Lời cảm ơn
Trong quá trình làm công tác quản lí chuyên môn cấp học tiểu học
tỉnh Lào Cai tôi nhận thấy mình còn lúng túng trong chỉ đạo dạy học hình
học cho học sinh vùng khó khăn. Được sự động viên, khuyến khích của
thầy giáo Nguyễn Năng Tâm tôi đã chọn nghiên cứu đề tài Dạy học hình học
cho học sinh tiểu học vùng khó khăn tỉnh Lào Cai.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Hội đồng khoa học, Phòng Sau Đại học,
tập thể các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
tại trường, đã cho tôi được học tập trong môi trường thân thiện, được tiếp cận với
những tri thức khoa học mới, được làm quen với ứng dụng công nghệ thông tin
vào quá trình dạy học và được học cách nghiên cứu khoa học.
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
thầy giáo Nguyễn Năng Tâm đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong quá trình nghiên
cứu làm luận văn. Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Lào Cai, các thầy cô giáo của các trường tiểu học A Mú Sung, Xuân
Giao, Tân Tiến, Bản Phố, Tả Gia Khâu, Trung Chải, Sán Chải, Chiềng Ken số
2 đã giúp tôi thực hiện thử nghiệm thành công đề tài này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
6. Cấu trúc của luận văn
8
Phần nội dung
10
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
10
1. Cơ sở lý luận
10
2. Cơ sở thực tiễn
13
2.1. Chương trình và nội dung dạy học hình học ở tiểu học
13
2.2. Thực trạng việc dạy học hình học cho học sinh tiểu học vùng khó khăn
tỉnh Lào Cai
16
3. Kết luận chương 1
6. Kết luận chương 2
63
Chương 3. Thử nghiệm sư phạm
64
1. Mục đích thử nghiệm
64
2. Đối tượng thử nghiệm
64
3. Nội dung thử nghiệm
66
4. Tổ chức thực nghiệm
68
5. Kết quả thử nghiệm
69
6. Kết luận chương 3
khái niệm cơ bản, sơ đẳng về toán học. Hơn thế, nó còn giúp học sinh hình
thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa và suy luận lôgic.
Các mạch kiến thức chủ yếu trong chương trình môn Toán là số học, hình học,
đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn được sắp xếp đan xen nhưng
cũng được hình thành tương đối rõ ràng theo kiểu đồng tâm mở rộng và có
quan hệ gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau trên cơ sở số học làm hạt nhân. Các yếu tố
hình học là một mạch kiến thức trong chương trình toán ở Tiểu học nhằm
cung cấp một số kiến thức gắn với thực hành trong đời sống thực tế và được
đưa vào từ lớp 1.
Do đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học, việc dạy học các yếu
tố hình học chưa thể dựa trên phép suy diễn, mà chủ yếu dựa trên sự quan sát,
thực hành, giúp học sinh bước đầu tiếp xúc với các biểu tượng hình học cơ
bản, một số tính chất của các hình hình học. Mảng kiến thức này tương đối
5
trừu tượng, trong khi đó nhận thức của học sinh tiểu học vùng khó khăn mang
đậm tính trực quan, cảm tính và cụ thể nên học sinh gặp không ít khó khăn
trong quá trình nhận thức. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải dạy yếu tố hình học
cho học sinh tiểu học vùng khó như thế nào để đạt được hiệu quả cao.
Dạy học yếu tố hình học ở tiểu học vùng khó khăn có vai trò rất quan
trọng, là cơ sở giúp học sinh tiếp thu được những kiến thức hình học ở những
bậc học tiếp theo. Đồng thời nó giúp học sinh tiểu học rèn luyện kỹ vẽ, cắt,
ghép hình, củng cố kiến thức toán học khác có liên quan như số học, giải toán
có lời văn... Trên cơ sở đó, trẻ có khả năng phát triển sáng tạo, năng động, biết
vận dụng những kiến thức đã học vào trong đời sống thực tiễn của các em.
