Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 29 (2003-2007)
ðề tài:
Trung tâm
Học liệu
ĐH Cần
ThơNHẰM
@ Tài liệu
họcðẢM
tập vàQUYỀN
nghiên cứu
NHỮNG
BIỆN
PHÁP
BẢO
BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Giáo viên hướng dẫn:
MẠC GIÁNG CHÂU
Bộ môn: Luật Tư Pháp
dung, bản chất, chủ thể…của quyền bào chữa vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy,
Trung xác
tâm
Học
liệu
ĐH của
Cần
@ Tài
liệutrong
họctốtập
cứu
ñịnh
những
nội dung
chế Thơ
ñịnh quyền
bào chữa
tụng và
hìnhnghiên
sự trên cơ sở
lý luận và thực tiễn phù hợp với các quy ñịnh của pháp luật là cần thiết nhằm bảo ñảm
cho công tác xử lý hình sự ñúng người, ñúng tội, ñúng pháp luât, không ñể lọt người
phạm tội và không xử oan người vô tội, không ngừng phát huy quyền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, củng cố pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân..
Xuất phát từ tầm quan trọng của quyền bào chữa là bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trước các cơ quan tiến hành tố tụng, người viết ñã chọn nghiên
cứu ñề tài “Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa trong tố tụng hình
sự”. Qua quá trình nghiên cứu người viết sẽ ñi tìm hiểu sâu và cụ thể những biện pháp
nào nhằm bảo ñảm cho quyền bào chữa trong tố tụng hình sự ñược thực hiện ñúng và
ñể giải quyết các vấn ñề ñã ñặt ra trong Luận văn.
Luận văn ñược trình bày theo 3 Chương, bao gồm:
Trung tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+Lời mở ñầu
+Chương 1: Những vấn ñề lý luận về quyền bào chữa
+Chương 2: Những biện pháp bảo ñảm quyền bào chữa trong tố tụng
hình sự
+Chương 3: Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện
+Kết luận
Qua ñây, người viết xin chân thành cảm ơn tất cả thầy, cô giảng dạy của
Khoa Luật, trường ðại học Cần Thơ, ñặc biệt là cô Mạc Giáng Châu -cán bộ giảng dạy
Bộ môn Tư pháp- ñã tận tình hướng dẫn, cung cấp những kiến thức và tài liệu cần thiết
cho người viết hoàn thành ñề tài nghiên cứu này. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực ñã ñạt ñược qua việc nghiên cứu, vẫn còn những thiếu xót do hạn chế về trình ñộ,
khả năng và ñiều kiện nghiên cứu chưa thuận lợi, cũng như thời gian nghiên cứu chưa
nhiều. Rất mong sự thông cảm và ñóng góp của quý thầy cô và các bạn ñọc.
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 3
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
CHƯƠNG 1
1
Buộc tội và bào chữa trong vụ án hình sự-Ph.N.Phatkutin-NXB ðại học tổng hợp Cadan 1976
2
Những vấn ñề về luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học-UBKH và XHNV-HN 1982
3
Những vấn ñề lí luận và thực tiễn cấp bách của Luật tố tụng hình sự-Kỷ yếu ñề tài khoa hoc-VKSND 1995
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 4
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
-Quan ñiểm thứ tư cho rằng: “quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố
tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác ñịnh bị can không có lỗi hoặc làm giảm
trách nhiệm của bị can”.4
-Quan ñiểm thứ năm cho rằng: “quyền bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình
sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bi cáo, người bị kết án
thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy ñinh của pháp luật nhằm phủ nhận một phần
hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ
trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”5
ñoạn ñiều tra sơ vấn nghi can bị bắt giữ hoặc bị ñiều tra phải biết ngay là phạm tội gì
và có quyền nhờ Luật sư dự kiến”.
Như vậy, cho ñến nay khái niệm về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
vẫn ñược hiểu rất khác nhau và thực tế cũng ñược quy ñịnh khác nhau trong Bộ luật tố
tụng hình sự các nước.
4
ðảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội-Phạm Hồng hải-NXB Công an nhân dân-HN 1999
5
“Giáo trình luật tố tụng hình sự” của giáo sư M.X.Xtrôgôvich-NXB công an nhân dân 1999
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 5
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
1.2 Khái niệm quyền bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam :
Theo người viết thì tất cả các quan ñiểm về quyền bào chữa nói trên ñều
chưa hoàn toàn chính xác. Nếu cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can như trong
quan ñiểm thứ nhất và thứ hai là quá hẹp. Còn nếu cho rằng quyền bào chữa còn thuộc
về người bị tình nghi là phạm tội, kết án, người bị hại, nguyên ñơn dân sự… như quan
ñiểm thứ ba, thứ tư và thứ năm là quá rộng.
thú, ñầu thú và ñối với họ ñã có quyết ñịnh tạm giữ”. ðối với chủ thể là bị can và bị
cáo thì BLTTHS 2003 vẫn giữ nguyên ñịnh nghĩa về hai chủ thể này như theo quan
ñiểm của BLTTHS trước ñó.
