Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cơ sở lý luận và thực tiễn - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Lâm Tố Trang

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Lệ Huyền
Lớp Luật Tư Pháp 01 – K31
MSSV: 5054769

Cần Thơ, tháng 11/2008


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN:
……………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………

Chương 2: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO
THỜI HIỆU………………………………………………………………….. 17
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ
HỮU THEO THỜI HIỆU…………………………………………………… 17
1.1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu từ thời Lê, Nguyễn………………. 17
1.1.1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu dưới thời Lê……………………. 17
1.1.2. Xác lập quyền sở hữu tài sản dưới thời Nguyễn……………………… 18
1.2. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu dưới thời Pháp thuộc…………….. 19
1.3. Xác lập quyền sở hữu tài sản từ Bộ luật Dân sự 1995 đến Bộ luật Dân sự
2005………………………………………………………………………….. 20
1.3.1. Xác lập quyền sở hữu tài sản theo thời hiệu trong Bộ luật Dân sự 1995 20
1.3.2. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong Bộ luật Dân sự 2005………21


2. ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU TRONG
BLDS 2005………………………………………………………………….. 22
2.1. Người chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật……… 22
2.1.1. Tài sản………………………………………………………………… 22
2.1.2. Việc chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật……... 28
2.2. Người chiếm hữu phải ngay tình……………………………………….. 30
2.2.1. Chiếm đoạt tài sản của người khác…………………………………… 31
2.2.2. Phân chia……………………………………………………………… 33
2.2.3. Tranh chấp, đăng ký quyền sở hữu…………………………………… 34
2.3. Việc chiếm hữu tài sản phải mang tính công khai, liên tục…………….. 36
2.3.1. Việc chiếm hữu tài sản phải mang tính công khai…………………… 36
2.3.2. Việc chiếm hữu tài sản phải liên tục…………………………………. 38
2.4. Thời hiệu của việc chiếm hữu………………………………………….. 40
2.4.1. Thời điểm bắt đầu thời hạn mười năm hoặc ba mươi năm………….... 42
2.4.2. Gián đoạn thời hiệu và hoãn tính thời hiệu…………………………… 44
2.4.2.1. Gián đoạn thời hiệu………………………………………………… 44

2.1. Trước hết cần phải phân biệt trường hợp nào áp dụng quy định về đất đai
để giải quyết và trường hợp nào áp dụng văn bản pháp luật về nhà ở để giải
quyết…………………………………………………………………………. 56
2.2. Khuyến nghị về hướng giải quyết đối với loại tranh chấp này………….. 56
2.1.1. Trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật
nhưng xẩy ra trước 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực)……………... 57
2.2.2. Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp
luật nhưng xẩy ra sau 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực)…………… 58
3. HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU…………… 59
3.1. Chế định quyền sở hữu cần được quy định chặt chẽ hơn……………….. 59
3.2. Tăng cường các biện pháp người chiếm hữu ngay tình…………………. 61
4. CÁC GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
THỜI HIỆU…………………………………………………………………. 63
4.1. Thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với người chiếm hữu ngay tình…… 63
4.1.1. Thời hiệu chỉ được xác lập cho người chiếm hữu ngay tình………….. 63
4.1.2 Thời hiệu được tính từ người chiếm hữu ngay tình đầu tiên………….. 64
4.2. Tính liên tục của việc chiếm hữu……………………………………….. 64
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………….. 66


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ăn, mặc, nhà ở, đi lại,… là những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của
conngười. Để có những vật phẩm đó, con người phải tạo ra nó bằng sức lao
động của mình. Sản xuất là nền tảng của mọi xã hội, thế nhưng con người tham
gia vào các quan hệ sản xuất lại không chỉ phụ thuộc vào ý chí của con người