Mặc dầu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu song cho đến nay vẫn
còn nhiều vấn đề khó khăn trong dạy học các yếu tố hình học cho học sinh
tiểu học, nhất là học sinh vùng khó khăn trong cả nước nói chung và vùng khó
khăn tỉnh Lào Cai nói riêng. Thực tiễn trong nhà trường tiểu học vùng khó
Bộ Giáo Dục và Đào tạo, sách tham khảo ở tiểu học, Tạp chí tiểu học.
* Điều tra, quan sát
Thông qua kiểm tra, dự giờ và khảo sát chất lượng học sinh đầu năm học
và kiểm tra định kì và hội thảo chia sẻ kinh nghiệm dạy học toán vùng khó
khăn của 162 trường tiểu học tỉnh Lào Cai; Tìm hiểu thực trạng dạy học hình
học ở 9 trường tiểu học với 28 điểm trường của 9 huyện, thành phố và thông
qua 1800 phiếu điều tra học sinh từ lớp 1 đến lớp 5.
* Tổng kết kinh nghiệm: Đúc rút kinh nghiệm của bản thân và của những
nhà giáo giỏi trong vùng khó khăn.
7
* Thực nghiệm sư phạm: Kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả bước đầu
của những biện pháp đề xuất.
5. Những vấn đề chính được nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng dạy học một số yếu tố hình học ở vùng khó khăn
tỉnh Lào Cai và xác định một số biện pháp khả thi giúp giáo viên dạy học hình
học ở vùng khó khăn có quy trình dạy học thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5 trong
chương trình môn Toán.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn
được cấu trúc thành 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
1. Cơ sở lí luận
Một số đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Chương trình và nội dung dạy học hình học ở tiểu học
1. Cơ sở lí luận
Cấp tiểu học có từ lớp 1 đến lớp 5 dành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi (đối với
một số trẻ em không có điều kiện bình thường để đi học đúng tuổi có thể có
trẻ em ở độ tuổi 13 đến 14 tuổi). Nhìn tổng thể học sinh tiểu học có 3 đặc
trưng sau:
Thứ nhất, là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển ( khả năng hiện
thực và khả năng tiềm ẩn). Là thực thể hồn nhiên nên trẻ em ngây thơ trong sáng.
Bản tính của trẻ em luôn được thể hiện ra bên ngoài không có sự che giấu, không
hề đóng kịch. Vì vậy cần tạo cho các em một môi trường giáo dục để giữ gìn và
tôn trọng bản tính hồn nhiên và khơi dạy khả năng phát triển tiềm tàng ở mỗi trẻ
em. Tuy nhiên, không vì thế mà nhà trường đem đến cho trẻ chương trình học
quá tải, không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em.
Thứ 2, là nhân cách đang hình thành: ở lứa tuổi này học sinh đang phát
triển và hoàn thiện về cơ thể (sinh lí) và đang phát triển về tâm hồn (tâm lí),
chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực để tồn tại như một công dân
trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của nhà
trường, gia đình và xã hội.
Thứ 3, hoạt động học là hoạt động chủ đạo: Học sinh tiểu học chuyển từ
hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học là hoạt động chủ
đạo. Hoạt động học có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự phát triển
tâm lí của học sinh tiểu học.
Vì vậy, học sinh tiểu học mang một số đặc điểm tâm lí sau:
10
Tri giác: Học sinh tiểu học thường tri giác trên tổng thể. Học sinh các lớp
đầu cấp tiểu học khi tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực
tiễn của bản thân. Về sau, các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn
chưa hoàn toàn tổng quát. Học sinh có khả năng nhận thức về cái bất biến và
hình thành khái niệm bảo toàn, tư duy có bước tiến rất quan trọng phân biệt
được phương diện định tính với định lượng - điều kiện ban đầu cần thiết để
hình thành khái niệm "số".