Việc BLTTHS 2003 trao cho người bị tạm giữ quyền bào chữa là một quyết
ñịnh ñúng ñắn và cần thiết. Trong quan ñiểm của BLTTHS 1988 ñã không ñặt ra vấn
ñề quyền bào chữa ñối với ñối tượng này vì những lí giải trước ñó cho rằng người bị
tạm giữ không thể coi là ñối tượng bị buộc tội ñược, mà họ chỉ có thể trở thành ñối
tượng bị buộc tội nếu có ñủ căn cứ ñể khởi tố họ với tư cách là bị can. Mục ñích của
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 6
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
việc tạm giữ là giúp cơ quan có thẩm quyền bước ñầu xác ñịnh, làm rõ hành vi của
người bị tạm giữ, nếu không ñủ căn cứ khởi tố bị can thì phải ra quyết ñịnh trả tự do
cho họ. Như ñã nói trước ñó, việc buộc tội và bào chữa phải song song tồn tại, ở ñâu
có buộc tội thì ở ñó có bào chữa. Vì vậy BLTTHS 1988 không cho rằng quyền bào
chữa thuộc về người bị tạm giữ do họ chưa bị buộc tội bởi Cơ quan ñiều tra.
Tuy nhiên BLTTHS hiện hành ñã có bước ñổi mới cao khi trao cho người bị
tạm giữ quyền bào chữa, sự ñổi mới này là một tất yếu phải ñược quy ñịnh của quá
trình lập pháp. Có thể giải thích sự ñổi mới này như sau: trong một vụ án khi có ñối
tượng bị bắt giữ và bị Cơ quan ñiều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giữ thì tại
thời ñiểm bị tạm giữ, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm. Mặc dù chưa bị
khởi tố ñể ñiều tra nhưng người bị tạm giữ ñã bị buộc tội dù mức ñộ buộc tội này khác
với mức ñộ buộc tội bằng các văn bản pháp lý có tính chất tố tụng như quyết ñịnh khởi
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một yêu cầu khách quan trong hoạt ñộng tố tụng
hình sự nhằm ñảm bảo cho việc giải quyết vụ án ñược ñúng ñắn. ðể có cách hiểu
chính xác về khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự cần có sự phân biệt giữa
khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự với khái niệm quyền ñược bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Như ñã rõ, trong xã hội xã hội chủ nghĩa
công dân không chỉ ñược hưởng quyền và lợi ích rộng lớn mà còn có quyền ñược pháp
luật bảo vệ khỏi mọi sự vi phạm ñối với các quyền và lợi ích hợp pháp ñó. Quyền
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 7
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
ñược pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khỏi mọi sự xâm phạm ñược quy
ñịnh trong Hiến pháp 1992 tại ðiều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, ñược pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt nếu không có quyết ñịnh hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,
trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải ñúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của
công dân”. Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có thể hoặc ñã bị xâm
phạm, họ có thể bằng nhiều cách khác nhau ñể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Khi tham gia tố tụng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có những quyền và lợi ích
hợp pháp như những người tham gia tố tụng khác (bị ñơn dân sự, nguyên ñơn dân sự).
Nếu những quyền này của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị xâm hại thì họ có quyền
bảo vệ bằng những biện pháp theo quy ñịnh của pháp luật
Ví dụ: họ có thể khiếu nại tới các cơ quan Nhà nước hoặc các cá nhân có
hình sự:
2.1. Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự trước khi có BLTTHS 1988:
Dưới sự lãnh ñạo tài tình, sáng suốt của ðảng cộng sản Việt Nam mà người
có công lao ñóng góp to lớn nhất là Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ ñại, nhân dân Việt Nam
ñã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám ñập tan bộ máy chính quyền phong kiến từ
Trung ương tới ñịa phương, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa– Nhà nước ñầu
tiên của giai cấp công nhân và nông dân ở ðông Nam Á. Tuy nhiên, Nhà nước non trẻ
của nước ta ngay lập tức bị ñe dọa bởi sự xâm lượt trở lại của thực dân Pháp. Vì vậy
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 8
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
nhiệm vụ của Nhà nước ta lúc này là củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền, kịp thời
ban hành pháp luật làm vũ khí chống lại thù trong giặc ngoài, xây dựng xã hội mới.
Mặc dù trong những ngày ñầu cách mạng mới thành công có rất nhiều
nhiệm vụ khó khăn cần ñược giải quyết nhưng chính quyền nhân dân ñã rất quan tâm
ñến nhiệm vụ bảo vệ các quyền dân chủ công dân. Chỉ 10 ngày sau khi ñọc bản Tuyên
ngôn ñộc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 13/09/1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh ñã ký ban hành nhiều Sắc lệnh quy ñịnh thủ tục tố tụng hình sự, trong ñó
có Sắc lệnh 33c về việc thành lập Tòa án quân sự, tại ðiều 5 Sắc lệnh này quy ñịnh:
“bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho họ”.
