Giáo trình Văn học Việt Nam cuối TK XIX - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN
F7G

GIÁO TRÌNH

VĂN HỌC VIỆT NAM
CUỐI THẾ KỶ XIX
(Giáo trình tóm tắt dành cho lớp Đại học từ xa)

ThS. PHAN THỊ HỒNG

2003


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

-1–

MỤC LỤC
Z
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ...................................................................................... 2
I. Tình hình đất nước cuối thế kỷ XIX................................................................... 2
II. Tình hình văn học ............................................................................................. 3
CHƯƠNG 2: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888) .............................................. 8
I. Nguyễn Đình Chiểu : ......................................................................................... 8
II. Một số tác phẩm chính...................................................................................... 9
1. Lục Vân Tiên ................................................................................................. 9
2. Dương Từ Hà Mậu ....................................................................................... 14
3. Văn tế nghóa só Cần Giuộc ........................................................................... 16
4. Văn tế Trương Đònh ..................................................................................... 17

là sự ra đời của Hòa ước 1862 – triều Nguyễn cắt nhượng 3 tỉnh miền Đông cho
Pháp – , điều ước và thương ước 1874 – nhượng toàn bộ Nam Kỳ. Dù thế, các
phong trào yêu nước, chống Pháp còn kéo dài cho đến hết những năm 80 của thế
kỷ XIX. Chiếm lục tỉnh, thực dân Pháp bắt đầu quá trình nô dòch, chia cách đất
nước Việt Nam, biến nơi đây làm bàn đạp tấn công cả nước.
Triều Nguyễn sau những thất bại đầu tiên hầu như vẫn không có cố gắng
nào đáng kể trong việc sửa sang triều chính, củng cố quốc phòng, cải cách kinh tế,
xã hội nhằm đối phó với ngoại xâm. Mặt khác, để cung đốn cho việc xây cất lăng
tẩm, đền đài, miếu mạo ở kinh đô và những tổn phí khác, nhà nước phong kiến vẫn
thẳng tay bóc lột nhân dân. Lại thêm sự kìm kẹp của tầng lớp đòa chủ, quan lại,
cường hào đã khiến nhiều cuộc khởi nghóa nông dân bùng nổ. Ngay ở Kinh đô Huế,
hàng nghìn binh lính phẫn uất vì lao động khổ sai trong việc xây dựng Khiêm lăng
cũng đã vùng lên khởi nghóa. Tình hình xã hội càng thêm căng thẳng, rối loạn vì
chính sách cấm đạo, giết đạo của triều đình. Đó là những nguyên nhân khiến thực
dân Pháp ngày càng lấn tới.
Nguy cơ mất nước vì sự trì trệ, lạc hậu khiến nhiều người giật mình thức
tỉnh. Những sáng kiến canh tân đất nước, tự cường dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc
gia được Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Nguyễn Trường Tộ... thiết tha đề xuất
trong các bản điều trần của họ. Nhưng triều Nguyễn bảo thủ vẫn không nhận thức
được tính cấp bách của công cuộc củng cố, bảo vệ đất nước. Năm 1873, thực dân
Pháp tấn công đất Bắc, Hà thành thất thủ, nhưng cuộc kháng chiến ngoan cường
của quân dân ta khiến chúng không thể dễ dàng mở rộng chiến sự. Tuy nhiên, trong
tình thế bất lợi của thực dân cướp nước, triều Nguyễn đã vội vàng ký Hiệp ước hòa
bình và liên minh vào đầu năm 1874. Hiệp ước này thừa nhận chủ quyền của Pháp
ở Nam Kỳ, cho phép người Pháp có quyền buôn bán, đi lại ở Bắc và Trung bộ.
Năm 1882, Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ 2, quân dân ta kháng cự quyết liệt, giành
được nhiều thắng lợi nhưng tình thế ngày càng nguy nan. Ngày 19-7-1883, vua Tự
Đức mất, mâu thuẫn và sự tranh chấp giữa các phe phái trong triều đình vốn nảy
sinh từ trước càng trở nên gay gắt. Đó là cơ hội cho thực dân Pháp quyết đònh tấn
công Kinh đô Huế vào tháng 8 – 1883, thực hiện mưu đồ vô hiệu hóa đầu não Nhà

đổi, chuyển biến nào đáng kể. Nho giáo và Nho học vẫn được coi trọng, duy trì. Dù
sự tiếp xúc bước đầu với văn hóa phương Tây khiến một số só phu cấp tiến nhận
thức ra sự lạc hậu của đất nước ta, lên tiếng kêu gọi công cuộc canh tân; và dù ở
Nam bộ thực dân Pháp đã tiến hành những hoạt động văn hóa mới (mở trường Pháp
– Việt, phát hành báo chí...) nhưng tác động các hoạt động trên còn rất ít ỏi, hạn
hẹp.
Ra đời trong một giai đoạn lòch sử bi thương của đất nước, văn hóa, tư tưởng
xã hội vẫn trì trệ, bế tắc, văn học nửa cuối thế kỷ XIX dù chưa có những bước phát
triển rõ nét nhưng vẫn đạt được những thành tựu đáng kể.

