MÔI TRƯỜNG VÀ BỆNH THỦY SẢN
1
ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÁC AO NUÔI TÔM
Nguyễn Thị Ngọc Thanh1, Ngô Thị Tường Châu2
1
Viện Công nghệ Sinh học & Môi trường – Trường Đại học Nha Trang
2
Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học Huế
Ô nhiễm môi trường nước trong các ao nuôi ở đầm phá ven biển miền Trung
hiện nay đang ở tình trạng báo động và là mối quan tâm của các nhà Khoa học, nhà
Sản xuất, nhà Quản lý môi trường. Phương pháp sinh học, cụ thể là sử dụng chế phẩm
vi sinh được lựa chọn để xử lý loại nước thải này. Nghiên cứu đã tiến hành phân lập và
tuyển chọn được một số chủng vi khuẩn có khả năng phân giải protein, tinh bột và
cenlulo cao từ bùn đáy và nước thải từ các ao nuôi tôm. Các chủng vi khuẩn có hoạt
tính phân giải chất hữu cơ cao được chọn nhân giống và thu sinh khối rồi phối trộn với
bùn tự nhiên (bùn lấy từ đáy ao nuôi) theo tỷ lệ nhất định tạo thành bùn hoạt tính dùng
để xử lý nước thải từ các ao nuôi tôm. Thí nghiệm khảo sát khả năng xử lý các chất
hữu cơ của vi khuẩn được bố trí làm 9 lô với 1 lô đối chứng (không bổ sung bùn hoạt
tính), 8 lô còn lại được bổ sung bùn hoạt tính (bùn tự nhiên + sinh khối vi khuẩn theo
các tỷ lệ khác nhau) trong đó 4 lô có sục khí và 4 lô không sục khí. Kết quả khảo sát
bước đầu cho thấy việc bổ sung bùn hoạt tính cho hiệu quả xử lý tốt trong điều kiện có
sục khí. Lô số 9 với tỷ lệ bổ sung các chủng Pr:Tb:C là 8:4:1 cho hiệu quả cao nhất với
hiệu suất loại BOD5 là 53,4%; NH4+-N là 99,7% và loại hoàn toàn PO43—P.
2
Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang
Email: [email protected]; [email protected]
Phương pháp phân tích sử dụng máy sắc ký lỏng cao áp là phương pháp hiện
đại, độ nhạy cao, có khả năng phân tích hàm lượng chất rất nhỏ có trong môi trường.
Xây dựng quy trình phân tích độc tố aflatoxin trong thức ăn nuôi trồng thủy sản nhằm
đánh giá sự hình thành và mức độ tích lũy độc tố. Do đó, nghiên cứu “ứng dụng sắc ký
lỏng cao áp (HPLC) phân tích độc tố aflatoxin trong thức ăn thủy sản” được thực hiện
sẽ giúp cho việc phân tích độc tố aflatoxin trong đối tượng thức ăn, đánh giá mức độ
tích lũy độc tố theo thời gian cũng như nghiên cứu điều kiện môi trường thích hợp cho
sự hình thành aflatoxin. Aflatoxin B1 chuẩn gốc (có nồng độ chuẩn ban đầu của AFB1
là 10,1µg/kg) được bổ sung vào nguồn thức ăn nuôi trồng thủy sản với thể tích là 20µl
ở một số thời điểm tiến hành phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất thu hồi
độc tố aflatoxin ở các thời điểm tiến hành phân tích đạt mức cao là 86.27% và 82,79%.
Kết quả thể hiện độ tin cậy của quy trình phân tích tương đối cao và có thể áp dụng để
phân tích độc tố aflatoxin trong trong thức ăn nuôi trồng thủy sản và sản phẩm nông
sản khác.