Tiếp theo ngày 10/10/1945 Nhà nước tiếp tục ban hành Sắc lệnh quy ñịnh tổ
chức các ñoàn thể Luật sư, tại ðiều 2 Sắc lệnh trên quy ñịnh các Luật sư có quyền làm
ñàn áp phong trào dân chủ, hạn chế tối ña các quyền tự do dân chủ của công dân. Chỉ
sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, với việc ban hành những quy ñịnh pháp luật
ban ñầu về tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hình sự mới thật sự trở thành vũ khí, là
cơ sở pháp lý ñể bảo vệ các quyền tự do dân chủ, cũng như các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, trong ñó có quyền bào chữa.
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật nói trên quyền bào chữa của bị cáo
chỉ ñược ñề cập thông qua những quy ñịnh về hoạt ñộng của ñội ngũ Luật sư mà chưa
có những quy ñịnh cụ thể nào về quyền quan trọng là tự bào chữa cho mình. Các nhà
làm luật trước ñó ñã không có quan niệm ñầy ñủ về quyền bào chữa trong tố tụng hình
sự. Theo họ, quyền bào chữa chỉ ñơn giản là việc mời một luật sư ñứng ra bào chữa tại
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 9
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
phiên tòa thậm chí như ñã ñề cập ñến ở Sắc lệnh số 13, Luật sư chỉ ñược tham gia bào
chữa ở Tòa án cấp tỉnh trở lên hoặc Tòa án dân sự, còn ở Tòa án sơ cấp, luật sư không
có quyền tham gia. Việc chỉ quy ñịnh hoạt ñộng của các Luật sư trong việc bảo ñảm
quyền bào chữa của bị cáo là một sai sót do cách nhận thức của các nhà làm luật bấy
giờ chưa ñầy ñủ.
Khắc phục những sai sót và nhược ñiểm nêu trên, Sắc lệnh số 21 ngày
14/02/1946 về tổ chức các Tòa án quân sự bổ sung cho các Sắc lệnh về tổ chức các
Tòa án quân sự trước ñó, chế ñịnh về quyền bào chữa ñược quy ñịnh một cách rõ ràng
hơn. ðiều 5 Sắc lệnh này nêu rõ: “bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hay nhờ Luật sư
hoặc một người khác bênh vực cho”. Quy ñịnh này cũng ñược nhắc lại tại ðiều 8 Nghị
Nam, vấn ñề bảo ñảm quyền bào chữa cho bị cáo trở thành một nguyên tắc Hiến pháp,
ñiều này thể hiện tính ưu việt của pháp luật cách mạng so với các kiểu pháp luật trước
ñó.
Việc bào chữa cho bị cáo ñược ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở pháp lý
cho các văn bản pháp luật khác quy ñịnh cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo.
Xác ñịnh quyền bào chữa của bị cáo bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người
khác bào chữa, pháp luật ñã ban hành nhiều văn bản quy ñịnh cụ thể quyền hạn của
những người làm công tác bào chữa cho bị cáo. Sắc lệnh số 69 ngày 18/06/1949 ghi
nhận: “bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho mình”.
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 10
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
Tiếp theo ñó Sắc lệnh số 144 ngày 22/12/1949 quy ñịnh: “…trước cácTtòa án…bị cáo
có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình, công dân ñó phải
ñược ông Chánh án thừa nhận”.
Như vậy, so với Hiến pháp 1946 quyền bào chữa của bị cáo ñã ñược quy
ñịnh cụ thể hơn, ñặc biệt là phạm vi những người bào chữa ñã ñược mở rộng. Cụ thể,
công dân không phải là luật sư cũng ñươc tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa
nếu ñược ông Chánh án thừa nhận. Cụ thể hóa nội dung trên, Nghị ñịnh 01/Nð ngày
12/01/1950 của Bộ Tư pháp ñã hình thành chế ñịnh Bào chữa viên nhân dân. Theo
những quy ñịnh của nghị ñịnh này, Bào chữa viên nhân dân cũng có ñịa vị pháp lý như
luật sư. Sự ra ñời của chế ñịnh này có tác dụng thu hút quần chúng nhân dân tham gia
vào hoạt ñộng ñấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần tạo ñiều kiện bảo vệ quyền
của bị can với tư cách là người tham gia tố tụng có những quyền năng tố tụng nhất
ñịnh, trong ñó có quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Vì vậy, họ ñã
ñề nghị thể chế hóa những quy ñịnh liên quan ñến quyền bào chữa của bị can trong các
văn bản pháp luật. Tuy nhiên, ñề nghị ñó ñã không ñược các nhà làm luật chấp nhận.
Năm 1959 bản Hiến pháp thứ 2 của nước ta ra ñời, ðiều 101 Hiến pháp
1959 tiếp tục khẳng ñịnh: “quyền bào chữa của bị cáo ñược bảo ñảm”. Cùng với sự ra
ñời của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 tại ðiều 7 cũng ghi nhận:
“quyền bào chữa của bị cáo ñược bảo ñảm”. Ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể
nhờ luật sư bào chữa cho mình. Bị cáo cũng có thể nhờ một công dân ñược ñoàn thể
nhân dân giới thiệu hoặc ñược Tòa án nhân chấp nhận bào chữa cho mình. Khi cần
thiết Tòa án nhân dân cử người bào chữa cho bị cáo. Tiếp theo ñó, Pháp lệnh ngày
23/03/1961 về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của Tòa án nhân dân ñịa
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 11
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
phương ñã có những quy ñịnh về tăng thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ cấp. Theo
những quy ñịnh của pháp luật này thì bị cáo ñược quyền có người bào chữa cho mình
ở tất cả Tòa án các cấp.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của chính phủ cách
mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam ñã ban hành Thông tư số 06 ngày
11/06/1976 về việc thực hiện chỉ ñịnh bào chữa ở miền Nam.