II. Tình hình văn học
Văn học cuối thế kỷ XIX vẫn nằm trong quỹ đạo văn học trung đại. Tác gia
văn học là những tri thức Nho học, quan lại có tinh thần yêu nước, đạo cao đức
trọng như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang
Bích. Khi các phong trào vũ trang chống Pháp tạm thời lắng xuống, những cây bút
cảm thán trước thời thế như Nguyễn Khuyến, Tú Xương... xuất hiện đem đến cho
văn học những tiếng nói mới, sắc thái mới. Các nhà thơ Miên Thẩm, Miên Trinh,
Mai Am với những bài thơ nói về cuộc sống quẫn bách, đói khổ của người dân lao

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

-4–

động cũng góp phần làm cho đội ngũ tác gia văn học giai đoạn này thêm đông đảo.
Tác gia văn học nửa cuối thế kỷ XIX càng đa dạng hơn bởi sự có mặt của những

thành chính khí ca, Hà thành thất thủ ca, Vè thất thủ Kinh đô dài hàng trăm câu đã
tập trung phản ánh những biến cố lòch sử lớn đương thời. Ngoài các thể loại dài hơi,
bề thế, bản sắc văn học Nôm giai đoạn này thực sự được khẳng đònh bởi hàng trăm
bài thơ Nôm luật Đường luật của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh...
Đây là giai đoạn thể hiện rõ nét sự vận động, phát triển theo chiều hướng dân tộc
hóa, đa dạng hóa của ngôn ngữ văn học. Vận dụng, chắt lọc và nâng cao ngôn ngữ

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

-5–

thông dụng, của lời ăn tiếng nói hàng ngày, đó là nguồn cội thành công về phương
diện ngôn ngữ của Đồ Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
Đáng lưu ý là, lúc bấy giờ, chữ quốc ngữ sau một thời gian dài ra đời chưa
có điều kiện phát triển đã bắt đầu được sử dụng. Những bài viết bằng chữ quốc ngữ
được in trên các tờ báo đầu tiên như Gia Đònh báo, Nhật trình Nam Kỳ. Các học giả
Trương Vónh Ký, Huỳnh Tònh Của biên soạn truyện cổ tích bằng quốc ngữ, phiên
âm và dòch một số tác phẩm chữ Nôm, chữ Hán ra quốc ngữ, làm từ điển. Về
phương diện ngôn ngữ và chữ viết, văn học cuối thế kỷ XIX tiếp tục tìm tòi, đổi
mới nhằm đạt đến sự thuận lợi, phù hợp với đòi hỏi phát triển của đời sống văn hóa
dân tộc.
Thể loại văn học vẫn là thơ, phú, truyện thơ ... Thể truyện ký lòch sử cũng
có điều kiện xuất hiện tuy không nhiều. Có ưu thế nhất là thơ (Đường luật Hán và
Nôm, thơ trường thiên khuyết danh theo thể thơ lục bát và song thất lục bát, phú
(được vận dụng để viết văn tế, hòch), văn sách (để viết điều trần về các vấn đề


