngữ, hình ảnh…để
bộc lộ tâm trạng. Qua đó, định hướng cho các em đánh giá toàn

bộ nội

dung và nghệ thuật của cả bài thơ. Đây là cách làm phổ biến nhất.
Phân tích theo kết cấu hai phần: tiền giải và hậu giải
Đây cũng là cách phân tích cắt ngang, nhưng khác với phân tích theo bố
cục bốn phần, ở đây chỉ chia văn bản thơ ra 2 phần theo tình ý của bài thơ.
Có thể là 6 - 2 câu, hoặc 4 - 4, cũng có thể 2 - 6 câu.Ví dụ bài thơ Cảnh
ngày hè của Nguyễn Trãi. Có thể chia bố cục như sau: 6 câu đầu và hai
câu cuối.


20
Sáu câu đầu là sự giao cảm của tâm hồn thi sĩ với thiên nhiên và
cuộc sống ngày hè.
Hai câu cuối là khát vọng của người anh hùng lý tưởng, luôn ưu dân
ái quốc:
Theo chúng tôi, , bằng cách chia tác phẩm ra làm 2 phần để phân tích,
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khám phá vẻ đẹp con người Nguyễn
Trãi: người anh hùng với lý tưởng nhân nghĩa, yêu nước , thương dân; nhà
thơ với tình yêu thiên nhiên, con người, cuộc sống….đồng thời, học sinh sẽ
nhận ra nghệ thuật điêu luyện của tác giả khi Việt hóa thể thơ Đường luật.
Phân tích theo nội dung, luận điểm (cách phân tích bổ dọc):
Với cách phân tích này, giáo viên sẽ giúp học sinh tìm ra những vấn
đề chính toát lên từ tác phẩm, sau đó dẫn dắt các em tìm hiểu từng vấn đề
theo trình tự thể hiện trong tác phẩm.
Ví dụ bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, để học sinh cảm nhận

bình luận đây là chuyện đáng hận. Hai câu kết là tiếng khóc thương cho
thận phận mang ý nghĩa khái quát cho những kiếp người tài hoa bạc mệnh.
Ngoài ra, chúng ta còn có cách tìm hiểu các văn bản thơ Đường luật theo
hướng khác. Khi các thể thơ Đường luật này đã được mềm hóa nhờ sự coi
trọng hàng đầu cảm xúc chân thực của thi nhân thì hoạt động đọc – hiểu
văn bản này nên đi theo diễn biến tự nhiên, quá trình cảm xúc của nhân vật
trữ tình. Ví dụ có thể dạy bài thất ngôn bát cú Đọc Tiểu Thanh kí theo
cách phân định sau: bốn câu đầu là niềm cảm thương cho số phận nàng
Tiểu Thanh, bốn câu sau là niềm cảm thương cho những kiếp tài hoa. Nếu
xuất phát từ đặc điểm “thi trung hữu họa” và “tả cảnh ngụ tình” trong thi
pháp thơ trung đại thì hoạt động đọc- hiểu văn bản sẽ đi theo bố cục nội
dung cảnh và tình được phản ánh và biểu hiện trong văn bản. Các văn bản
Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể đọc
hiểu văn bản theo hướng này. Ví dụ, bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
gồm hai nội dung đó là vẻ đẹp thiên nhiên cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn
Nguyễn Trãi. Hay bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gồm hai nội


22
dung cần tìm hiểu đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm và vẻ đẹp nhân
cách trí tuệ của tác giả. Với bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương,cũng có
thể phân tích theo hình ảnh câc nhân vật, gồm: hình ảnh bà Tú và hình ảnh
nhân vật trữ tình (tức ông Tú).
Có thể nói, trong công việc dạy học, phương pháp tiếp cận có vai
trò rất quan trọng. Nó giúp người giáo viên đưa kiến thức đến gần học
sinh, để các em tiếp nhận một cách dễ dàng nhất và nhờ đó các em có
thể hiểu sâu, nhớ lâu bài học. Đối với môn Ngữ văn, đối tượng tiếp cận
là văn bản nghệ thuật, để đưa tác phẩm văn học đến gần HS cần có
phương pháp đặc thù. Với những phương pháp trình bày trên đây,
chúng tôi hy vọng có thể giúp HS cảm nhận tác phẩm thơ Đường luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status