1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LƯU
DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
VINH - 2011
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LƯU
DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VĂN VÀ TIẾNG VIỆT
Mã số: 60.14.10
hướng, loại hình khác nhau. Các văn bản này có đặc thù riêng, không thể rập
khuôn cùng một phương pháp dạy - học như nhau. Vì vậy việc dạy đọc - hiểu
truyện ngắn được sự quan tâm của nhiều nhà giáo học pháp lẫn giáo viên trực
tiếp giảng dạy ở trường phổ thông.
1.3. Phần đông cả giáo viên và học sinh đều gặp những khó khăn nhất
định khi tìm hiểu các văn bản này. Khó khăn đó xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, có thể kể đến như sự thiếu hụt tri thức về lí thuyết thể loại, tri thức về
phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản truyện ngắn... Việc đưa ra những định
hướng về phương pháp dạy các văn bản truyện ngắn một cách hiệu quả thì
vẫn đang là một vấn đề đặt ra nhiều thách thức. Tìm hiểu phương pháp dạy
5
văn bản truyện ngắn sẽ giúp cho việc dạy đọc - hiểu loại văn bản này nói
riêng, giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông nói chung, đạt hiệu quả tốt hơn.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề Dạy
đọc - hiểu văn bản truyện ngắn hiện đại trong chương trình Ngữ văn
THPT theo đặc trưng thể loại làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua sơ bộ tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học văn bản
truyện ngắn trong nhà trường phổ thông, chúng tôi thấy đã có một số công
trình, bài viết sau đây.
Công trình đầu tiên phải kể đến là cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo loại thể của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Đàm Gia Cẩn, Huỳnh
Lý, Hoàng Như Mai. Công trình này đã giới thiệu một số kiến thức cơ bản
nhất về loại thể văn học chủ yếu có liên quan đến chương trình văn học ở bậc
THPT, nhất là phần văn học Việt Nam. Cụ thể hơn các tác giả còn giới thiệu
phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tác phẩm
trong chương trình văn học và kết hợp phân tích một số bài tiêu biểu thuộc
các loại thể khác nhau. Có thể nói, đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên
theo loại thể [13, 164- 169 - 174].
Công trình thứ hai là cuốn Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả
Phan Trọng Luận (chủ biên), Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế
Phiệt (1988). Công trình này được các trường Đại học Sư phạm sử dụng làm
giáo trình và nó cũng đóng vai trò mở đường cho các công trình nghiên cứu về
phương pháp dạy học văn. Trong cuốn sách, các tác giả đã trình bày những vấn
đề lí luận chung về bộ môn, khoa học về phương pháp dạy hoc văn và phương
pháp dạy học bộ môn. Có thể nói đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách
tổng thể, toàn diện về phương pháp dạy học văn. Tác giả đã dành một thời lượng
lớn, trình bày khá chi tiết về phương pháp dạy học bộ môn như dạy văn học sử,
dạy học làm văn, dạy học lí luận văn học… Tuy nhiên phần phương pháp dạy
học văn bản truyện ngắn tác giả chưa đề cập đến. Hơn nữa, cuốn sách ra đời
cách đây khá lâu, chương trình phổ thông đã trải qua nhiều lần cải cách, chỉnh lí,
do đó phần nào nó chưa bám sát được thực tế chương trình.
7
Năm 2005, trong công trình Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương (theo loại thể), tác giả Nguyễn Viết Chữ đã trình bày các phương
pháp, biện pháp, các cách thức chiến thuật để dạy các tác phẩm văn chương
theo loại thể. Ở chương I của phần II, phương pháp và biện pháp dạy học tác
phẩm văn chương theo loại thể, tác giả đã trình bày một số phương pháp dạy
học thể loại truyện ngắn. Theo tác giả: "Vấn đề cơ bản của truyện ngắn là tình
huống của nó. Dù là trữ tình hay tự sự thì cũng phải quan tâm tới tình huống
của nó… Với những truyện ngắn tự sự, biết được thi pháp tác giả có thể theo
bước tác giả, theo nhân vật… để tìm ra tư tưởng chủ đề… Những đoạn văn
trữ tình hay, nếu cần thiết phải thuộc bằng biện pháp tích cực qua đọc diễn
cảm kết hợp giảng với bình’’ [11, 125-126]. Ở công trình này tác giả đã đưa
ra những biện pháp cụ thể, phần nào định hướng cho người giáo viên các
bước tiến hành phân tích, khám phá một tác phẩm: ‘‘Tránh những quy trình
trình Thiết kế bài giảng Ngữ văn, tác giả Nguyễn Văn Đường đã chỉ ra các
bước để khám phá, phân tích các tác phẩm. Tuy nhiên tất cả những công
trình này đều mới chỉ dừng lại ở việc khám phá, phân tích một tác phẩm
cụ thể chứ chưa đưa ra được phương pháp chung nhất cho loại văn bản
truyện ngắn nói chung.