-6–

kích quan lại đầu hàng, đấu tranh chống tiêu cực xã hội, đòi hỏi canh tân đất nước
theo hướng giàu mạnh, tân tiến v.v...
Đối lập với văn học yêu nước chống Pháp là xu hướng văn học chứa đựng tư
tưởng đầu hàng, hòa nghò. Cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trò và Tôn Thọ Tường là
biểu hiện cụ thể nhất sự đối lập về quan điểm, tư tưởng của những nhà thơ yêu
nước với những kẻ đầu hàng, phản bội. Tờ tấu của văn thân Thanh Nghệ đáp lại
chiếu vua Tự Đức, thư Phan Đình Phùng gửi Hoàng Cao Khải cũng phần nào thể
hiện sự đối lập này. Là những tác phẩm không phù hợp với tinh thần và lương tri
của dân tộc, thơ văn chứa đựng tư tưởng hòa nghò, đầu hàng không có điều kiện
phát triển. Nó chỉ là tiếng nói lạc lõng của một số ít cá nhân chứ không lôi cuốn, sôi
nổi như văn học yêu nước, chống Pháp.
Văn học yêu nước là một khuynh hướng lớn của lòch sử văn học Việt Nam.
Mỗi khi đất nước có ngoại xâm, khuynh hướng này lại nảy nở, phát triển, kòp thời
phục vụ sự nghiệp cứu quốc. Giữ vò trí chủ đạo, văn học yêu nước chứa đựng những
tư tưởng, tình cảm lớn của dân tộc, chứng minh sự gắn bó của văn học với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ đất nước.
Văn học hiện thực trào phúng và xu hướng lãng mạn, thoát ly xuất hiện vào
những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trước hết, bộ phận văn học này nặng
về xu hướng mô tả hiện thực xã hội đất nước với thái độ chua xót, bất bình, phê
phán... Thơ Miên Thẩm, Miên Trinh cho thấy nỗi khổ của người dân lao động trong
cảnh phu phen, mất mùa đói kém, bò cưỡng đoạt sản phẩm đồng thời tâm trạng u
uẩn của những người cầm bút trước những tệ nạn xã hội v.v... Khi công cuộc bình
đònh, khai thác thuộc đòa của thực dân biến xã hội Việt Nam thành xã hội thực dân
nửa phong kiến, văn học xuất hiện các cây bút hiện thực phê phán. Nguyễn
Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế khác Miên Thẩm, Miên Trinh ở chỗ họ
phản ánh xã hội với một cảm quan trào phúng rõ rệt. Nỗi xót xa trước thảm cảnh nô
lệ của đất nước chan chứa trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ...

Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

-8–

CHƯƠNG 2: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
I. Nguyễn Đình Chiểu :
Nguyễn Đình Chiểu tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, sau khi bò mù còn
có hiệu là Hối Trai (căn nhà tối), tục gọi là Đồ Chiểu. Ông sinh tại Gia Đònh, mất ở
Bến Tre. Quê quán tổ tiên nhà thơ vốn ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên, đến thời thân sinh là cụ Nguyễn Đình Huy mới vào Gia Đònh. Năm 1843,
Nguyễn Đình Chiểu lần đầu tiên đi thi và đậu tú tài. Năm 1847 ra Huế chuẩn bò thi
(kỳ thi Kỷ Dậu 1849) nhưng trong thời gian ôn luyện chờ thi, thân mẫu ở Gia Đònh
đột ngột từ trần nên phải về quê chòu tang. Dọc đường trở về Nam, vì quá thương
khóc mẹ, ông bò nhiễm bệnh đau mắt, sau đó thì bò mù vónh viễn. Mãn tang mẹ,
ông mở trường dạy học và làm thuốc, con đường hành đạo mà ông còn có thể chọn
trong điều kiện mù lòa. Năm 1859, Gia Đònh thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu dọn về
quê vợ tại Cần Giuộc, Gia Đònh. Tại đây, ông đã chứng kiến những cuộc kòch chiến
đẫm máu giữa những đội quân ứng nghóa với thực dân Pháp (1861). Đó là thực tế
lòch sử cho sự xuất hiện của bài văn tế nổi tiếng: Văn tế nghóa só Cần Giuộc. Thời
gian này, Nguyễn Đình Chiểu đã tham gia các hoạt động chống Pháp, liên hệ và
góp ý kiến với những người cầm đầu nghóa quân danh tiếng như Trương Đònh, Phan
Liêm, Phan Tôn. Trương Đònh hy sinh, nhà thơ là người viết văn tế, làm thơ than
khóc, ca ngợi vô cùng bi thống.
Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng là người cương trực, trung dũng. Sống trong
hoàn cảnh lục tỉnh bò chiếm đóng, ông vẫn giữ trọn phẩm giá của người dân yêu
nước, trọng danh dự.
[

[
[

của Đồ Chiểu. Đối chất với thực tế lòch sử đang biến chuyển, tư tưởng yêu nước,
yêu dân của ông tỏ ra thật trong sáng, đầy sức sống trước tình thế mới của đất nước.
Việc nhà thơ ca ngợi những người dân ấp dân lân xả thân cứu quốc và những người
anh hùng thời đại “nghòch thần” nhưng “ngay chúa” như Trương Đònh đã khẳng
đònh điều đó. Về mặt nghệ thuật, đây cũng là giai đoạn đạt đến đỉnh cao trong văn
nghiệp của Đồ Chiểu. Văn tế nghóa só Cần Giuộc được đánh giá là “Quốc ngữ nhất
thiên truyền bất hủ” (Mai Am)
Với cả quá trình sáng tác không mệt mỏi từ Lục Vân Tiên đến Ngư tiều y
thuật vấn đáp, Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ đấu tranh liên tục, không mệt mỏi
cho những giá trò tinh thần cao q, lý tưởng chung của cộng đồng Việt Nam. Từ
triết lý nhân nghóa cho đến tư tưởng yêu nước, yêu dân, ngòi bút của Đỗ Chiểu là
của một chiến só mang tâm hồn nghệ só.
[