GVHD: Lâm Tố Trang

1

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Mặc dù pháp luật dân sự ngày càng được hoàn thiện, nhưng chính sách quản
lý về nhà, đất và các loại tài sản khác vẫn còn khá lỏng lẽo, chưa chặt chẽ.
Chính những hạn chế ấy đã tạo nên sự phức tạp trong các giao dịch dân sự mà
cụ thể là vấn đề về quyền sở hữu như đã nói ở trên. Để một chủ thể xác lập
được tư cách chủ sở hữu đối với tài sản mà họ đang chiếm hữu, luật quy định
cụ thể những điều kiện cần phải có. Nhưng tình trạng chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật ngày càng diễn ra nhiều hơn trong thực tiễn đời sống dân sự,
những quy định của pháp luật cần được chặt chẽ hơn, hợp lý hơn để giải được
những bài toán của thực tiễn.
Với những quan tâm và mong muốn của bản thân, tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu: “Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn”. Nhằm
đi sâu nghiên cứu và phân tích để làm rõ hơn những vướng mắc, hạn chế vốn
tồn tại, để từ đó đóng góp một số kiện nghị và đề xuất của mình nhằm giúp
hoàn thiện khung pháp lý dân sự, giải quyết những vấn đề vướng mắc tồn tại,
tạo nên sự bình ổn trong các giao lưu dân sự góp phần đơn giản hóa tính phức
tạp của đời sống dân sự.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về “Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn”, giúp chúng ta có cái nhìn cặn kẽ và thấu đáo hơn
về vấn đề này. Từ đó, chúng ta tìm ra được những giải pháp khắc phục và giải

Luận văn được kết cấu thành ba phần: Lời nói đầu, Phần nội dung (gồn ba
chương) và cuối cùng là phần kết luận:
Phần 1: Lời nói đầu.
Phần 2: Phần nội dung gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền sở hữu và xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu.
Chương 2: Chế độ pháp lý về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo
pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng và những đề xuất cụ thể xung quanh việc xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu.
Phần 3: Kết luận
Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và giáo viên hướng dẫn đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu đề tài này
Chân thành cảm ơn.

GVHD: Lâm Tố Trang

3

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU:

được.

GVHD: Lâm Tố Trang

4

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Qua quá trình lao động sản xuất với những kinh nghiệm đã tích lũy được,
trình độ lao động của con người ngày càng được nâng cao. Cùng với sự phân
công lao động xã hội, chăn nuôi và trồng trọt ngày càng phát triển, năng xuất
lao động ngày càng tăng, xuất hiện sự dư thừa sản phẩm, hàng hóa trao đổi
ngày càng rộng rãi đã làm cho lượng của cải trong xã hội tăng nhanh, trong xã
hội và trong gia đình đã bắt đầu có sự tích lũy.
Quá trình phân hóa tài sản bắt đầu hình thành và dẫn đến kẻ giàu, người
nghèo trong xã hội. Những người có quyền hành trong các thị tộc, bộ lạc tìm
mọi thủ đoạn để chiếm đoạt số của cải dư thừa đó làm của riêng. Tính chất
cộng đồng xã hội dần dần bị phá vỡ. Quan hệ bóc lột xuất hiện và trong xã hội
đã có sự phân chia đẳng cấp, xã hội cộng sản nguyên thủy bị tan xã.
Mâu thuẫn giữa những người bị áp bức bóc lột và những kẻ bị áp bức bóc lột
ngày càng quyết liệt, và “không thể điều hòa được”, sự phân chia giai cấp ngày
càng sâu sắc. Nhằm bảo vệ lợi ích của mình và để duy trì xã hội trong một “trật
tự” có lợi cho mình, giai cấp áp bức bóc lột với một tỷ lệ ít trong cộng đồng
thấy cần phải có một bộ máy bạo lực để đàn áp sự phản kháng của giai cấp bóc
lột. Từ đây xã hội phân chia thành các giai cấp đối lập nhau và xuất hiện Nhà
nước. Khi xã hội phân chia thành giai cấp thì vấn đề sở hữu có một vai trò rất
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quán có lợi cho mình. Mặt khác, những quan hệ phức tạp mới phát sinh trong
xã hội có giai cấp đòi hỏi phải có những phương tiện, công cụ đặc biệt để Nhà
nước thực hiện sự thống trị giai cấp. Cơ sở kinh tế để đảm bảo cho sự thống trị
về chính trị và tư tưởng chính là các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống
trị. Giai cấp thống trị phải giữ lại quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị.
Giai cấp thống trị phải dùng tới một bộ phận của pháp luật về sở hữu để thể
hiện ý chí giai cấp của mình. Là một hình thái của thượng tầng kiến trúc, pháp
luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, ghi nhận lợi ích của giai cấp thống trị
đối với việc đoạt giữ các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá
trình sản xuất, phân phối lưu thông. Do đó, trong bất kỳ Nhà nước nào, pháp
luật về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ có hiệu quả của
giai cấp nắm quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp đó. Vì vậy, quyền sở
hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ
nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quan hệ về sở hữu trong xã hội.
Các quy phạm về quan hệ sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi
của chủ thể sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Với tư cách là một chế định của pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã
hội và Nhà nước có cùng một nguồn gốc và không thể tồn tại tách rời nhau, do
đó nó sẽ mất đi khi không còn Nhà nước. Pháp luật về sở hữu luôn mang tính
giai cấp rõ rệt. Trong tuyên ngôn độc lập của Đảng cộng sản, C.Mác đã chỉ ra
rằng “Nhưng thử hỏi lao động làm thuê, lao động của người vô sản có tạo ra sở
hữu cho người vô sản không? Tuyệt đối không? Nó tạo ra tư bản, tức là tăng
thêm với điều kiện là sản xuất thêm ra mãi mãi lao động làm thuê, và sở hữu
này chỉ có thể tăng thêm với điều kiện là sản xuấ thêm ra mãi mãi lao động lảm
thuê để lại bóc lột lao động đó thêm nữa”. Vì vậy, pháp luật về sở hữu bao giờ
cũng nhằm mục đích:
- Xác nhận và bảo vệ bằng pháp luật về việc chiếm giữ những tư liệu sản

Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kì.
Với tư cách là một chế định pháp lý, quyền sở hữu mang tính chất chủ quan,
vì đó là sự ghi nhận của Nhà nước nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở
hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền sử dụng được quy định trước hết
bởi nội dung kinh tế của sở hữu. Nhà nước quy định quyền sở hữu, tức là thể
chế hóa những quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những sản phẩm do con
người tạo ra.
Như vậy, với tư cách là một phạm trù pháp lý, quyền sở hữu là tổng hợp các
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và chiếm đoạt tài sản. Đây là
khái niệm quyền sở hữu được hiểu theo nghĩa rộng, còn theo nghĩa hẹp, quyền
sở hữu được hiểu là các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu đối với các tài sản
của chính mình.
Với những ý nghĩa nêu trên theo tinh thần của pháp luật của Việt Nam:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là chiếm
hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
GVHD: Lâm Tố Trang

7

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.2.2. Khái niệm quyền sở hữu theo pháp luật các nước
Khái niệm quyền sở hữu trong Luật La Mã được hiểu là quyền sử dụng và

thể tồn tại hai khả năng sau đây:
Người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản và người chiếm hữu
không phải là chủ sở hữu của tài sản;
Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm
hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật.

GVHD: Lâm Tố Trang

8

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật được hiểu là các trường hợp người chiếm
hữu thực sự có quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình dựa trên những căn
cứ do pháp luật qui định. Đó là hình thức chiếm hữu hợp pháp, theo Điều 183
Bộ luật Dân sự 2005, sự chiếm hữu hợp pháp trứơc hết đó là sự chiếm hữu tài
sản của một chủ sở hữu được pháp luật công nhận.
Người không phải là chủ sở hữu mà chiếm hữu tài sản thì chỉ được coi là
chiếm hữu hợp pháp khi rơi vào các trường hợp sau: người được chủ sở hữu uỷ
quyền quản lý tài sản, người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua
giao dịch dân sự; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định
được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm
đắm; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc,
chiếm hữu của cơ quan, tổ chức theo chức năng và thẩm quyền có quyền thu
giữ và chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình liên tục,
công khai.
Đối với các trường hợp người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản

LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình không được
pháp luật bảo vệ và không được hưởng quy chế xác lập quyền sở hữu theo thời
hiệu.Trái lại, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay
tình được pháp luật bảo vệ trong nhiều trường hợp và được xác lập quyền sở
hữu tài sản theo thời hiệu.
1.3.2. Quyền sử dụng
Điều 192 Bộ luật Dân sự 2005 định rõ: quyền sử dụng là quyền khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Khai thác công dụng của tài sản
được hiểu là việc dùng tài sản để phục vụ nhu cầu, sở thích của bản thân hoặc
để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản. Chẳng hạn, sử dụng môtô làm phương
tiện để đi lại, đeo nữ trang hay đồng hồ để làm đẹp…Hưởng hoa lợi, lợi tức từ
tài sản là việc chủ sở hữu thu nhận các sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như
trái cây, gia súc sinh con, gia cầm đẻ trứng… hoặc thu các khoản lợi từ việc
khai thác tài sản như tiền cho thuê nhà, lợi tức cổ phiếu, lợi tức cho vay… Việc
sử dụng các tài sản là vật tiêu hao, đặc biệt là các vật tiêu hao hết sau một lần
sử dụng như việc sử dụng thức ăn, đồ uống, tiêu tiền … cũng đồng nghĩa với
việc chủ sở hữu sử dụng quyền định đoạt đối với tài sản.
Như vậy, sử dụng tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nghĩa thực tế của chủ sở hữu. Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền hác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng tài
sản theo ý chí của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai
thác công dụng tự nhiên của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua
các giao dịch dân sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn. Tuy nhiên, trong mọi
trường hợp, việc sử dụng tài sản phải trên nguyên tắc không được làm ảnh
hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác. Thông thường, chủ sở hữu là người có quyền sử dụng tài sản
nhưng pháp luật cũng ghi nhận ba trường hợp người không phải chủ sở hữu