Từ khóa: sắc ký, HPLC, aflatoxin B1, thức ăn thủy sản
SO SÁNH HIỆU QUẢ LỌC SINH HỌC CỦA RONG NHO (CAULERPA
SERATA) VÀ LỌC VI SINH TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN ƯƠNG NUÔI
ẤU TRÙNG TÔM HARLEQUIN (HYMENOCERA PICTA DANA, 1852)
Phạm Trung Hiếu
Khoa nuôi trồng thủy sản, Đại Học Nha Trang
Để so sánh hiệu quả của rong biển và vi sinh vật về khả năng làm sạch chất thải
nito trong hệ thống nuôi khép kín, rong Nho Caulerpa serrata và lọc vi sinh ngập
4
nước (submerged biofilter) đã được sử dụng với vai trò lọc sinh học trong hệ thống
tuần hoàn ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển Hymenocera picta (Dana, 1852).
nguồn lợi rong mơ đòi hỏi phải tiến hành các nghiên cứu, làm cơ sở dữ liệu cho các đề
án bảo tồn và phát triển nguồn lợi này. Rong mơ S. polycystum chiếm tỷ lệ sinh lượng
cao trong các khu hệ rong, có chất lượng tốt, và là
đối tượng rong biển kinh tế. Trên
cơ sở đó, đề tài “Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học và quan sát cơ quan sinh sản
của rong mơ ( Sargassum polycystum C.A.Agardh, 1824) tại vùng triều Bảo ĐạiNha Trang” được thực hiện với các nội dung: Tìm hiểu đặc điểm phân bố, đặc điểm
sinh trưởng, và quan sát cơ quan sinh sản của rong mơ S. polycystum tại vùng triều
Bảo Đại-Nha Trang.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phương pháp trực quan; phương
pháp sinh vật chỉ thị; phương pháp chiều dài, khối lượng dùng trong nghiên cứu đặc
điểm sinh trưởng; phương pháp cắt cúp tiêu bản tế bào; và quan sát dưới kính hiển vi.
Số liệu được thống kê và xử lý trên phần mềm SPSS 15.0.
Kết quả thu được sau quá trình nghiên cứu cho thấy:
S. polycystum phân bố ở trung triều cho đến giới hạn trên của hạ triều. Chúng
mọc trên nền đáy cứng là các đá tảng, sinh trưởng trong vực nước có nhiệt độ và độ
mặn tương đối cao (nhiệt độ: 29,3 ± 2,23°C và độ mặn 34 ± 1,1ppt).
Trong thời gian nghiên cứu, S. polycystum sinh trưởng nhanh từ giữa tháng 3
đến giữa tháng 5 thì dừng lại. Tốc độ tăng trưởng của S. polycystum không đều trong
quá trình phát triển. Giữa khối lượng và chiều dài cơ thể có sự tương quan chặt chẽ
theo chiều thuận (hệ số tương quan R=0.948).
6
S. polycystum bước vào mùa sinh sản từ khoảng cuối tháng 3 cho đến cuối
tháng 5. S. polycystum là loài thuộc nhóm cây khác gốc. Đế đực dạng trụ tròn, chia
nhánh hoặc không, dài 14 mm, đường kính 1 mm. Đế cái dẹp hoặc có dạng tam lăng,
dài 4 mm, đường kính 1 mm, chia nhánh. Cấu tạo trong đế đực gồm các ổ sinh sản
hình tứ diện, bên trong chứa các giao tử phòng đực sinh giao tử đực. Đế cái gồm các ổ
trồng thủy sản. Nghiên cứu của tác giả có mục đích làm sang tỏ ảnh hưởng của chủng
loại và độ mặn lên sinh trưởng của nấm men S.cerevisiae. Trong thí nghiệm này hai
chủng nấm men WT (dạng tự nhiên) và Mnn9 (gây đột biến gen dẫn đến ức chế quá
trình kéo dài chuỗi mannose và đồng thời tăng hàm lượng beta glucan) được nuôi cấy
trong môi trường đầy đủ gồm có đường D-glucose, peptone và cao nấm men (YEPD)
với 2 mức độ mặn là 0‰ và 35‰. Kết quả thí nghiệm cho thấy Mnn9 và WT đều đạt
đến giai đoạn sinh trưởng nhanh sau 24 giờ nuôi cấy và chủng Mnn9 đạt sinh trưởng
cực đại sau 33 giờ còn WT thì chỉ sau 28 giờ, rồi sau đó đi vào giai đoạn sinh trưởng
ổn định đối với nghiệm thức độ mặn 0‰. Còn trong môi trường có độ mặn 35‰, WT
và Mnn9 đều sinh trưởng chậm hơn 14 giờ so với môi trường nước ngọt. Trong đó,
Mnn9 có thể đạt sinh trưởng cực đại sau 43 giờ và sau 42 giờ đôi với WT. Sinh khối
của Mnn9 trong môi trường nước biển cao hơn 10 lần so với nước ngọt. Trong nghiên
cứu này, tương quan giữa mật độ và trọng lượng khô của các chủng nấm men ở các độ
mặn khác nhau cũng được thiết lập.