[
[

II. Một số tác phẩm chính
1. Lục Vân Tiên
Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm được sáng tác để kể hơn là để đọc, để xem.
Ngay khi Nguyễn Đình Chiểu còn sống tác phẩm này đã được phổ biến rộng rãi
trong nhân dân theo con đường truyền miệng. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Lục
Vân Tiên khi đã bò mù nghóa là khoảng từ sau 1850, như vậy “hiển nhiên là tập
truyện chỉ được hình thành trong trí nhớ và tác giả đã đọc cho học trò thân cận của
mình giúp việc chép lại. Văn bản đầu tiên của truyện chắc chắn là bản chép tay sau
nhiều lần được sửa chữa, thêm bớt đó”(2). Tác phẩm lưu truyền bằng miệng trong
dân chúng độ trên dưới 10 năm thì mới được ghi chép lại. Người thu thập, đính

(1)
(2)


Không mô phỏng theo truyện xưa tích cũ, Lục Vân Tiên cơ bản là một sáng
tác của Đồ Chiểu. Một số nét chính trong cuộc đời nhân vật Lục Vân Tiên như quá
trình đi học, đi thi, đến trường thi được tin mẹ mất phải quay về cư tang, khóc
thương mẹ đến mù mắt, gia đình vơ chưa cưới bội ước v.v... lại mang tính tự truyện
rõ rệt. Vậy, sáng tác Lục Vân Tiên, tác giả nhằm mục đích gì? Trước hết, với tác
phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu muốn ca ngợi “trung hiếu”, “tiết hạnh”, đó là
những giá trò đạo đức lớn của thời đại ông. Ngay từ đầu tác phẩm, ông đã tuyên bố:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.
Quả thật, Nguyễn Đình Chiểu đã trung thành với những lời thơ giáo đầu của
ông trong việc tạo lập, tô điểm các nhân vật tác phẩm. Lục Vân Tiên, nhân vật
chính của tác phẩm là một chàng trai văn võ song toàn, nghóa hiệp cứu người, hiếu
thảo... Sau chặng đời hoạn nạn, chàng tiếp tục ứng thi, đỗ đạt, đánh tan giặc Ô Qua
cứu nước, cứu vua... Lục Vân Tiên là biểu tượng sáng ngời của phẩm chất trung
hiếu. Nếu như Lục Vân Tiên là con người điển hình cho “Trai thời trung hiếu làm
đầu” thì Nguyệt Nga lại là hình tượng nhân vật minh họa cho nguyên tắc “ Gái thời
tiết hạnh làm câu trau mình”. Nguyệt Nga mang ơn cứu nạn, âm thầm đem lòng
yêu và chung thủy đến cùng với Vân Tiên. Được tin Vân Tiên gặp nạn chết, dù
chưa là vợ chính thức, nàng vẫn quyết ở vậy thờ chàng đến trọn đời. Nguyệt Nga từ
chối lễ vật cầu hôn của nhà quan thái sư “sang cả ngôi cao”, bò cống giặc Ô Qua,
(1)

Nguyễn Đình Chiểu toàn tập , Sđd, Trang 75

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn



toàn về đạo đức, nhưng đáng chú ý hơn, nàng còn là biểu tượng đẹp về tình yêu,
tình người sâu nặng. Được Vân Tiên cứu nạn, nàng bạo dạn, thắm thiết với ân
nhân của mình. Cảm mến, nhớ nhung chàng trai nghóa hiệp mà nàng đã nguyện
“gá nghóa”, Nguyệt Nga “Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên” để rồi lúc nào
cũng mang theo bên mình kể cả khi nhảy xuống sông tự vẫn. Là người con gái
nặng ân nghóa, trước khi lên đường sang Ô Qua, nàng làm chay cho Vân Tiên, để
tiền của lại giúp Lục ông trong cảnh tuổi già đơn chiếc v.v...
Biểu tượng cho lòng nhân ái, nghóa hiệp, còn có các nhân vật khác như: ông
Quán, Hớn Minh, Tử Trực, chú tiểu đồng, ông Ngư, ông Tiều. Thấy Vân Tiên đột
ngột bỏ thi về quê chòu tang mẹ, ông Quán vẫn cố chạy theo “Đưa ba hườn thuốc
(1)