Hiến pháp 1980 ra ñời, quyền bào chữa của bị cáo lại ñược khẳng ñịnh một
lần nữa tại ðiều 133: “quyền bào chữa của bị cáo ñược bảo ñảm. Tổ chức luật sư
ñịnh như chỉ quy ñịnh quyền bào chữa thuộc về bị cáo, chưa có những quy ñịnh cụ thể
về quyền tự bào chữa của bị cáo, chưa có cách hiểu ñầy ñủ về chế ñịnh quyền bào
chữa…Do vậy, quyền bào chữa của bị cáo cũng như quyền và lợi ích của nhân dân là
chưa ñược bảo ñảm.
2.2. Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự sau khi BLTTHS 1988 có hiệu lực
ñến trước khi có BLTTHS 2003:
Cùng với những mặt hạn chế nên trên, việc Nhà nước ta ban hành quá nhiều
văn bản pháp luật, Sắc lệnh cũng gây khó khăn cho việc quản lý như sự chồng chéo,
mâu thuẫn... trong các quy ñịnh. ðứng trước những hạn chế ñó, yêu cầu ñặt ra là cần
có một văn bản thống nhất quy ñịnh chi tiết, cụ thể về các thủ tục tố tụng hình sự,
trong ñó có các quy ñịnh cần thiết, xác thực ñể bảo ñảm cho quyền bào chữa của bị
cáo, cũng như quyền và lợi ích của công dân. Ngày 28/08/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc
hội khóa VIII của nước CHXHCN Việt Nam ñã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự Việt
Nam. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) ra ñời ñánh dấu một bước phát triển mới,
quan trọng trong việc từng bước hoàn thiện chế ñịnh bào chữa và là một bước tiến
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 12
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự nước ta. Quyền bào chữa ñược ghi nhận trong
BLTTHS không chỉ thuộc về bị cáo mà còn thuộc về bị can. Cụ thể tại ðiều 12 với tên
gọi “bảo ñảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo” quy ñịnh: “Bị can, bị cáo có quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan ñiều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án
có nhiệm vụ bảo ñảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”.
bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Xuất phát từ mục ñích bảo ñảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong ñó
có quyền nhờ người khác bào chữa, Pháp lệnh luật sư 2001 thay thế Pháp lệnh luật sư
1987 ñã ngày càng hoàn thiện thêm nữa những quy ñịnh cụ thể về quyền, nghĩa vụ và
hoạt ñộng của ñội ngũ luật sư và tổ chức luật sư.
2.3. Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự sau khi BLTTHS 2003 ra ñời:
Một vấn ñề chưa ñược ñề cập trước ñó là vấn ñề quyền bào chữa của người
bị tạm giữ, trước thời ñiểm BLTTHS 1988 ra ñời, quyền bào chữa của người bị tạm
giữ hoàn toàn không ñược ñề cập ñến trong các văn bản pháp luật trước ñó. Cho ñến
khi BLTTHS 1988 có hiệu lực, khái niệm người bị tạm giữ mới ñược quy ñịnh. Mặc
dù ñiạ vị pháp lý của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự ñã ñược quy ñịnh tại ðiều
38 BLTTHS 1988 như người bị tạm giữ có quyền biết lý do mình bị tạm giữ, ñược giải
thích quyền và nghĩa vụ…ñã phản ánh phần nào quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
nhưng trong ðiều 12 BLTTHS 1988 lại không khẳng ñịnh quyền này. Yêu cầu trao
cho người bị tạm giữ quyền bào chữa là một yêu cầu chính ñáng và cần thiết ñể bảo
ñảm tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân khi tham gia tố tụng hình
sự. Chính vì vậy, sau 15 năm BLTTHS 2003 ra ñời thay thế BLTTHS 1988 ñã khẳng
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 13
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
ñịnh ñiều ñó. ðiều 11 Bộ luật này ñã quy ñịnh: “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án có nhiệm vụ bảo ñảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào
luật Việt
Nam. Qua các thời kì, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ñã từng
bước ñược mở rộng và ngày càng hoàn thiện.
3. Vai trò của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự :
Quyền con người luôn là một vấn ñề luôn ñược các quốc gia trên thế giới
quan tâm. ðể ñảm bảo quyền con người trong xã hội nói chung, các bản Hiến pháp của
nước ta ñề có nhiều ðiều, Khoản nhấn mạnh quyền công dân trong ñó không thể
không kể ñến quyền bào chữa và những bảo ñảm cần thiết ñể các quyền ñó ñược thực
hiện. ðiều 132 Hiến pháp 1992 quy ñịnh: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo ñược
ñảm bảo”, càng cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của chế ñịnh này.