8
NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG HỢP CHẤT CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN
(LÁ TRẦU KHÔNG (PIPER BETLE L.)) ĐỂ PHÒNG TRỊ BỆNH VI KHUẨN
TRÊN ĐỘNG VẬT THỦY SẢN
Nguyễn Nam Quang , Nguyễn Ngọc Phước,
Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đức Quỳnh Anh
Khoa Thủy sản, đại học Nông Lâm Huế
Email: [email protected]
Bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước đã thu được hàm lượng tinh
dầu trong ba loại lá trầu từ 1,70-1,88%. Kết quả phân tích hàm lượng các hoạt chất
trong tinh dầu trầu sa lẹt bằng phương pháp sắc ký khí cho kết quả là: α-Cadinen:
14,1%; β-Caryophylen: 1,4%; Eugenol: 45,7%; Chavicol: 0,2%; Estragol: vết và
Benzoic acid 2,4-dimethyl: 36,6%. Hàm lượng các hoạt chất trong tinh dầu lá trầu
300ppm, 500ppm; Formol: 100 ppm, 150 ppm, 200 ppm; CuSO4: 3ppm, 5ppm,
7ppm; Xanhmethylen: 3ppm, 5ppm, 7ppm và nước muối: 20‰, 30‰, 40‰. Liều
gây chết 50% (LC50) của các chất kháng khuẩn đối với cá chình giống và nồng độ
dùng trong thí nghiệm: Bokashi trầu 901 ppm; Formol, 511 ppm; CuSO4, 106 ppm;
Xanhmethylen, 154ppm và nước muối 49‰. Đối với trùng bánh xe (Trichodina)
nồng độ Bokashi tăng từ 200 – 500ppm sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm 35 xuống 12% và
cường độ nhiễm giảm từ 8,2 ± 0,4 xuống 1,2 ± 0,8 trùng/vi trường; Formol có tác
dụng tương tự từ 100 – 200 ppm, giảm từ 14 đến 0 và 9,3 ± 0,5 đến 0; CuSO4 3 đến
7 ppm có tác dụng giảm từ 23 đến 12% và 7,9 ± 0,6 đến 1 ± 0,0; Xanhmêthylen với
liều 3 – 7ppm sẽ có tác dụng giảm từ 9 xuống 1% và 2,3 ± 0,9 xuống 1,0 ± 0,0;
nước muối từ 20 – 49% có tác dụng 31 – 13% và giảm từ 7,8 ± 1,6 xuống 2,2 ± 0,2.
Tương tự với trùng quả dưa (Ichthyophthyrius), kết quả cho thấy các liều như trên
Formol là kháng chất có tác dụng tốt, còn đối với sán 16 móc (Dactylogyrus), hầu
như cả 5 loại kháng chất đều không có tác dụng mà có duy nhất với 2 loại thuốc
giun sán Albendazole và Dipterex là có tác dụng, còn 5 loại trên đều gây ra tỷ lệ cá
chết cao nếu tăng nồng độ xử lý trên ngưỡng đã xác định nồng độ thử nghiệm.