Nguyễn Đình Chiểu toàn tập , Sđd, Trang 35

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 12 –

để phòng hộ thân”. Hớn Minh là chàng trai xấu xí, thô lỗ nhưng nghóa hiệp, dũng
cảm. Chàng đã “bẻ giò” tên con quan huyện Đặng Sinh khi hắn ỉ thế cưỡng hiếp
con gái nhà lương thiện. Để khỏi liên lụy người khác, chàng lại tự trói mình nộp
cho huyện đường xin chòu tội. Khi tình cờ gặp lại Vân tiên trong cảnh mù lòa, Hớn
Minh an ủi bạn, săn sóc, thuốc thang như người ruột thòt. Tận tụy, hết lòng với Vân
Tiên trong hoạn nạn, mù lòa còn có chú tiểu đồng nhỏ bé, trung thành. Rồi ông
Tiều nhường cho Vân Tiên nắm cơm khi đói, ông Ngư đốt cho chàng lửa sưởi khi bò

phản diện, những kẻ bất nhân bất nghóa gồm cha con Võ Thể Loan, Trònh Hâm,
Bùi Kiệm, thầy thuốc lang băm, thầy pháp lừa bòp... Đó là lối kết cấu nhân vật phổ
biến trong các truyện thơ Nôm. Sáng tạo riêng của Nguyễn Đình Chiểu là sự đối
lập của hai tuyến nhân vật được thể hiện đến từng cặp một. Ví dụ, nếu Nguyệt Nga

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 13 –

thủy chung, ân nghóa sâu nặng thì Võ Thể Loan lại tráo trở, cơ hội đến lạnh lùng.
Hớn Minh, Tử Trực chí tình với bạn, Trònh Hâm, Bùi Kiệm lại hết sức phản trắc,
độc ác, bất nghóa. Chú tiểu đồng, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều sống có nghóa có
nhân còn các thầy thuốc lang băm, thầy pháp lại là những kẻ đang tâm lừa lọc, vơ
vét tiền của đẩy con bệnh đến bước đường cùng...
Thể hiện nhân vật qua ngoại hình, hành động, ngôn ngữ và mỗi nhân vật
mang một nét tính cách thống nhất, không thay đổi (hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc nhân
nghóa, bất nhân bất nghóa) đó là thi pháp xây dựng nhân vật của Lục Vân Tiên. Các
nhân vật Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Võ Thể Loan, Trònh Hâm đều
được khắc họa theo phương pháp này.
Là tác phẩm sáng tác để kể hơn là để đọc, để xem, ngôn ngữ Lục Vân Tiên
nhìn chung là giản dò, mộc mạc. Một trong những thành công của tác giả là đã tạo
lập được sắc thái riêng cho ngôn ngữ từng nhân vật. Thí dụ, lời lẽ của Nguyệt Nga
thì chân tình, tha thiết, Võ Thể Loan lại ăn nói đưa đẩy đến thớ lợ. Tính so đo, ganh
ghét khác thường của Trònh Hâm không giấu được qua cách nói hung hăng, đầy
thách thức của hắn v.v...

phân tích. Nhân vật tác phẩm tuy không có bề dày tính cách nhưng lại là phương
tiện để tác giả “bàn bạc, thảo luận” giúp thấy rõ tác hại của tà đạo, ý nghóa của
chính đạo. Kế tiếp xuất hiện trong tác phẩm là những lớp, cảnh mang tính chất hư
cấu về những điều mắt thấy tai nghe của nhân vật qua ba thế giới: trần gian, thiên
đường, đòa ngục. Viết Dương Từ Hà Mậu, mục đích Nguyễn Đình Chiểu nhằm phê
phán các tín đồ đạo Phật, đạo Thiên Chúa, khẳng đònh lại vò trí đạo Nho trong xã
hội. Theo tác giả, một nhà Nho, thì đạo Nho xứng đáng được tôn vinh vì nó có lợi
cho gia đình, xã hội, đất nước. Sự phê phán của tác giả đối với các tín đồ Phật giáo,
Thiên Chúa giáo u mê, lầm lạc không chỉ đơn giản xuất phát từ quan điểm, thiên
kiến của một nhà Nho mà còn có nguyên nhân từ thực tế xã hội, lòch sử. Với Phật
giáo, một tôn giáo từng có vai trò lớn trong lòch sử dân tộc, rất gần gũi với đời sống
(Σ)