Học sinh cuối cấp học có những tiến bộ về nhận thức không gian như phối
hợp cách nhìn một hình hộp từ các phía khác nhau, nhận thức được các quan
hệ giữa các hình với nhau ngoài các quan hệ trong nội bộ một hình.
Học sinh tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp,
trừu tượng hoá - khái quát hoá và những hình thức đơn giản của sự suy luận,
phán đoán. ở học sinh tiểu học, phân tích và tổng hợp không phát triển đồng
đều, tổng hợp có khi không đúng hoặc không đầy đủ dẫn đến khái quát sai
trong quá trình hình thành khái niệm.
Các khái niệm toán học được hình thành qua trừu tượng hoá và khái quát
hoá nhưng thế chỉ dựa vào tri giác bởi khái niệm toán học còn là kết quả của
các thao tác tư duy đặc thù. Có hai dạng trừu tượng hoá: sự trựu tượng hoá từ
các đồ vật, hiện tượng cảm tính và sự trượng hoá từ các hành động. Khi thực
hiện trừu tượng hoá nhằm rút ra những dấu hiệu bản chất.
Học sinh tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp thường phán đoán theo cảm
nhận riêng nên suy luận thường mang tính tuyệt đối. Trong học toán học sinh
khó nhận thức về quan hệ kéo theo trong suy diễn.
12
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Chương trình và nội dung dạy học hình học ở tiểu học
2.1.1. Chương trình và nội dung môn Toán ở tiểu học
Toán học hiện đại giống như một tòa lâu đài được xây dựng ở trên ba cột
trụ là ba cấu trúc lớn là: Cấu trúc đại số (cấu trúc của quan hệ hợp thành), cấu
trúc thứ tự (cấu trúc của quan hệ trước sau), cấu trúc của tô-pô (cấu trúc của
pháp dạy học, giúp học sinh phát triển tốt nhất năng lực cá nhân. Điều này phù
hợp với tính thống nhất của toán học hiện đại. Chẳng hạn, ở lớp 3 cùng với
việc học sinh học bảng nhân, bảng chia thì vấn đề diện tích bắt đầu được đưa
vào giúp các em vận dụng kiến thức kĩ năng vừa học của bài phép nhân và
phép chia để tính toán trên số đo diện tích.
Nội dung hình học ở tiểu học cũng được cấu trúc theo kiểu đồng tâm, được
phân chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu chủ yếu dạy học sinh nhận dạng
đúng các hình và giai đoạn sau dạy học sinh cách nhận biết hình thông qua đo
đạc, tính toán, nhận biết hình thông qua đặc điểm về cạnh và góc của hình đó.
Giai đoạn 1: Gồm các lớp 1, 2, 3 chủ yếu dạy những kiến thức gần gũi với
trẻ em, sử dụng kinh nghiệm sống của các em, chuẩn bị những phương tiện
trực quan, cụ thể chưa tường minh để nhận thức những tri thức toán học ở
dạng tổng thể. Kết thúc giai đoạn học toán này, học sinh đã có những kĩ năng
cơ bản nhất.
Giai đoạn 2: Nội dung dạy học các yếu tố hình học ở lớp 4, 5 kế thừa và
phát triển nội dung dạy học các yếu tố hình học ở giai đoạn các lớp 1, 2, 3
nhưng ở mức sâu hơn, khái quát hơn, tường minh hơn. Chẳng hạn, ở lớp 3 chỉ
yêu cầu học sinh nhận biết về góc, phân biệt góc vuông và góc không vuông.
Nhưng ở lớp 4 dựa trên cơ sở so sánh trực quan với góc vuông, học sinh nhận
14
biết thêm về góc nhọn, góc tù, góc bẹt. Kéo dài hai cạnh của hình chữ nhật sẽ
được hình ảnh về hai đường thẳng vuông góc hoặc song song với nhau, đồng
thời qua đó học sinh hiểu sâu hơn về đặc điểm của hình chữ nhật. Ngoài ra,
học sinh còn được giới thiệu về hình bình hành, hình thoi và đặc điểm của các
hình đó.