10
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT TINH DẦU, SỰ THÍCH ỨNG CỦA
VI KHUẨN LACLOBACILLUS TRONG MÔI TRƯỜNG DỊCH CHIẾT
VÀ TINH DẦU LÁ TRẦU
Nguyễn Thị Bích Đào
Sinh viên khóa 41 Ngư y – Khoa Thủy sản,
Trường đại học Nông Lâm Huế
Bokashi trầu được sản xuất bởi Dự án SXTN cấp NN độc lập 2009-2010 tại
Khoa Thủy sản, Trường đại học Nông Lâm Huế, bước đầu sử dụng rộng rãi và cho kết
quả tốt trong việc phòng trị các bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng gây ra cho động vật
thủy sản. Việc xác định vai trò của nhóm vi sinh vật Lactobacillus trong môi trường
tổng sản lượng khai thác ước tính hơn 35.000.000 m3 /1 năm. Trong số hàng trăm bến
bãi, địa điểm khai thác cát, sạn trái phép thì khu vực thượng nguồn sông Hương thuộc
xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy có quy mô lớn nhất (chiếm gần 50% sản lượng).
Thời gian hoạt động cao điểm vào mùa xây dựng tháng 4 đến tháng 7. Hoạt động khai
thác diển ra ồ ạt, thiếu kiểm soát ở vùng thượng nguồn sông Hương đã dẫn đến các tác
động tiêu cực đến dòng sông hương:
1) Việc khai thác cát, sạn đã làm đổi dòng chảy của sông, là một trong những
nguyên nhân chính làm sạt lỡ nhiều vùng bờ sông từ 5 - 10m, gần 40 căn nhà dân và
đe doạ nhiều ha đất nông nghiệp va một số đền, đài, thành quách ven sông đã được
UNESCO công nhận di tích lịch sử văn hóa.
2) Một lượng dầu lớn bắt nguồn từ các động cơ khai thác phóng thích vào môi
trường nước sông Hương, ngăn cản quá trình trao đổi khí của nước từ đó làm giảm
chất lượng nước, đe doạ trực tiếp đến đời sống thuỷ sinh vật.
3) Khai thác cát bằng máy hút sẽ cày xới nền đáy, tạo nên sự xáo trộn mạnh các
tầng nước, tăng độ đục, phá huỷ môi trường sống, nơi sinh sống của nhóm sinh vật đặc
12
hữu có tính năng duy trì sự trong sạch của sông Hương là các loài rong, động vật 2
mảnh vỏ.
TÌNH HÌNH DI NHẬP VÀ PHÁT TÁN RÙA TAI ĐỎ (TRACHEMYS
SCRIPTA ELEGANS) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Phạm Thị Tuyết Mai, Lê Công Tuấn,
Phạm Anh Quốc, Phan Hữu Hợp
Khoa Thủy Sản, Trường đại học Nông Lâm Huế,
102 Phùng Hưng thành phố Huế.
Nghiên cứu sự di nhập và phát tán của rùa tai đỏ ở tỉnh Thừa Thiên Huế được
thực hiện trong năm 2011, kết quả đề tài cho thấy: Rùa tai đỏ được di nhập từ thành
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VIRUS GÂY HỘI CHỨNG ĐỐM TRẮNG
(WSSV) TRÊN TÔM CÀNG XANH (MACROBRACHIUM ROSENBERGII)
Võ Văn Tuấn, Mathias Corteel,
Patrick Sorgeloos, Hans Nauwynck
Khoa Thủy sản, trường Đại học Nông Lâm Tp. HCM
Thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm trên tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii) với hai chủng WSSV Thai-1 được cung cấp từ trường đại học Uppsala,
Thụy Điển và chủng WSSVViệt được cung cấp từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy
sản II (Việt Nam) thông qua phương pháp tiêm vào cơ. Mức độ nhiễm bệnh được xác
định bằng phương pháp IIF (miễn dịch huỳnh quang). Triệu chứng bệnh lý bắt đầu
xuất hiện sau 24h gây nhiễm với chủng WSSV Thai-1 và sau 36h với chủng WSSVViệt.
Tỷ lệ tử vong trên động vật thí nghiệm bắt đầu xuất hiện sau 48h gây nhiễm với cả hai
dòng virus. Tuy nhiên, 85% tử vong khi gây nhiễm bởi chủng WSSV Thai-1 trong khi có
45% tử vong bởi chủng WSSVViệt (cùng pha loãng ở nồng độ thấp). Nồng độ gây
nhiễm của chủng WSSV Thai-1 và chủng WSSVViệt trên tôm càng xanh là 105.5 và 103.15
PID50 ml-1.