Tóm tắt truyện: Thời Hậu Tấn có người tên là Hà Mậu, 60 tuổi chưa có con, gia đình
năm đời theo đạo Thiên Chúa. Sau giấc chiêm bao lạ, vợ Hà Mậu mang thai. Hà Mậu tưởng vợ
mang bệnh liền rước thầy chạy chữa. Theo lời mách bảo, Hà Mậu lên núi Tùng gặp Lý Tri Niên
người tu theo đạo tiên. Lý Tri Niên dẫn Hà Mậu gặp hai ông tiên Nam Tào và Bắc Đẩu. Hai tiên
khuyên Hà Mậu đổi đạo và báo rằng vợ lão sắp sinh hai người con gái. Hà Mậu trở về quả thấy vợ
đã sinh hai gái, liền quay lại núi Tùng gặp Lý Tri Niên.
Huyện Nam Khương có người tên là Dương Từ, theo đạo Phật, 56 tuổi vẫn chưa có con.
Dương Từ cùng vợ chăm chỉ làm ăn, siêng năng cầu cúng, sau bà vợ sinh hai con trai. Mãn nguyệt,
Dương Từ xuất gia đầu Phật, bỏ mặc vợ con đói khổ. Vì còn đôi chút hoài nghi về đạo của mình,
một lần Dương Từ xin thầy là Trần Kỷ “vân du”. Trong một cuộc vân du, Dương Từ gặp Hà Mậu,
hai người tranh cãi, bài bác đạo của nhau. Họ rủ nhau gặp Lý Tri Niên, Lý Tri Niên dẫn cả hai đi
gặp lão Nhan (người tu tiên đắc đạo). Lão Nhan xuất hồn cho Dương Từ, Hà Mậu lên thiên đường.
Nơi đây, hai người chẳng hề thấy Chúa Giê Su, đức Phật, những người thân thích mà chỉ thấy Khổng
Tử cùng các đại hiền. Xuất hồn xuống đòa ngục, lại thấy vô số tội nhân trong đó có những người họ
hàng đã quá cố của mình. Những người này khuyên Dương Từ, Hà Mậu bỏ tà đạo (đạo Thiên Chúa,
đạo Phật) theo chính đạo (đạo Nho). Dương Từ, Hà Mậu hoàn hồn về dương thế cải tà qui chính, bỏ
đạo tà theo đạo chính, gia đình sum họp đầm ấm, hạnh phúc.

ba thế giới. Đến đâu Dương Từ, Hà Mậu cũng bò thần, người cật vấn, đả kích mối
đạo mà họ đeo đuổi. Nơi nào hai con người này cũng thấy các tín đồ đạo Nho, thấy
“tam cương, ngũ thường” được trọng vọng, đề cao. Bài thơ của Hà Mậu nghe đạo só
Lý Tri Niên ngâm nga, ca ngợi đạo Nho là: “Mối đạo trời trao đức thánh ta” là
“Hai chữ cương thường dằn các nước, Một câu trung hiếu dựng muôn nhà”. Những
người tu theo đạo Chúa là “bầy ngu theo thói mọi”, vì họ “ Trời gần chẳng kính
kính trời xa” v.v... Dọc đường vân du, Dương Từ chỉ gặp những người chê trách,
bài bác mình. Trong một giấc mơ, ông ta thấy một viên quan tòa qû mắng, hạch
sách mình là người vô trách nhiệm với tổ tiên, với vua, với nước:
Tổ tiên đã chút đền chi,
Vùa hương bát nước mấy khi phụng thờ.
Áo cơm còn nợ sờ sờ,
Ngọn rau con cá cũng nhờ đất vua.
Trốn xâu lánh thuế vô chùa,
Trong đời những sãi thì vua nhờ gì?
Cùng với Lục Vân Tiên, truyện thơ Dương Từ Hà Mậu giải thích vì sao trong
cuộc kháng chiến chống Pháp đầy hi sinh, mất mát ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX,
Nguyễn Đình Chiểu đã có thể viết được những bài văn tế hùng hồn, chan chứa tinh
thần bất khuất của dân tộc. Lòng lo nước, yêu nước luôn là động lực chính trong
sáng tác văn chương của Đồ Chiểu.
[

Th.S Phan Thò Hồng

[

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ há để ai chém rắn đuổi hươu,
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa đâu dung lũ treo dê bán chó
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi chuyến này dốc ra tay bộ hồ...
Trận giáp chiến giữa những người nông dân trang bò vũ khí thô sơ nhưng lại
quật cường về sức mạnh tinh thần với đội quân thực dân có đầy đủ các loại vũ khí
hiện đại được diễn tả hào hùng:
- Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới coi
giặc cũng như không,

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 17 –

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình
như chẳng có.
Kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh,
Bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ...
Dường như Nguyễn Đình Chiểu quên rằng ông đang viết một bài văn tế khi
say sưa miêu tả cuộc chiến của các nghóa só. Với giọng văn lâm li, thống thiết, nhòp
điệu dồn dập, tác giả đã diễn tả nồng nhiệt, sống động cuộc chiến đấu anh dũng.
Tinh thần giữ nước bất khuất vốn đã trở thành truyền thống của người dân Việt


Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 18 –

lãnh đạo là một phong trào lớn, có sức tập hợp dân chúng mạnh mẽ. Nhưng cuộc
chiến không cân sức đã khiến phong trào bò dập tắt, thủ lónh Trương Đònh hi sinh.
Ngoài 12 bài thơ viếng liên hoàn theo thể thất ngôn bát cú, viết về thân thế
sự nghiệp của Trương Đònh, bài Văn tế Trương Đònh là một tác phẩm xuất sắc của
Đồ Chiểu. Bài văn là tiếng khóc xót xa, tiếng ca hào hùng, bi thống đối với sự
nghiệp dang dở của người anh hùng lục tỉnh. Với Nguyễn Đình Chiểu, Trương Đònh
thời bình là một con người chính đại, một tướng quân có tài với “pháp binh trăm
trận đã lâu” “Võ nghệ mấy ban cũng trải”. Cũng như bất kỳ một người đương thời
nào khác, phó lãnh binh Trương Đònh cũng băn khoăn, lưỡng lự khi nhận được
chiếu chỉ triều đình điều đi nhận chức mới, rời bỏ kháng chiến. Sự cân nhắc giằng
xé trong tâm trạng của người thủ lónh yêu nước, yêu dân được Nguyễn Đình Chiểu
ghi lại bằng một câu văn tế: “Đã đành tấm giấy tựu phong phận thần tử há đâu dám
cãi!”. Nhưng lòng dân lục tỉnh yêu nước đã khiến người chủ tướng thêm quyết đoán
để quay ngựa tiếp tục sự nghiệp. Về sự việc này, Nguyễn Đình Chiểu viết gọn
trong hai dòng văn tế:
- Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền,
Theo bụng dân phải chòu tướng quân phù gánh vác một vai khổn ngoại.
Để “theo bụng dân” mà tạm quên đi “phận thần tử” người yêu nước phải can đảm
và thật sự vì dân vì nước. Với những dòng văn chân phương nhưng đầy sức nén,
Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng khái ca ngợi hành động trái mệnh thiên tử của

chiến của Trương Đònh lại thất bại. Đó là vì sự hơn hẳn về phương tiện chiến tranh
của đòch, vì nghóa quân chiến đấu đơn độc. Trương Đònh ý thức được tình thế của
mình, nhưng không vì thế mà ông lùi bước. Ông cùng dân chiến đấu mong đạt được
thành công nhưng không phải vì thành công mà ông quá băn khoăn, suy tính.
Nguyễn Đình Chiểu gần như nhập hồn vào suy nghó người chủ tướng dũng cảm khi
viết những dòng văn tế:
-Vì nước tấm thân đã gửi còn mất cũng cam,
Giúp đời cái nghóa đáng làm nên hư nào nại.
Quan niệm về nghóa cả, lẽ sống chết này đã từng được tác giả khẳng đònh
trong bài Văn tế nghóa só Cần Giuộc. Vì nghóa là lẽ sống của những nhân vật lý
tưởng trong văn chương của Đồ Chiểu từ Lục Vân Tiên đến đội nghóa só Cần Giuộc,
nghóa tướng Trương Đònh, Phan Tòng v.v...
[

[
[

5. Ngư tiều y thuật vấn đáp
Ngư tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm chứa chan nỗi buồn trước cảnh giang
sơn chia xé, là tiếng nói khẳng đònh nhân cách của kẻ só. Bằng nghệ thuật mượn
xưa nói nay, câu chuyện về hình thức được đẩy lùi về quá khứ hàng chục thế kỷ.
Thời Hậu Tấn, bất bình với việc vua Thạch Kính Đường cắt đất dâng cho giặc
ngoại xâm hai kẻ só U, Yên là Mộng Thê Triền và Bào Tử Phược “treo kinh dẹp
sử” chọn nghề kiếm củi, đánh cá sống tạm qua ngày. Nhưng không cầm lòng trước
cảnh vợ đau, con yếu “lầm nhằng thuốc nhăng” họ tìm thầy học thuốc. Không gặp
được danh y Kỳ Nhân Sư nhưng họ được Chu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn (học trò
Kỳ Nhân Sư) hướng dẫn tận tình nghề thuốc. Trở về, Ngư Tiều “cải nghiệp tiều
ngư” ra sức trau dồi, thực hành nghề thuốc.
Nét đặc sắc của tác phẩm thể hiện ở sự đan xen giữa nội dung y học với nỗi
đau đất nước chia cắt. Là một nhà Nho thông kinh bác sử, tình cảm tác giả được gửi

Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương.
Cỏ cây gie nhánh đón đường,
Như tuồng níu hỏi Đông hoàng ở đâu?
Bên non đá cụm cúi đầu,
Như tuồng oan khúc lạy cầu cứu sinh.
Líu lo chim hót trên cành,
Như tuồng kể mách tình hình dân đau...
Không chỉ Mộng Thê Triền, Bào Tử Phược mang nỗi đau mất nước mà Chu
Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn, Kỳ Nhân Sư đều có cùng tâm trạng. Kỳ Nhân Sư con
người “trong mình đủ chước kinh luân, Thêm trau đạo đức mười phân rõ ràng” bỏ
công danh sự nghiệp quyết cứu “nước loàn”, “dân mạc” bằng con đường y học.
Chu Đạo Dẫn người đóng vai tìm kiếm, dẫn đường bạn đồng chí, đồng tình sau
những lời than thở “trời đông sùi sụt gió mưa Tây” không quên kêu gọi, tập hợp
những người đồng chí với các cẩm nang “trận đồ tám quẻ” “binh pháp năm mùi”...
Các đoạn thơ diễn tả tâm tư nhân vật là chất keo liên kết hai phần của tác phẩm: Y
học và khát vọng cứu nước cứu dân. Tình cảm yêu nước, thương dân là mạch cảm
hứng chủ đạo xuyên suốt trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp.
Tác phẩm còn là sự khẳng đònh những nhân cách lớn, lẽ sống đẹp của kẻ só
trong điều kiện đất nước tăm tối. Họ là những hiền só, những “thầy nhu” văn võ
song toàn, đạo đức trọn vẹn. Thời thế đảo điên, dân tình khốn khổ họ không đua
chen danh lợi mà “ôm tài giấu tiếng làm Tiều làm Ngư”. Tuy thế, không chỉ than

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX


Cần Giuộc, Văn tế Trương Đònh đến Ngư Tiều y thuật vấn đáp là những con thuyền
ngôn ngữ, hình tượng lớn chở đạo, đạo yêu nước, yêu dân, đạo nhân nghóa ...
[]
VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Nội dung và một số đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ Lục Vân Tiên.
2. Hình ảnh những người anh hùng cứu quốc trong Văn tế nghóa só Cần Giuộc và
Văn tế Trương Đònh của Nguyễn Đình Chiểu.

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 22 –

3. Nội dung của truyện thơ Dương Từ Hà Mậu và Ngư Tiều y thuật vấn đáp.

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 23 –

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU KHÁC
I. Nguyễn Thông (1827 – 1884)

quan lại, cường hào nhũng lạm của dân. Đây cũng là thời gian Nguyễn
Thông bò vu cáo, bò bắt giam và xử trượng. Nhân dân hiểu ông nên có người
lặn lội ra tận Huế kêu oan cho ông. Hai việc Nguyễn Thông đề nghò về
triều được chấp thuận thi hành trong các tỉnh đó là việc tổ chức trồng cây,

Th.S Phan Thò Hồng

Khoa Ngữ Văn


Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

- 24 –

đònh rõ việc học sử và ban cấp sách học cho các trường. Ông còn gởi sớ lên
vua đề nghò lập đồn điền, khai khẩn miền Tây Nguyên (từ biên giới
Campuchia đến Quảng Trò). Đề nghò được triều đình chấp thuận nhưng kế
hoạch không thực hiện được vì bò thực dân Pháp ngăn trở.

2. Một số nội dung thơ Nguyễn Thông
Những bài thơ tiễn biệt chiếm một tỉ lệ đáng kể trong di sản thơ Nguyễn
Thông. Nhiều bài thơ của ông viết ra để tiễn đưa người đi xa như tiễn bạn bè đi
nhận chức, đi công cán, tiễn vợ về quê ... Số lượng không nhỏ những bài thơ tiễn
biệt trong thơ Nguyễn Thông nói lên rằng ông là một người rất trân trọng tình bạn,
giàu tình cảm.
Bài Tống Nguyễn Thiện quan trì tiết Gia Đònh kiêm lãnh sự (Đưa ông
Nguyễn Thiện vâng mệnh vua vào Gia Đònh kiêm chức lãnh sự) vừa chất chứa nỗi lo
chung đối với vận mệnh đất nước và truyền tải một tình bạn gắn bó. Nguyễn Thông
chia xẻ tâm trạng bâng khuâng, nỗi ưu tư trong phút giây chia tay với người bạn già
của mình, ông viết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status