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong các quyền
ñược bảo vệ mình trước các cơ quan pháp luật. ðiều 11 BLTTHS 2003 quy ñịnh: “Cơ
quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo ñảm cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy ñịnh của Bộ luật này”. Như ñã
ñề cập, bào chữa là việc sử dụng các quyền cụ thể mà pháp luật ñã quy ñịnh ñể bảo vệ
cho mình trước sự buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Trong tố tụng hình sự, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc
tội như là một nhu cầu tất yếu khách quan. Nó xuất phát từ mục ñích, nhiệm vụ của tố
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 14
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
tụng hình sự ñặt ra ñối với tất cả cơ quan, những người tiến hành tố tụng và những
người tham gia tố tụng. Quyền bào chữa cho phép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
bị can,học
bị cáo
không
là sự ñảm
bảo khỏi sự buộc tội mà còn là một phương tiện quan trọng ñể nhận biết sự thật khách
quan của vụ án. Một khi sự thật khách quan của vụ án ñã ñược làm sáng tỏ sẽ bảo ñảm
cho việc xét xử của Tòa án ñược ñúng người, ñúng tội, ñúng pháp luật. Qua ñó ñảm
bảo tính công minh của pháp luật, hoạt ñộng tư pháp vì vậy mà ñạt ñược mục tiêu,
nhiệm vụ ñã ñặt ra là bảo vệ quyền lợi của công dân, trong ñó có quyền bào chữa.
Ngoài ra, việc thực hiện tốt quyền bào chữa còn mang lại những ảnh hưởng
nhất ñịnh cho xã hội. Khi quyền lợi của công dân ñược bảo ñảm tốt thì sự tin tưởng
vào hệ thống pháp luật của Nhà nước từ phía nhân dân ngày càng ñược nâng cao, tin
vào tính công minh của pháp luật, qua ñó mà ý thức pháp luật ngày càng ñược nâng
cao.
Qua những phân tích trên có thể thấy việc bảo ñảm lợi ích, danh dự, nhân
phẩm của con người luôn là vấn ñề rát ñược quan tâm. Vì vậy việc buộc tội và xét xử
không công minh một công dân sẽ gây thiệt hại không chỉ cho họ mà cho cả xã hội.
Nếu pháp luật tố tụng hình sự chỉ quan niệm buộc tội là chức năng duy nhất của tố
tụng hình sự mà không cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền gỡ tội (quyền bào
chữa) thì sẽ dẫn ñến sai lầm là các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chú ý tới các chứng
cứ buộc tội mà quên ñi các chứng cứ gỡ tội hoặc giảm tội. Hậu quả của việc không có
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 15
Những biện pháp nhằm bảo ñảm quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự
GVHD: Cô Mạc Giáng Châu
CHƯƠNG 2
NHỮNG BIỆN PHÁP BẢO ðẢM QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1. Một số biện pháp cụ thể bảo ñảm quyền bào chữa:
1.1. Quyền tự bào chữa:
a. Khái niệm quyền tự bào chữa và cơ sở pháp lý của quyền tự bào chữa:
ðã có rất nhiều quan ñiểm khác nhau xung quanh việc ñưa ra khái niệm khái
quát về quyền bào chữa, tuy nhiện qua quá trình chắt lọc, loại bỏ và giữ lại, người viết
cũng rút ra một khái niệm khái quát như ñã phân tích trước ñó. Thế nhưng, cho ñến
nay chưa có một tài liệu nghiên cứu pháp lý hay quan ñiểm nào ñề cập ñến khái niệm
của quyền tự bào chữa. ðể có thể hiểu ñược thế nào là “tự bào chữa” thiết nghĩ cần
phân tích nghĩa của cụm từ “quyền tự bào chữa”. Trước hết, ñó phải là một quyền chứ
không thể là nghĩa vụ hay trách nhiệm, theo Từ ñiển tiếng Việt của NXB ðà Nẵng
2001 thì “quyền” ñược hiểu là ñiều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho ñược
ñược làm, ñược ñòi hỏi, dựa vào quyền này họ có thể làm một việc nào ñó mà
Trung hưởng,
tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
không bị coi là sai phạm hay có tội, ñương nhiên quyền là không thể bị xâm phạm và
cần ñược bảo vệ. Còn “tự” ñược hiểu là bản thân một người bằng hành vi của chính
mình làm một việc gì ñó cho bản thân mình hoặc cho một người khác. ðó phải là hành
ñộng do chính người ñó thực hiện chứ không phải là một ai khác làm cho họ, hành
ñộng ñó phải xuất phát từ ý chí của chính họ và họ có ñầy ñủ ý thức về hành ñộng của
mình. “Bào chữa” là sự biện minh, biện hộ cho một việc làm hay hành ñộng của mình
trước một hậu quả từ việc làm, hành ñộng ñó gây ra nhằm chứng minh sự vô can của
mình hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm mà họ có thể phải chịu.
Ý nghĩa của cụm từ “quyền tự bào chữa” qua phân tích có thể thấy ñó là sự
ưu tiên, ưu ñãi mà một ñối tượng có thể bằng hành vi của mình vận dụng sự ưu tiên,
ưu ñãi ñó ñể chứng minh, biện hộ cho một hành ñộng của mình khi ñối tượng ñó bị ñe
hình sự.