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn bản truyện
ngắn và những công trình này đều có những đóng góp vào việc dạy đọc
hiểu văn bản truyện ngắn. Tuy nhiên, nó mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra
những phương pháp dạy một văn bản cụ thể. Việc đưa ra những định
hướng chung về mặt phương pháp để dạy học văn bản truyện ngắn vẫn
chưa được đề cập đến.
Như vậy, lịch sử nghiên cứu của đề tài Dạy đọc - hiểu văn bản truyện
ngắn hiện đại trong chương trình ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại còn
khá mới mẻ. Vì thế, đây vẫn đang là một vấn đề khoa học cần được tiếp tục
tìm hiểu, nghiên cứu thêm.
3. Đối tượng và phạm vi tài liệu khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nguyên tắc và phương pháp
dạy đọc - hiểu văn bản truyện ngắn hiện đại trong chương trình Ngữ văn
THPT theo đặc trưng thể loại
10
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi khảo sát các văn bản truyện ngắn
hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT (chương trình chuẩn, chương
trình nâng cao) và có sự so sánh đối chiếu với chương trình Ngữ văn THCS.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Giới thuyết khái niệm truyện ngắn và đặc điểm của hệ thống văn bản
1.1. Giới thuyết về truyện ngắn
1.1.1. Khái niệm truyện ngắn
Khái niệm truyện ngắn (tiếng Anh: Short Story, tiếng Pháp: Nouvelle,
tiếng Nga: Hoberra) đã có mặt trong nhiều từ điển chuyên ngành cũng như
các công trình nghiên cứu lí luận văn học.
Để hiểu khái niệm truyện ngắn, trước hết chúng ta cần phân biệt các khái
niệm “chuyện”, “truyện” và “truyện ngắn”. “Chuyện” thường dùng trong
trường hợp câu chuyện hay kể chuyện hàm ý bằng lời, có tính chất truyền
khẩu, chuyện kể theo kí ức của trí nhớ, bỏ qua yếu tố trần thuật. “Truyện”
dùng để chỉ một thể loại văn học, có cốt truyện, người trần thuật, có hư cấu,
bịa đặt… Tuy nhiên hạn chế của khái niệm “truyện” là chưa chỉ ra được văn
bản đó ngắn hay dài, được viết bằng văn vần hay văn xuôi… Điều này đã dẫn
đến sự ra đời của các khái niệm truyện ngắn, truyện vừa, truyện thơ, truyện
nôm… “Truyện ngắn” là một thể loại văn học, ra đời tương đối muộn và xung
quanh khái niệm này đang còn có nhiều định nghĩa khác nhau. Sau đây,
chúng tôi sẽ trình bày một số định nghĩa về truyện ngắn tiêu biểu.
Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa về truyện ngắn như sau: “Tác
phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các
phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó
là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi
không nghỉ… Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian,
không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu
sắc về cuộc đời, tình người. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều
tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc
12
liên tưởng. Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Yếu tố
quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng
lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa
Cốt truyện của truyện ngắn thường giới hạn trong một không gian, thời gian
nhất định. Nhân vật của truyện ngắn thường chỉ là hiện thân cho một trạng
thái quan hệ xã hội. Kết cấu truyện ngắn thường không nhiều tầng tuyến mà
xây dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng.