sản theo quyết định của Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài
sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản
đó.
Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận thực tế hay số
phận pháp lý tài sản của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhăm bảo
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đảm hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền định đoạt có thể bị hạn chế theo
những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định. Được thể hiện trong một số
trường hợp sau:
Khi tài sản đem bán là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có
quyền ưu tiên mua;
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân có quyền ưu tiên mua một tài sản theo
quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên
mua cho các tổ chức, cá nhân đó. Ví dụ, thành viên của công ty trách nhiệm
hữu hạn chỉ có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài nếu
các thành viên khác của công ty không mua hoặc mua không hết (Điều 43 Luật
Doanh nghiệp);
Bán nhà ở đang cho thuê thì bên thuê được quyền ưu tiên mua trước(Điều 94
Luật nhà ở năm 2005) .
Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì
phải tuân theo trình tự, thủ tục đó. Điều 450 Bộ luật Dân sự 2005 quy định hợp
đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng
thực trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, nếu A bán nhà cho B
GVHD: Lâm Tố Trang

11

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền

tổng quát chung về chế định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
2.1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo pháp luật La Mã:
Theo pháp luật La Mã thì việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu là một
dạng của xác lập phái sinh hay còn gọi là xác lập không theo ý chí. Bởi quyền
sở hữu đối với tài sản được xác lập trước và được chuyển giao cho chủ sở hữu
sau cùng với tất cả những hạn chế quyền sở hữu đã được áp đặt đối với chủ sở
hữu trước gọi là xác lập không theo ý chí, bởi vì quyền sở hữu được chuyển
giao cho chủ sở hữu sau mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu trước. Quá
trình hoàn thiện chế định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong luật La Mã
có thể được chia thành ba giai đoạn.{}

GVHD: Lâm Tố Trang

12

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu của công dân La Mã: việc xác lập các
quyền sở hữu theo thời hiệu của công dân La Mã được thừa nhận trong luật 12
Bảng với các điều kiện rất dễ dãi về thời gian: Hai mươi năm chiếm hữu có
được quyền sở hữu bất động sản và một năm chiếm hữu để có quyền sở hữu
động sản. Việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu trong luật 12 Bảng không
được thừa nhận cho người không có tư cách công dân La Mã và chỉ được áp
dụng đối với các tài sản nằm trên lãnh thổ Italie.
Như vậy căn cứ vào những quy định trên cho thấy rằng quyền sở hữu được
xác lập mang đậm bản chất của tập quán hơn là quy định của pháp luật, mặc dù
nội dung này được thừa nhận trong luật 12 Bảng nhưng thực chất thì nó được
hình thành từ đời sống của công dân La Mã, họ muốn pháp luật công nhận họ


SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn
định đoạt tài sản mà người chiếm hữu không phản đối. Trái lại, việc chiếm hữu
vẫn được coi là liên tục khi người chiếm hữu chết: người thừa kế tiếp tục nhân
thân của người chết và do đó, tiếp tục sự chiếm hữu do người chết để lại, thậm
chí tiếp tục cả sự ngay tình hoặc không ngay tình của người chết. Riêng người
được chuyển nhượng tài sản do hiệu lực của một giao dịch có thể lựa chọn giữa
việc kế tục sự chiếm hữu của người chuyển nhượng hoặc bắt đầu thời hiệu
chiếm hữu của riêng mình.
Có thể nói đây là bổ sung có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước tiến bộ của
pháp luật dân sự La Mã. Quyền sở hữu của cá nhân chỉ được xác lập và thừa
nhận một khi sự chiếm hữu có căn cứ, phải ngay tình và phải có sự liên tục về
thời gian chiếm hữu. Với những quy định mang tính chặt chẽ và ổn định trên
thì việc một người chiếm hữu một tài sản của người khác dựa trên căn cứ pháp
lý, họ ngay tình, họ thỏa mãn điều kiện thời gian. Như vậy họ hoàn toàn có tư
cách chủ sở hữu.
Hết thời hiệu khởi kiện được xây dựng như một biện pháp bổ sung cho chế
định xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu của công dân La Mã. Được áp dụng
cho cả những người không phải là công dân La Mã, chế định không có tác dụng
xác lập quyền sở hữu cho người chiếm hữu mà chỉ được coi như một công cụ
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tự vệ mà người chiếm hữu có thể sử dụng trong trường hợp chủ sở hữu thực
hiện một vụ kiện đòi tài sản. Nói rõ hơn, các tài sản tranh chấp vẫn thuộc về
chủ sở hữu, nhưng người chiếm hữu không thể bị truất quyền chiếm hữu, một
khi chiếm hữu đã được duy trì liên tục trong một thời gian. Chế định hết thời
hiệu khởi kiện được áp dụng cho tất cả các tài sản không thuộc phạm vi chi

cố cơ sở đạo đức cho pháp luật về tài sản, đã thống nhất hai chế định nêu trên
thành một. Hệ quả là:
1. Từ nay về sau, cả những người không phải là công dân La Mã cũng có
quyền xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
2. Thời hiệu xác lập quyền sở hữu trở nên dài hơn và được thừa nhận trong
những điều kiện ngặt nghèo hơn.
- Thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với động sản được xác định là ba năm.
Thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản được xác định là mười
năm hoặc hai mươi năm tùy theo chủ sở hữu hay không có cư trú tại tỉnh nơi
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tọa lạc bất động sản tuy nhiên, quyền sở hữu chỉ được xác lập do thời hiệu, nếu
người chiếm hữu ngay tình lúc bắt đầu chiếm hữu và việc chiếm hữu có căn cứ.
- Thời hiệu xác lập quyền sở hữu là ba mươi nặm đối với bất động sản, trong
trường hợp việc chiếm hữu không có căn cứ, nhưng người chiếm hữu ngay
tình, từ lúc bắt đầu chiếm hữu.
- Ngoài ra, luật thừa nhận rằng ngay nếu như người chiếm hữu không có căn
cứ và không ngay tình, việc chiếm hữu cũng được bảo vệ một khi đã được duy
trì liên tục trong 30 năm: Người chiếm hữu không có quyền sở hữu, nhưng sau
ba mươi năm, chủ sở hữu không thể kiện yêu cầu trục xuất người chiếm hữu ra
khỏi bất động sản của mình. Tuy nhiên, giải pháp này không thể áp dụng trong
trường hợp việc chiếm hữu việc chiếm hữu đã được xác lập bằng vũ lực.
Với những quy định từ ba chế định trên ta có thể rút ra kết luận mặc dù ở ba
chế định mang nội dung và điều kiện khác nhau về xác lập một quyền sở hữu
trên cơ sở của việc chiếm hữu. Mặc dù vậy nhưng ở các chế định ấy vẫn có tính
chất chung là xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu mà pháp luật đã ấn định. Mỗi
nội dung mang nét đặc trưng riêng phản ánh đúng đắn bản chất của chế định đó
mà đặc biệt hơn hết là chế định tổng hợp của luật Byzance với những điều kiện
thật khắt khe mà chủ thể chiếm hữu tài sản phải tuân theo một cách tuyệt đối.
GVHD: Lâm Tố Trang


LVTN: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU THEO THỜI
HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ XÁC LẬP QUYỀN
SỞ HỮU THEO THỜI HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
1.1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu từ thời Lê, Nguyễn:
1.1.1. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu dưới thời Lê:
Thời Lê (hay còn gọi là Hậu Lê, bao gồm cả giai đoạn Lê sơ và Lê Trung
Hưng) – là một trong những thời kỳ có vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành
và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Triều Lê là một triều đại có lịch
sử phong kiến lâu dài (từ năm 1428 đến năm 1788) và được đánh giá là một
Nhà nước tập quyền mạnh, có vị trí và uy tín lớn ttrong khu vực. Đặc biệt, thời
này là thời kỳ khôi phục và phát triển của các phương thức sản xuất phong
kiến, nhất là chính sách về ruộng đất của nhà Lê như chính sách lộc điền, quân
điền. Pháp luật thời Lê theo đó cũng có nhiều sự phát triển mạnh mẽ, độc đáo,
như lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam và có lẽ cả phương Đông có
một bộ luật tố tụng riêng biệt (Bộ tư pháp, Viên nghiên cứu khoa học pháp lý –