Như vậy, tính cho ñến thời ñiểm hiện tại, cơ sở pháp lý của quyền tự bào
Trung chữa
tâmtrong
Học
liệuhình
ĐHsựCần
@ Tài
liệu học
tố tụng
là HiếnThơ
pháp 1992
và BLTTHS
2003.tập và nghiên cứu
b. Bản chất pháp lý và ý nghĩa của quyền tự bào chữa:
b1. Bản chất pháp lý của quyền tự bào chữa:
Theo Từ ñiển tiếng Việt của NXB ðà Nẵng 2001, “bản chất” ñược hiểu là
thực chất bên trong của sự vật. Tìm hiểu về bản chất pháp lý của quyền tự bào chữa là
tìm hiểu về thực chất thật sự bên trong của các nguyên lí, lí luận về quyền tự bào chữa.
Trong lí luận và trên thực tế, một người luôn có quyền tự bảo vệ mình. Hầu hết mọi
người ñều biết tự bảo vệ mình là một bản năng tự vệ khi ñứng trước một sự tấn công
mang tính ñe dọa ñến sức khỏe, danh dự hoặc nhân phẩm của bản thân. Về tính mạng
khi bị tấn công, con người bằng cách của mình tự chống chọi lại sự tấn công ñó ñể tự
bảo vệ mình. Hay khi ñứng trước một hành ñộng có tính xâm phạm ñến danh dự, nhân
phẩm của mình, theo bản năng con người thường tự thanh minh, biện hộ trước những
lời cáo buộc ñó.
Ngày nay, hành ñộng tự bảo vệ mình ñã là một quyền ñược pháp luật cho
phép và trong một số trường hợp dù hành ñộng tự bảo vệ có gây ra hậu quả nghiêm
trọng là chết người thì bản thân người ñó cũng ñược xem là không có tội như trong
quy ñịnh của Bộ luật hình sự 1999 về hành ñộng phòng vệ chính ñáng (ðiều 15). ðây
Tàibuộc
liệu
tập
cứu
nhânliệu
phẩmĐH
của công
mặc @
dù cáo
ñó học
là có cơ
sở. và
Phápnghiên
luật tố tụng
hình sự thong qua cái gọi là quyền tự bào chữa cho phép người bị tình nghi phạm tội
bằng các quyền cụ thể, vận dụng có hiệu quả ñể tự bảo vệ cho quyền lợi của mình. Khi
ñó, nếu pháp luật không cho phép họ ñược vận dụng bất kì quyền nào ñể tự bảo vệ cho
mình thì ñó chính là sự bất bình ñẳng một phía do pháp luật chi coi trong sự buộc tội
mà không coi trọng quyền gỡ tội. Hệ quả của sự bất bình ñẳng này là dẫn ñến vi phạm
quyền công dân, xét xử oan sai cũng như không ñảm bảo tính nghiêm minh của pháp
luật. Chính vì thế, khi một người bị tình nghi là phạm tội, họ cần ñược pháp luật tạo
mọi ñiều kiện về mọi mặt giúp họ bào chữa nhằm thoát khỏi sự cáo buộc hoặc làm
giảm nhẹ tội danh. Có tạo ñiều kiện cho người bị tình nghi tự bảo vệ mình mới phát
huy ñược tính dân chủ xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật.
Dù là người bị tình nghi, bị can hay bị cáo thì trong mỗi giai ñoạn, quyền tự
bào chữa ñó cũng có những ñóng góp to lớn cho bản thân ñối tượng. Khi các quyền và
lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm chính là lúc họ phát huy quyền làm chủ bằng
cách tự bảo vệ mình bằng các quyền mà pháp luật cho phép.
Bên cạnh những ñóng góp tích cực cho bản thân từ việc tự bào chữa, hành
ñộng tự bảo vệ cho mình còn có ñóng góp thiết thực cho vụ án mà họ ñang là người
liệu
tập bịvàtạmnghiên
cứu
can, Học
bị cáo.liệu
Bằng ĐH
các quyền
thể ñã@
ñược
pháp
luật học
trao người
giữ, bị can,
bị cáo ñảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của họ không bị xâm phạm trong các vụ án
hình sự. Qua ñó bảo vệ mình tránh khỏi sự vi phạm tố tụng của các cơ quan tiến hành
tố tụng mà sự vi phạm ñó có thể dẫn việc xét xử oan sai người vô tội. Càng có ý nghĩa
hơn nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người có hiểu biết về pháp luật, họ
sẽ có sự vận dụng có hiệu quả các quyền mà pháp luật cho phép ñể quyền tự bào chữa
thật sự trở thành một công cụ bào chữa hữu hiệu nhất bảo vệ cho họ khỏi sự cáo buộc
của các cơ quan tiến hành tố tụng.