1.1.2. Đặc trưng thể loại của truyện ngắn
Đến nay, việc xác định đặc trưng của truyện ngắn vẫn đang còn nhiều ý
kiến khác nhau. Nhưng nhìn chung, nhiều tác giả đều khá thống nhất trong
việc chỉ ra các đặc trưng của truyện ngắn như: Cốt truyện, nhân vật, kết cấu,
chi tiết, bút pháp trần thuật, giọng điệu… Những yếu tố này sẽ tạo nên sự
khác biệt của truyện ngắn với tiểu thuyết. Nếu tiểu thuyết là thể loại chiếm
lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó thì truyện ngắn
hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ
nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Truyện ngắn có ít nhân vật, ít sự
kiện phức tạp. Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân
vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ thế giới ấy. Truyện ngắn thường không
nhắm tới khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương
quan với hoàn cảnh. Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một
trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người.
Trong Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể, tác giả Trần Thanh
Đạm nhấn mạnh: “Đã là truyện thì phải có câu chuyện, tức là có tình tiết.
Tình tiết là dấu hiệu đặc trưng đầu tiên của truyện… đã là truyện thì phải
có nhân vật. Dù ở trạng thái này hay trạng thái khác, sự tồn tại và hoạt
động của nhân vật giữa hệ thống các sự việc, các biến cố cuẩ cốt truyện là
đặc trưng cơ bản thứ hai của truyện… đã là truyện thì phải có lời kể. Lời kể
của tác giả hay của người kể chuyện như là cái nền ngôn ngữ trên đố dệt
nên hình tượng của tác phẩm tự sự, đồng thời cũng là nơi bộc lộ tư tưởng,
tình cảm, cá tính,phong cách của nhà văn, đó là đặc trưng cơ bản thứ ba của
truyện” [13, 164-169-174]. Như vậy theo tác giả, truyện ngắn có 3 đặc trưng
15
theo một chiều mà từ hiện tại quay về quá khứ rồi từ quá khứ quay trở về
hiện tại. Vào đầu truyện Nam Cao xây dựng hình ảnh Chí Phèo say rượu,
vừa đi, vừa chửi. Sau khi ra tù Chí Phèo suốt ngày chìm đắm trong cơn say,
chửi bới, cướp bóc, rạch mặt ăn vạ… Từ đó tác giả ngược dòng thời gian
đưa người đọc trở về quá khứ tìm hiểu cuộc đời trước đây của Chí. Quá
khứ của hắn là một đứa trẻ bất hạnh bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ bỏ
không, sau đó nhờ người làng nuôi, hắn lớn lên trở thành người canh điền
khỏe mạnh, chăm chỉ, lương thiện. Nhưng chính Bá Kiến cùng nhà tù thực
dân đã biến hắn thành một con người hoàn toàn khác. Tiếp đó tác giả lại
tiếp tục kể về cuộc đời hiện tại của Chí - làm tay sai cho Bá Kiến, con quỷ
dữ của làng Vũ Đại.
Cốt truyện có vai trò rất quan trọng trong sáng tạo truyện ngắn. Nhà
văn Anh Môôm khẳng định: “Nhà văn sống bằng cốt truyện y như hoạ sĩ
sống bằng màu và bút vẽ vậy”. Trong cuốn Tìm hiểu truyện ngắn, Trần
Thanh Địch đã viết: “Còn gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó thì
cả nền lí luận nghệ thuật sẽ còn ra gì nữa? Nếu cốt truyện không dùng được
thì tài năng ta cũng sẽ lãng phí vô ích. Và chính vì nghệ sĩ hiện nay không
có những cốt truyện xứng đáng nên tình hình nghệ thuật hiện đại mới bi đát
như thế” [14, 16].