Từ khóa: tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), virus gây hội chứng đốm trắng
(WSSV), miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IIF)
14
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG LỌC NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI TÔM SÚ CỦA
HÀU (CRASSOSTREA ARIAKENSIS) TRONG BỂ NUÔI TẠI CẦN GIỜ
Mai Ngọc Trang, Nguyễn Văn Trai
Đại Học Nông Lâm Tp HCM
Nuôi tôm sú mang lại lợi ích kinh tế to lớn nhưng cũng là gánh nặng cho môi
trường do chất thải trong quá trình nuôi có khả năng gây hại vùng nước xung quanh.
Việc tìm kiếm các biện pháp giảm thiểu chất thải từ các hệ thống nuôi một cách hiệu
2
University of Natural Science study, National University.
Email: [email protected]
Hồ tự nhiên Ba Bể có diện tích 450ha nằm trên vùng núi đá vôi thuộc Vườn
Quốc gia Ba Bể. Là một trong 20 hồ tự nhiên đẹp nhất thế giới và là di sản thiên nhiên,
là danh lam thắng cảnh độc đáo. Nơi đây phong phú đa dạng về thành phần loài cá và
là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều nguồn gen cá quý hiếm. Và còn là nơi có nhiều công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học như: Pellegrin và Chevey (1936); Chevey và
Lemasson (1937); Đào Văn Tiến (1963), Mai Đình Yên và Bùi Lai (1969); Nguyễn
Văn Hảo (1975); Mai Đình Yên, Trần Mai Thiên, Nguyễn Văn Hảo (1992); Nguyễn
Văn Hảo (1999); Ngô Sỹ Vân (2005)....Trong quá trình thực hiện luận án tiến sĩ ở hồ
Ba Bể, chúng tôi thu được kết quả: Nguồn lợi thuỷ sản ở hồ Ba Bể và sông Năng thuộc
Vườn Quốc gia Ba Bể rất phong phú, đa dạng và độc đáo gồm 108 loài cá thuộc 66
giống, 19 họ, 6 bộ. Hiện tại thu được 93 loài thuộc 61 giống 19 họ và 6 bộ. So với
nghiên cứu năm 2005 thì thành phần loài cá ở hồ Ba Bể và sông Năng có biến động, số
loài tăng thêm 3 loài: cá Trôi nam mỹ Prochilopodus linaeatus, cá Sặc bướm
Trichogaster trichopterus và cá Rô mó Siniperca chuatsi. Nguyên nhân của sự biến
động là do tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như nhân dân di nhập một
số loài cá vào nuôi xung quanh hồ. Mặt khác có thể do mức nước hồ thủy điện Nang
Hang ngập tăng cao vào mùa lũ làm cho hệ sinh thái sông Năng gần hồ Ba Bể thay
đổi, một số loài di chuyển đi nơi khác hoặc một số loài di nhập đến. Để bảo tồn nguồn
gen quý hiếm và phát triển nguồn lợi ở hồ Ba Bể cần nghiêm cấm di nhập các loài cá
lạ vào nuôi, phát triển nuôi và bổ sung các loài quý hiếm bản địa sống tại hồ, tổ chức
lại hình thức quản lý và khai thác trên hồ, quan tâm hơn nữa công tác bảo tồn và phát
triển nguồn lợi.