ðể tự bảo vệ mình, trước hết họ cần phải biết họ có các quyền cụ thể gì.Có
biết ñược mình có quyền thực hiện những công việc cụ thể nào ñể tự bảo vệ mình
trước pháp luật, họ mới có thể vận dụng có hiệu quả những quyền ñó ñể tự bảo vệ cho
bản thân mình. Khi ñứng trước sự cáo buộc của các cơ quan pháp luật cho rằng một
người ñã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, họ là người yếu thế do bị cáo
buộc bởi cơ quan quyền lực nhà nước, cùng với tâm lý hoang mang nên họ thường
không tự bảo vệ ñược cho quyền lợi của mình. Vì vậy, trong từng giai ñoạn tố tụng
nếu họ nắm ñược các quyền cụ thể của mình, họ sẽ tự bảo vệ mình trước bất kì sự vi
phạm tố tụng nào của các cơ quan tiến hành tố tụng như hành ñộng ép cung, mớm
cung, không giao các biên bản, quyết ñịnh ñúng thời hạn... Tự bào chữa cho mình
Thơcòn@ñảm
Tàibảoliệu
họctác
tập
nghiên
thật Học
vụ án, liệu
hành ñộng
bào chữa
cho công
xétvà
xử của
Tòa án cứu
là
ñúng người, ñúng tội, ñúng pháp luật. Ý nghĩa này là kết quả từ sự kết hợp của hai ý
nghĩa trên, từ việc tự bào chữa bảo vệ cho mình bằng các quyền mà pháp luật quy
ñịnh, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự mình ñưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận ñã
giúp Cơ quan có thẩm quyền làm sáng tỏ vụ án. Tất nhiên tất cả những chứng cứ náy
ñã ñược kiểm tra chứng minh tính chính xác. Khi vụ án ñã có những chứng cứ xác
thực về việc bị cáo có hay không có thực hiện hành vi phạm tội thì lúc ñó việc xét xử
tại Tòa án sẽ ñược tiến hành thuận lợi, ñảm bảo việc xét xử khách quan, công minh,
ñúng pháp luật. Và tất nhiên, việc ñảm bảo xét xử ñúng người, ñúng tội, ñúng pháp
luật ñều là nhằm mục ñích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong ñó có
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
c. Các biện pháp nhằm bảo ñảm quyền tự bào chữa:
Như ñã biết, quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ
người khác bào chữa. Theo quy ñịnh của BLTTHS hiện hành thì không chỉ bị cáo mới
có quyền tự bào chữa và nhờ người bào chữa mà bị can, người bị tạm giữ cũng ñược
trao quyền này, theo quy ñịnh tại ðiều 11 BLTTHS 2003 thì: “người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Như vậy, quyền tự
Cần
Thơ
@mình
Tàicóliệu
học cụ
tập
tham
gia tốliệu
tụngĐH
hình sự.
Có biết
ñược
các quyền
thểvà
nàonghiên
mới có sự cứu
tự
bào chữa hiệu quả nhất. Một quyền quan trọng nữa là quyền ñược trình bày lời khai,
lời nhận tội trong lời khai của người bị tạm giữ không thể ñược xem là chứng cứ buộc
tội mà nó cần ñược kiểm tra một cách chính xác. Lời khai ban ñầu của người bị tạm
giữ cung cấp những tình tiết ñầu tiên liên quan ñến vụ án giúp các cơ quan có thẩm
quyền nắm ñược sơ lược vụ án. Lời khai của họ ñược xem là chứng cứ gỡ tội cho họ
nếu ñã ñược kiểm tra tính chính xác. Vì vậy, ñược trình bày lời khai ngay sau khi bị
tạm giữ là một quyền quan trọng của người bị tạm giữ. Người bị tạm giữ có quyền ñưa
ra tài liệu, ñồ vật chứng minh cho sự vô tội của mình. ðây là một quyền rất quan trọng
của người bị tạm giữ ñể tự bảo vệ cho mình, người bị tạm giữ phải ñược quyền ñưa ra
những chứng cứ, tài liệu liên quan ñến vụ án có tác dụng bác bỏ sự buộc tội của cơ
quan có thẩm quyền.
ðồng thời tại thời ñiểm bị tạm giữ, người bị tạm giữ cũng có quyền ñưa ra
các yêu cầu, ñó có thể là yêu cầu ñược biết lí do mình bị tạm giữ, yêu cầu ñược giải
Trung có
tâm
liệu
ĐH
hay Học
không có
người
bàoCần
chữa. Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Quyền ñầu tiên của bị can là quyền ñược biết mình bị khởi tố về tội gì. Sẽ là
vô lý nếu một người bị khởi tố mà lại không biết mình bị khởi tố về tội danh gì và vì
sao mình lại bị khởi tố. Vì vậy, việc ñược biết lí do bị khởi tố là một quyền tối cần
thiết, giúp cho bị can có sự chuẩn bị bước ñầu ñể có thể tự bảo vệ cho mình.
Kể từ thời ñiểm nhận ñược quyết ñịnh khởi tố của cơ quan ñiều tra, một
người trở thành bị can (ðiều 49). Lời khai của bị can ñược coi là một nguồn chứng cứ
và chúng phải ñược kiểm tra. Cần phải nhấn mạnh rằng việc trình bày lời khai là
quyền của bị can chứ không phải là trách nhiệm. ðiều 10 BLTTHS quy ñịnh: “trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có
quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Pháp luật không quy ñịnh
trách nhiệm ñối với bị can khi họ từ chối khai báo hay khai báo gian dối, trong khi ñó
pháp luật nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình (ðiều 6).