Trong cốt truyện, đoạn kết đóng vai trò quan trọng. Nó được coi như là “cú
đấm nghệ thuật” tạo ấn tượng duy nhất và mạnh mẽ đến người đọc. Quan sát
truyện ngắn hiện đại chúng ta thấy có một số kiểu kết thúc như bằng cái chết của
nhân vật chính trong sáng tác của Nam Cao, bằng tiếng cười trong truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan, kết thúc bỏ lửng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu… Truyện ngắn Tinh thần thể dục kết thúc bằng cảnh săn lùng, áp giải
người đi xem bóng đá và những câu nói văng tục của Lí trưởng: “ Đoạn ông lo
lắng, đi cuối cùng, mắt nhanh nhẹn để coi cẩn thận như coi tù binh.
khắc cuộc sống với một vài sự việc diễn biến sơ sài và cũng bình thường thôi,
nhưng bắt buộc con người ở vào một tình hoặc có thể dồn dập thế phải bộc lộ ra
cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi đó là cái
khoảnh khắc chứa cả một đời người, một đời nhân loại” [10, 258-260].
17
Cũng bàn về tình huống, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “ Truyện
ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ
thuật điểm huyệt. Trên cơ thể con người, cũng như trên cơ thể cuộc đời, có
những huyệt điểm nào đó, có thể làm rung động tất cả. Truyện ngắn nhằm vào
đó. Truyện ngắn điểm huyệt thể hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình
huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt
cuộc sống hàng ngày. Nhìn chung, mỗi truyện ngắn bao giờ cũng được xây
dựng trên một tình huống, khai thác tình huống ấy” [Dẫn theo 47,114].
Trong thể loại truyện ngắn, dựa trên những tiêu chí khác nhau người ta
có thể chia ra nhiều loại tình huống khác nhau. Nhà văn Nguyên Ngọc chia
tình huống ra làm hai loại: tình huống lớn và tình huống nhỏ. Tác giả Bùi Việt
Thắng trong Truyện ngắn, những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại chia
tình huống thành ba kiểu: tình huống kịch, tình huống tâm trạng và tình huống
tượng trưng. Tình huống kịch là những tình huống bao hàm các xung đột đời
sống mang tính kịch cao, trong đó sự va chạm giữa các nhân vật trở nên gay
gắt và dồn nến trong một thời gian, không gian và hành động theo quy tắc tam
nhất của kịch. Nhà văn Nguyễn Công Hoan tỏ ra sắc sảo nhạy bén khi phát
hiện ra những tình huống hài hước trớ trêu trong cuộc sống. Truyện ngắn
Tinh thần thể dục của ông rất thành công ở việc xây dựng tình huống kịch.
Mở đầu câu chuyện là sự việc đầy hài hước, đó là tờ trát của quan trên yêu
cầu Lí trưởng làng Ngũ Vọng phải dẫn đủ 100 người đi xem bóng đá. Từ sự
việc này dẫn đến những cảnh đối phó dở khóc, dở cười của người dân, mỗi
người một cách nhưng đều cùng một mục đích là không phải đi xem bóng đá.
quốc”. Cái giá và chân dung vị hoàng đế cứ thấp dần, kém dần trong câu
chuyện của hai người Pháp ấy: họ được nhìn hoàng đế mà không phải mất
tiền như xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, trò leo trèo nhào lộn của sư thánh
xứ Công gô; hơn thế Khải Định còn giống một con rối trên sân khấu nhà hát
của họ. Sáng tạo tình huống truyện là mối quan tâm hàng đầu của những nhà
văn viết truyện ngắn. Dụng ý tạo tình huống nhầm lẫn oái ăm, buồn cười mà
vẫn rất có lí lại đạt hiệu quả châm biếm sâu cay, kín đáo là thành công xuất
sắc của Vi hành.
19
Có thể nói, trong truyện ngắn hiện đại tình huống truyện giữ vai trò hết
sức quan trọng. Những truyện ngắn hay, đặc sắc thường có tình huống độc
đáo, hấp dẫn. Truyện ngắn Việt Nam đạt được thành công về nội dung và
nghệ thuật một cách rực rỡ trước hết là vì các nhà văn đã sáng tạo ra nhiều
kiểu tình huống tiêu biểu.
1.1.2.3. Nhân vật
Cốt truyện, tình huống làm nên đặc trưng của truyện ngắn nhưng trung
tâm của nó lại là con người, là nhân vật. Nhân vật là con người được miêu tả
trong tác phẩm thông qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và chi tiết. Đó là
mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật
kia. Cho nên nhân vật luôn luôn gắn lền với cốt truyện. Nhờ được miêu tả qua
xung đột, mâu thuẫn nên khác với hình tượng hội hoạ, điêu khắc, nhân vật
văn học là một chỉnh thể vận động có tính cách, được bộc lộ dần trong không
gian, thời gian mang tính quá trình. Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm
nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế nhân vật
luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm.