Các yếu tố hình học ở lớp 4, 5 không bố trí thành chương riêng mà được bố
trí xen kẽ với việc dạy số học và các mạch kiến thức khác. Chẳng hạn, diện
Lớp 4: Góc nhọn, góc tù, góc bẹt; Nhận dạng góc trong các hình đã học;
Giới thiệu hai đường thẳng cắt nhau, vuông góc với nhau, song song với nhau;
Giới thiệu về hình bình hành và hình thoi; Giới thiệu công thức tính diện tích
hình bình hành (đáy, chiều cao) hình thoi; Thực hành vẽ hình bằng thước và
eke; cắt, ghép, gấp hình.
Lớp 5: Tính diện tích tam giác, hình thoi, hình thang; Tính chu vi và diện
tích hình tròn; Giới thiệu hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình
cầu; Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ
nhật, hình lập phương; Giới thiệu công thức tính diện tích xung quanh, diện
tích toàn phần và thể tích hình trụ, hình cầu.
2.2. Thực trạng dạy học hình học cho học sinh tiểu học vùng khó khăn tỉnh
Lào Cai
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh Lào Cai
Đặc điểm tự nhiên: Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm chính giữa vùng
Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 350 km, diện tích tự
nhiên 6.357,08 km2, là tỉnh có diện tích đứng thứ 19/63 tỉnh, thành phố cả nước,
có 203 km đường biên giới với nước láng giềng Trung Quốc. Địa hình của tỉnh
phân tầng độ cao lớn, sông và núi chia cắt địa hình. Do địa hình phức tạp nên khí
hậu có phần thay đổi, khắc nghiệt với mùa đông lạnh giá: Nhiệt độ trung bình
năm thấp, một số vùng nhiệt độ trung bình phổ biến khoảng 15-200 C; có nơi
16
dưới 100C, sương mù dày đặc, ở những vùng núi cao rét đậm, kèm theo sương
muối, thậm chí nước đóng băng, có tuyết rơi vào mùa đông. Với gần 60 vạn
người (số liệu tổng hợp sơ bộ tổng điều tra dân số tháng 5/2005), gồm 25
nhóm ngành dân tộc (64,09% dân số toàn tỉnh, trong đó dân tộc Mông chiếm
đa số, tiếp đến là dân tộc Tày, Dao, Thái), dân cư sống thưa thớt, mật độ
dân cư: 91 người/km2. Tỉnh Lào Cai gồm 8 huyện và 01 thành phố với 164 xã,
khó khăn, sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp là chủ yếu với phương thức
canh tác truyền thống, tình trạng thiếu đói khi giáp vụ khá phổ biến. Giao
thông đi lại trong xã còn nhiều khó khăn, có xã có thôn xa nhất phải đi bộ 10
tiếng mới về được trung tâm xã, những ngày mưa lũ sạt lở đồi núi thì giao
thông còn khó khăn gấp bội giữa các thôn bản, giữa các xã, giữa các huyện và
với tỉnh bạn. Các dịch vụ xã hội còn nhiều hạn chế nên các gia đình sống ở
vùng khó khăn này không có khả năng tài chính để chi phí cho giáo dục như:
bảo dưỡng và tu sửa nhà trường, chăm sóc dinh dưỡng cho con em họ, thiếu
quần áo ấm về mùa đông; một số phong tục, tập quán lạc hậu chưa xóa bỏ
được nên ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục như: tập tục kiêng gió, xuống
đồng... Có nhiều thôn bản chỉ có 7 đến 10 hộ dân sống rải rác nên đồng bào
dân tộc ít có sự giao lưu kinh tế với các dân tộc khác trên cùng địa bàn.
Những khó khăn trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục dựa
vào chỉ số phát triển con người (HDI) được tính bằng cách tổng hợp các mức
thu nhập, sức khỏe và giáo dục của mỗi địa phương. Tỉnh Lào Cai xếp vào
nhóm các tỉnh có chỉ số thấp nhất trong cả nước (đứng thứ 6), năm 2007 có
146 xã thuộc vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn (Theo Quyết định số
30/2007/QĐ-TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh
mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn).