Theo quy ñịnh tại ðiều 131 BLTTHS, việc hỏi cung bị can phải do ðiều tra
viên tiến hành ngay sau khi có quyết ñịnh khởi tố bị can. Trước khi hỏi cung bị can,
ðiều tra viên có trách nhiệm ñọc quyết ñịnh khởi tố bị can, ñồng thời giải thích cho bị
can biết quyền và nghĩa vụ của bị can. Trong khi hỏi cung, bị can có thể thú nhận một
phần hay toàn bộ tội lỗi của mình. Tuy nhiên lời nhận tội của bị can cần phải ñược
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 23
chữa
của ĐH
bị canCần
ñược thực
hiện
cáchliệu
khách
quan,tập
côngvà
bằng.
Bị can ñược tiếp xúc với tất cả các tài liệu ñiều tra sau khi ñã kết thúc ñiều
tra (ðiều 162). Quyền năng tố tụng này của bị can có vai trò rất quan trọng trong việc
thực hiện quyền tự bào chữa của mình. Có ñọc và nắm ñược tất cả tài liệu, tình tiết vụ
án liên quan ñến bản thân hoặc liên quan ñến những bị can khác thì bị can mới có khả
năng chuẩn bị tốt ý kiến ñể tự bào chữa cho mình. Ngoài ra, có nắm ñược toàn bộ
những tài liệu về vụ án mà cơ quan ñiều tra ñã thu thập ñược, bị can mới có thể ñưa ra
những yêu cầu như ñiều tra bổ sung, ñiều tra lại.
ðiều 49 quy ñịnh trong quá trình ñiều tra nếu có ñầy ñủ những lí do, căn cứ
mà pháp luật ñã quy ñịnh, bị can có quyền ñề nghị thay ñổi người tiến hành tố tụng
(ðiều tra viên, Kiểm sát viên), người giám ñịnh, người phiên dịch. Những ñề nghị này
phải ñược xem xét thực hiện trong thời gian luật ñịnh. Ngoài ra, ðiều luật này còn quy
ñịnh bị can không chỉ ñược giao nhận bản kết luận ñiều tra mà còn ñược giao nhận bản
cáo trạng sau khi Viện kiểm sát quyết ñịnh truy tố, ñiều này ñược khẳng ñịnh tại khoản
1 ðiểu 166.
Ngoài các quyền cụ thể mà pháp luật ñã trao cho bị can nhằm bảo ñảm cho
bị can thực hiện quyền tự bảo vệ của mình, pháp luật còn cho phép bị can có quyền
khiếu nại ñối với hành vi và việc làm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29
Trang 24
hiểuHọc
biết vềliệu
bản kết
luận
ñiều tra,
về các
cứ và học
tài liệutập
liên và
quannghiên
ñến vụ án cứu
sẽ
giúp cho bị cáo ñảm bảo tốt hơn quyền tự bào chữa của họ. Trong thời gian chuẩn bị
xét xử, bị cáo có quyền ñưa ra các chứng cứ và yêu cầu ñề nghị thay ñổi người tiến
hành tố tụng, ñưa ra những yêu cầu và bổ sung các vật chứng. Thời hạn 10 ngày cơ
bản ñủ cho bị cáo nghiên cứu cáo trạng, mời người bào chữa và chuẩn bị tốt cho công
việc bào chữa trước phiên tòa, tạo ra khả năng thực tế ñể bị cáo và người bào chữa của
bị cáo thực hiện quyền bào chữa có kết quả.
Trong tố tụng hình sự, giai ñoạn xét xử là giai ñoạn quan trọng nhất vì tại
giai ñoạn này tội trạng của bị cáo sẽ ñược xác ñịnh trong phiên tòa công khai với sự
tham gia của các bên tố tụng. Thay mặt nhà nước Hội ñồng xét xử quyết ñịnh những
vấn ñề quan trọng nhất của tố tụng hình sự là xác ñịnh tội danh và quyết ñịnh áp dụng
hình phạt với bị cáo dựa trên những chứng cứ ñã thu thập ở phiên tòa. Chính vì vậy,
thực hiện quyền bào chữa tại phiên tòa có thể coi là hành vi tố tụng quan trọng nhất
trong số các hành vi tố tụng của bị cáo. Vì vậy, ñể bị cáo có ñược khả năng thực hiện
quyền ñó, pháp luật quy ñịnh việc tham gia phiên tòa là quyền và nghĩa vụ của bị cáo.
ðiều 187 có quy ñịnh sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa theo giấy triệu tấp của Tòa án,
nếu bị cáo vắng mặt có lí do chính ñáng thì phải hoãn phiên tòa, ñiều này có nghĩa là
không thể xét xử vắng mặt bị cáo nếu vì một lí do chính ñáng nào ñó mà bị cáo vắng
SVTH : Nguyễn Kim Thảo-Tư Pháp K29