Từ khóa: Bảo tồn, hiện trạng, hồ tự nhiên, phong phú
Trung tâm Quốc gia giống hải sản Nam Bộ
3
Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải
* Email: [email protected]
Bốn hỗn hợp vi khuẩn thể hiện đặc tính phân hủy quorum sensing và đối kháng
Vibrio spp. ở điều kiện in vitro đã được thử nghiệm ở qui mô pilot trên ấu trùng tôm sú
và cá chẽm. Kết quả các thí nghiệm trên ấu trùng cá chẽm cho thấy hỗn hợp của hai
chủng vi khuẩn Ch102 và Ch104 thể hiện khả năng nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng cá
chẽm 30 ngày tuổi so với nghiệm thức không bổ sung vi khuẩn (tỉ lệ sống ấu trùng cá
chẽm ở nghiệm thức bổ sung hỗn hợp Ch102 và Ch104 và nghiệm thức không bổ sung
vi khuẩn tương ứng là 30,2% và 16%) (p < 0,05, Tukey test). Tuy nhiên không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về mật độ Vibrio tổng số trong nước giữa các nghiệm
thức. Kết quả các thí nghiệm trên ấu trùng tôm sú cho thấy hỗn hợp của hai chủng vi
khuẩn T303 và T402 thể hiện khả năng nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng giai đoạn
PL13 so với nghiệm thức không bổ sung vi khuẩn (tỉ lệ sống ấu trùng tôm sú ở nghiệm
thức bổ sung hỗn hợp T303 và T402 và nghiệm thức không bổ sung vi khuẩn tương
ứng là 61,9% và 45,8%) (p < 0,05, Duncan test). Ngoài ra ở nghiệm thức bổ sung hỗn
hợp T303 và T402, nhận thấy sự suy giảm một cách rõ rệt mật độ Vibrio tổng số từ
ngày thứ 10 trở đi. Hai hỗn hợp (Ch102, Ch104) và (T303, T402) có thể được tuyển
chọn và thử nghiệm lại ở điều kiện sản xuất trước khi tiến đến thương mại hóa các hỗn
hợp này.
Từ khóa: đối kháng Vibrio; mật độ Vibrio tổng số; phân hủy quorum sensing; qui mô pilot.
18
PERKINSUS SP. VÀ HIỆN TƯỢNG NGHÊU (MERETRIX LYRATA) CHẾT
(89,4%); ngoài ra một số nhỏ nghêu nhiễm bệnh thể hiện một hoặc một vài dấu hiệu
như: nghêu gầy (1,3%); màng áo có nhiều đốm trắng (4,3%); thịt nghêu biến đổi màu
(màu nâu hoặc màu vàng sẫm) (2,6%); thịt nghêu có nhiều nước (1,3%), vỏ nghêu bị
vôi hóa (1,3%). Những phân tích sâu về mối tương quan giữa sự hiện diện của
19
Perkinsus sp. trên nghêu với các yếu tố môi trường cho thấy chúng có liên quan tới độ
muối cao của môi trường (ANOVA, P
SỰ THAY ĐỔI MÔ HỌC TRÊN CÁ TRA PANGASIANODON
HYPOPHTHALMUS
Hồ Phương Phạm Duy Phong, Từ Thanh Dung
Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ
Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá tác động của vaccine lên vai trò của đại
thực bào trong đáp ứng miễn dịch và quá trình biến đổi mô học ở cá tra sau khi tiêm
vaccine. Ao thí nghiệm được bố trí tại thành phố Cần Thơ. Ao được ngăn lưới tương
21
ứng với 2 ô chứa cá tiêm vaccine và 2 ô đối chứng. Cá thí nghiệm có trọng lượng từ
28-58g được tiêm vaccine vào xoang bụng với liều lượng nhất định. Mẫu được thu
định kỳ từ tháng 12/2009 đến 4/2010 với tổng số mẫu là 130. Trong đó, có tổng cộng
50 mẫu mô được thu vào thời điểm trước khi tiêm và tháng thứ 2 và 4 sau khi tiêm
vaccine. Tổng số mẫu thận trước được thu là 80 mẫu, định kỳ vào tháng thứ 1, 2, 3 và
4 sau khi tiêm vaccine.
Kết quả phân lập đại thực bào từ thận trước cho thấy qua các tháng tỷ lệ đại
thực bào của cá ở lô tiêm vaccine cao hơn so với lô đối chứng nhưng khác biệt không
có ý nghĩa (P>0,05). Tỷ lệ đại thực bào của cá tại thời điểm xuất hiện bệnh gan, thận
mủ tăng nhanh với tỷ lệ 29,38% ở lô tiêm vaccine và 27,81% ở lô đối chứng và khác
biệt có ý nghĩa so với các tháng còn lại (P0,05).