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
– Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – năm 1998). Về mặt pháp luật Dân dự thời
Lê cũng có nhiều phát triển. Nhà Lê ban hành những bộ luật được đánh giá là
giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, như bộ
Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức), soạn thảo và ban hành
Luật quân điền, thực chất là luật đất đai,…
Pháp luật nhà Lê rất chú trọng đến quyền sở hữu. Nhà Lê xác lập quyền sở
hữu chặt chẽ, tối cao của Nhà nước về ruộng đất,…Vấn đề về sở hữu Nhà nước

quyền sở hữu theo thời hiệu vẫn có nhiều hạn chế, luật không quy định thành
một điều khoản cụ thể mà chúng ta chỉ có thể hiểu ngầm về nội dung của quyền
này được thể hiện thông qua hai điều luật như đã nêu ở trên trong Quốc triều
Hình luật.
1.1.2. Xác lập quyền sở hữu tài sản dưới thời Nguyễn:
Xã hội dưới thời Nguyễn có nhiều biến động, thay đổi. Nhà Nguyễn là thời
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tồn tại từ năm 1802 đến 1945. Tuy
nhiên, trên thực tế nhà Nguyễn chỉ tồn tại một cách độc lập trong thời gian nửa
đầu thế kỷ XIX, sau đó đầu hàng thực dân Pháp. Xã hội dưới thời này xảy ra
nhiều cuộc nội chiến kéo dài, hạn chế việc giao lưu dân sự, đặc biệt là giao lưu
dân sự có yếu tố nước ngoài, xây dựng và củng cố Nhà nước phong kiến tập
quyền, nặng về chuyên chế. Pháp luật dân sự thời Nguyễn có một số nét hạn
chế do ảnh hưởng của sự tráo trộn xã hội. Nhà Nguyễn Ban hành Hoàng Việt
luật lệ, nhưng chỉ là bắt chước luật nhà Thanh, thủ tiêu những chế độ dân sự
tương đối tiến bộ đã được ghi nhận trong Quốc triều hình luật, các quy định về
dân sự trong bộ luật này cũng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, một số vấn đề không
được ghi nhận hoặc thiếu những quy định cụ thể.
Nhà Nguyễn thừa nhận ba hình thức sở hữu như nhà Lê. Trong đó sở hữu
Nhà nước phong kiến Trung ương về ruộng đất vốn đã không lớn lại có xu
hướng ngày càng bị thu hẹp lại. Sở hữu làng xã đồng thời tồn tại cả hai quyền
lực của Nhà nước phong kiến Trung ương và của làng xã. Quyền sở hữu làng
xã bị thu hẹp rất nhiều. Đầu thế kỷ XIX, sở hữu tư nhân phát triển mạnh, pháp
luật nhà Nguyễn quy định trong trường hợp dân lưu tán, quyền sở hữu ruộng
đất của họ được bảo đảm trong thời gian tương đối dài (đến năm 1854 Nhà
GVHD: Lâm Tố Trang

18


cách máy móc bộ luật dân sự Napoleong của Pháp nên không phản ánh được
thực trạng xã hội Việt Nam và phong tục truyền thống của người Việt.
Tuy nhiên, chế định về sở hữu nói riêng tuy được phỏng theo tinh thần của luật
Pháp, nhưng cũng phản ánh được phần nào phong tục tập quán của người Việt.
chế định sở hữu được quy định một cách cụ thể bằng các chế định pháp luật
trong bộ luật dân sự của ba miền: Dân sự Bắc Kỳ, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ
Luật,và Bộ luật giản yếu được áp dụng tại Nam kỳ. Pháp luật thời kỳ này thừa
nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu như sở hữu của pháp nhân công, sở hữu
của các pháp nhân tư, sở hữu tư nhân và sở hữu chung.
Ở hình thúc sở hữu tư nhân quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ bao gồm
quyền chiếm hữu, hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối. Chế
định quyền sở hữu ở giai đoạn này đã xây dựng được những quy định mang
GVHD: Lâm Tố Trang

19

SVTH:Nguyễn Thị Lệ Huyền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status