Nếu mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật trong
truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Truyện ngắn thường không
nhắm tới khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương
bao hủ tục lạc hậu đã đóng cánh cửa trở về của Chí. Tia hi vọng vừa loé lên
đã vụt tắt, hắn lại phải tiếp tục sống cuộc đời quỷ dữ. Nhưng khi ý thức đã trở
về không cho phép sống như thế nữa, hắn đành phải tìm đến cái chết. Từ số
phận, cuộc đời của Chí Phèo, Nam Cao đặt ra một dự cảm về con đường giải
phóng cho người nông dân. Chi tiết kết thúc truyện, Thị Nở nhìn nhanh xuống
bụng và nhìn ra cái lò gạch bỏ không đã để lại cho người đọc nhiều suy nghĩ.
Phải chăng lại có một chí Phèo con nữa sắp ra đời. Qua đó Nam Cao lên tiếng
đòi phải thay đổi xã hội, nếu không cái vòng luẩn quẩn từ Năm Thọ, Binh
Chức, Chí Phèo, Chí Phèo con sẽ không bao giờ chấm dứt. Tiếng kêu đòi
hướng thiện của Chí Phèo trước lúc chết: “ Tao muốn làm người lương thiện.
Ai cho tao làm người lương thiện. Không, làm thế nào cho mất dược vết
21
mảnh chai trên mặt này…” sẽ còn ám ảnh mãi trong lòng người đọc, đặt ra
yêu cầu cần phải thay đổi.
Nếu trào lưu hiện thực chủ yếu khắc hoạ tính cách nhân vật thì trào lưu
lãng mạn thường đi vào thế giới nội tâm, khám phá những xúc cảm, những
rung động tinh tế trong tâm hồn con người. Ta có thể thấy rõ điều đó qua
truyện ngắn Thạch Lam. Trong truyện ngắn Thạch Lam, người đọc không
thấy hình bóng “nghệ sĩ đao phủ” khua đường dao ngọt như chặt một khúc
chuối xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Tuân và cũng không thấy kiểu
nhân vật “nửa tây nửa ta” trong sáng tác Vũ Trọng Phụng. Nhân vật của
Thạch Lam nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng hơn cả đó là “những nhân vật thật và
hoạt động, ngoài những tính cách và đặc điểm địa vị xã hội, tìm đến những bí
mật không tả nổi ở trong mỗi con người” (Văn Giá). Nhân vật của ông được
sản sinh từ giọt nước mắt mủi lòng của một cậu bé chứng kiến những đứa bạn
cùng lứa đang từng khắc chống lại cái đói, cái rét mà động lòng sẻ áo trong
Gió lạnh đầu mùa; hay là những xót thương của người nghèo đối với kẻ
nghèo trong Hai đứa trẻ. Một trong những điều làm nên thành công của
ở chỗ tự nhiên, nhuần nhị, sinh động và truyền cảm.
Truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một tác phẩm trong đó lời kể
của tác giả đạt đến trình độ nghệ thuật cao. Tô Hoài kể tự nhiên, giản dị, sinh
động, thấm thía, nhiều chỗ thấm đượm chất thơ. Ngay đoạn văn mở đầu tác
giả đã giới thiệu được hoàn cảnh và nhân vật: "Ai ở xa về có dịp vào nhà
thống lí Pa Tra, sẽ trông thấy một cô gái ngồi bên tảng đá cạnh tàu ngựa…”.