Tỷ lệ đại thực bào mang vi khuẩn tăng nhanh tại thời điểm cá xuất hiện bệnh gan, thận
mủ với tỷ lệ 4.31% đối với lô tiêm vaccine và 3.56% đối với lô đối chứng, khác biệt có
ý nghĩa thống kê so với các tháng thứ 1, 3 và 4 (P
Từ khóa: Litopenaeus vannamei, Sargassum hemiphyllum var. chinense, Vibrio
alginolyticus, glutathione peroxidase.
23
NGHIÊN CỨU VI NẤM NHIỄM TRÊN CÁ LÓC (CHANNA STRIATA)
GIAI ĐOẠN ƯƠNG GIỐNG
Nguyễn Thị Thúy Hằng1, Phạm Minh Đức2
1
Học viên ngành Nuôi trồng thủy sản K16
2
BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần thơ
Email: [email protected]
Hiện nay nghề nuôi cá lóc (Channa striata) thâm canh trong ao ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long đang phát triển mạnh cả về diện tích và mức độ thâm canh nên nhu
cầu về cá giống thả nuôi lớn, nhưng trong quá trình ương nuôi cá lóc giống thường gặp
trở ngại về bệnh như nhiễm ký sinh trùng, lở loét phần đuôi và nhiễm vi nấm dẫn đến
tỉ lệ hao hụt cao lên tới 40%. Đặc biệt sự nhiễm vi nấm thường xẩy ra ở giai đoạn
giống. Tuy nhiên, nghiên cứu về bệnh này chưa được thực hiện. Vì vậy, mục tiêu của
nghiên cứu nhằm xác định được thành phần giống loài vi nấm nhiễm trên cá lóc giai
đoạn giống và đánh giá khả năng nhiễm bệnh của vi nấm. Để đạt được mục tiêu trên
đề tài được thực hiện gồm các nội dung sau: i) Thu mẫu, quan sát dấu hiệu bệnh lý và
tiêu bản tươi để xác định sự hiện diện của vi nấm; ii) Phân lập và định danh vi nấm
nhiễm trên cá lóc giống; iii) Thí nghiệm cảm nhiễm để xác định khả năng gây bệnh
của vi nấm. Trong quá trình nghiên cứu tiến hành thu 68 mẫu cá bệnh với dấu hiệu
đuôi …. Đồng thời dựa trên kết quả xác định khả năng gây bệnh, đặc điểm mô học
Cá tra bệnh trắng đuôi có biểu hiện đặc trưng như: cá mất nhớt, có vệt trắng
trên thân, đuôi bị ăn mòn, mang xám nhạt, Quan sát mẫu tươi dưới kính hiển vi, vi
khuẩn này biểu hiện di động dạng trượt. Các chủng vi khuẩn được phân lập trên môi
trường Cytophaga agar cho khuẩn lạc có sắc tố vàng, dạng rễ sau 48 giờ ở 28oC. Quan
sát tế bào vi khuẩn khi nhuộm Gram có dạng hình que mảnh, dài và thuộc vi khuẩn
Gram âm. Vi khuẩn này có khả năng hấp thu congo red, tạo sắc tố vàng nâu từ phản
ứng flexirubin, thủy phân gelatin, tạo nitrite từ nitrate nhưng không có khả năng tạo
axit từ các loại đường, âm tính với u-rê.
Hai chủng vi khuẩn F. columnare (FC-CT2) và (FC-HN2) được sử dụng cho thí
nghiệm cảm nhiễm xác định độc lực. Tổng số 210 cá khỏe (3-6 gram) được bố trí thí
nghiệm gây cảm nhiễm với 4 lô (nghiệm thức). Trong đó, 3 lô lần lược ngâm cá trong
dung dịch vi khuẩn với mật độ 107 cfu/ml, 106 cfu/ml và 105 cfu/ml. Thí nghiệm có 1lô
đối chứng ngâm trong cá trong môi trường sạch không có vi khuẩn. Mỗi nghiệm thức
25