2.2.2. Thực trạng giáo dục tiểu học vùng khó khăn tỉnh Lào Cai
* Thuận lợi
Lào Cai đã chú trọng mở rộng mạng lưới trường, lớp cấp giáo dục tiểu học,
xây dựng đề án phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi. Tất cả các xã, phường của Lào Cai có trường lớp từ mầm non đến
trung học cơ sở, các điểm trường lẻ có lớp mầm non, lớp tiểu học; hệ thống
18
trường lớp đã bám chặt vào các khu dân cư để đáp ứng nhu cầu học tập của
nhân dân; tạo cơ hội cho người dân tộc thiểu số được học tập, giao lưu văn
dựng được đội ngũ cốt cán tiểu học gồm 104 người, phụ trách các môn học;
làm tốt công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra; công tác xã hội hóa giáo dục; dạy
học tăng cường tiếng Việt, lớp học tiếng dân tộc, học 2 buổi/ngày
* Khó khăn
Trong thực tế, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều khó khăn
tham gia vào giáo dục tiểu học như: Trường có nhiều điểm lẻ, cơ sở vật chất
thiếu thốn, đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên ít có kinh nghiệm trong công
tác giáo dục vùng khó khăn Những ngày mưa rét ở vùng khó khăn thì tỉ lệ
chuyên cần chỉ đạt 40-50%; tỉ lệ lưu ban, bỏ học cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới sự duy trì vững chắc của công tác phổ cập giáo dục tiểu học, một số xã
vùng khó khăn tỉ lệ lưu ban chiếm 7%, bỏ học 3%.
Sau 5 năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa tiểu học (20022007), những bất cập chung về nội dung sách giáo khoa môn Toán đối với các
vùng miền trong cả nước rất khó thống nhất về mục tiêu chương trình môn
Toán cần đạt sau 5 năm hoàn thành chương trình tiểu học. Hay một chương
trình một bộ sách giáo khoa chung cho toàn quốc là nguyên nhân dẫn đến sự
không đồng đều về chất lượng học tập của học sinh các dân tộc sinh sống ở
các vùng miền khác nhau. Vì theo công văn số 9890/BGDĐT - GDTH ngày
17/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn nội dung,
phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn cho các tỉnh, thành
phố trong cả nước viết: "Đối với học sinh khó khăn cần tập trung giảng dạy
vào 2 môn tiếng Việt và Toán. Việc lựa chọn nội dung chính trong một tiết dạy
để dạy cho từng đối tượng học sinh trong một lớp do giáo viên quyết định".
Nhiều hiệu trưởng còn lúng túng trong quá trình chỉ đạo chuyên môn và
hướng dẫn giáo viên thực hiện đúng quy trình đổi mới phương pháp dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh, lựa chọn nội dung từng tiết dạy, từng môn học
để đảm bảo tính vừa sức với học sinh.
Trình độ giáo viên không đồng đều, đa số giáo viên có đủ trình độ học vấn,
giáo viên được tập huấn thay sách nhưng chưa thực sự đổi mới phương pháp
dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Khi dạy học sinh vùng khó khăn, vùng
Những khó khăn đó là nguyên nhân chủ yếu góp phần tạo nên sự chênh
lệch về chất lượng dạy học giữa các lớp trong một trường, giữa các trường
trong huyện, trong tỉnh.
21
2.2.3. Thực trạng dạy học toán nói chung và dạy học hình học nói riêng cho
học sinh tiểu học vùng khó khăn tỉnh Lào Cai
Đặc thù vùng khó khăn tỉnh Lào Cai có 25 nhóm ngành dân tộc khác nhau,
nhiều điểm trường lẻ, nhiều lớp ghép. Có những lớp học có 7 học sinh dân tộc
khác nhau cùng học, đặc biệt là học sinh lớp 1 cần giúp đỡ nhiều về kĩ thuật
dạy học đến từng đối tượng học sinh mà nhiều giáo viên vùng khó khăn, giáo
viên là người dân tộc còn hạn chế cách khai thác nội dung bài dạy hình thành
các biểu tượng hình học, dạy đại lượng hình học, khai thác nội dung bài tập
phát triển trí tuệ cho học sinh.