Những lời kể nặng trĩu chất sống, kết tinh những nhận xét, suy nghĩ, cảm xúc
của nhà văn, không có vốn sống dồi dào không thể viết được. Nghệ thuật kể
chuyện là ở chỗ biết chọn lọc và sắp xếp. Người kể chuyện khéo thì biết dừng
lại ở chỗ nào, lướt qua chỗ nào, cái nào nói trước, cái gì nói sau sao cho nói rõ
được ỹ nghĩa của sự việc. Các nhà văn hiện thực thường sử dụng giọng điệu
trần thuật khách quan. Giọng văn Nam Cao trong Chí phèo lạnh lùng, suồng
sã, đay nghiến, ông cố gắng đóng cũi sắt tình cảm của mình: "Hắn vừa đi vừa
chửi, bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Ban đầu hắn chửi trời. Có
hề gì? Trời có của riêng nhà nào ? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao, đời
là tất cả nhưng chẳng là a”.
23
Văn học lãng mạn thường mang giọng trữ tình. Giọng văn Thạch Lam
là những lời tâm sự thủ thỉ, nhẹ nhàng, man mác: "Chiều, chiều rồi. Một
chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài ruộng theo gió
nhẹ đưa vào” Hay "Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và
thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng tối" [25,
94 - 96]. Lời kể của truyện là sợi tơ dệt nên tình tiết và nhân vật, dệt nên toàn
bộ hình tượng. Sự phân tích lời kể do đó gắn chặt với việc phân tích tình tiết
và nhân vật, cùng làm nên cái sức sống của truyện ngắn như là tác phẩm có
một phương thức kết cấu đặc biệt theo loại thể. Nói tóm lại, đã là truyện thì
phải có lời kể. Lời kể của tác giả hay người kể chuyện như là cái nền ngôn
ngữ trên đó dệt nên hình tượng của tác phẩm tự sự đồng thời cũng là nơi bộc
dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra truyện mới vừa mang đậm sắc
thái dân tộc, vừa phản ánh được hiện thực đương thời. Thành tựu nổi bật ở
thời kì này phải kể đến hai tác phẩm, một của Lê Thánh Tông do người đời
sau sưu tầm: Thánh Tông di thảo, một của Nguyễn Dữ - tác phẩm được mệnh
danh là “thiên cổ kì bút”: Truyền kì mạn lục. [35, 24]. Hình thức ban sơ của
truyện ngắn chính là “truyền kì”. Truyền kì là một thứ “truyện thần thoại có
tác giả”, cốt truyện của nó có thể lưu truyền trong dân gian được các nhà văn
sử dụng, gọt giũa, nâng cao thành tác phẩm văn học. Truyện ngắn trung đại
Việt Nam mang nội dung và ảnh hưởng của lối kể chuyện dân gian. Thời kì
đầu chịu ảnh hưởng của lối văn tự sự trong các bộ sử. Truyện ngắn trung đại
có lối kể chuyện chính xác, khách quan, không bình luận, lời văn ngắn gọn,
tinh giản. Lối văn chép sử cũng như lối kể chuyện dân gian chưa cho phép tác
giả dừng lại, đi sâu vận dụng miêu tả tinh tế tâm trạng con người hoặc lối độc
thoại nội tâm phức tạp như trong văn xuôi hiện đại. Do kế thừa văn học dân
gian nên truyện đang nhiều yếu tố ước lệ tượng trưng…
Trong loại hình truyện ngắn hiện đại, căn cứ vào thái độ chính trị và
khuynh hướng thẩm mĩ người ta chia truyện ngắn thành ba loại: truyện
ngắn lãng mạn, truyện ngắn hiện thực, truyện ngắn cách mạng. Mỗi loại
hình có những đặc điểm riêng về đề tài, cách xây dựng nhân vật… Chúng
tôi sẽ nói kĩ hơn vấn đề này ở chương 2.
25
1.2. Đặc điểm hệ thống văn bản truyện ngắn hiện đại trong chương
trình Ngữ văn THPT
1.2.1. Khái lược đặc điểm chương trình Ngữ văn THPT
Chương trình Ngữ văn THPT gồm có hai bộ sách: chương trình chuẩn
hay cơ bản dành cho ban khoa học tự nhiên và các lớp không chuyên; chương
trình nâng cao dành cho học sinh có khuynh hướng đi vào khoa học xã hộinhân văn. Song về cơ bản cả hai chương trình này đều thống nhất với nhau,
dựa vào nhau. Sách giáo khoa Ngữ văn được biên soạn theo hướng tích hợp