Ví dụ: Khi dạy hình thành biểu tượng về diện tích của một hình, chúng ta
chưa định nghĩa khái niệm mà chỉ mô tả thông qua hình ảnh trực quan. Đa số
giáo viên dạy ở vùng khó khăn chỉ cho học sinh quan sát tranh ở trong sách
giáo khoa hay vẽ lên bảng hoặc các em quan sát cô thao tác trên đồ vật để học
sinh nhận xét, nếu học sinh không nói được nhận xét thì giáo viên nhận xét và
học sinh nói theo. Vì vậy học sinh khó hiểu được bản chất của biểu tượng về
diện tích của một hình một cách chính xác.
Trên cơ sở triển khai 5 năm thực hiện chương trình tiểu học hiện hành, Bộ
GD&ĐT chỉ đạo vùng khó khăn trong cả nước thực hiện dạy học theo hướng
dẫn dạy học theo vùng miền, giáo viên tự tinh giản nội dung bài dạy giúp học
sinh có thể hiểu và làm bài tập áp dụng theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của
chương trình, nhưng trên thực tế giáo viên không biết sẽ tinh giản nội dung
nào cho phù hợp với đối tượng học sinh và cũng không nắm được tính hệ
thống của mạch kiến thức trong chương trình và chưa chú ý rèn luyện kĩ năng
và học sinh tiểu học vùng khó khăn. Nghiên cứu nội dung và chương trình
hình học ở tiểu học. Thực trạng dạy học hình học vùng khó khăn tỉnh Lào Cai.
23
Chương 2. Dạy học một số yếu tố hình học
cho học sinh tiểu học vùng khó khăn
1. Hình thành một số biểu tượng ban đầu về một số hình hình học
cho học sinh tiểu học
1.1. Luận điểm cơ bản trong dạy học hình thành biểu tượng hình hình học
ở tiểu học
Học sinh tiểu học vùng khó khăn, tư duy trực quan chiếm ưu thế, học sinh
suy nghĩ dựa vào hình ảnh, biểu tượng cụ thể, tạo lại một hình hình học theo
mẫu dễ hơn mô tả đặc điểm của nó, vì vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều
(ngôn ngữ là công cụ của tư duy). Khi dạy hình hình học cho học sinh chủ yếu
theo mức độ "xem xét, phân biệt các hình trong toàn thể". Ngay từ tuổi mẫu
giáo trẻ em đã có những biểu tượng đầu tiên về hình dạng, kích thước của một
số đối tượng hình học. Vì vậy, khi dạy học giáo viên cần phải dựa trên những
kinh nghiệm đã có của trẻ, giúp học sinh từ chỗ nhận dạng tổng thể đến có
biểu tượng ngày càng đầy đủ và chính xác về một số hình hình học đơn giản;
giúp học sinh nhận biết các đối tượng hình học qua các hình vẽ qui ước; biết
cách kí hiệu hình bằng chữ cái và sử dụng thuật ngữ để gọi đúng tên và phân
biệt các hình...
Việc hình thành các biểu tượng hình học ở tiểu học tuân theo các quy luật
chung của lí luận nhận thức:
Đồ vật, hiện tượng
cảm tính
Lớp 1: Hình thành biểu tượng về hình vuông, hình tròn, hình tam giác;
Điểm và đoạn thẳng; Điểm ở trong và ở ngoài một hình.
Lớp 2: Hình thành biểu tượng về đường thẳng; Ba điểm thẳng hàng; Đường
gấp khúc; Hình tứ giác, hình chữ nhật; Hình thành khái niệm ban đầu về chu
vi của một hình đơn giản
25