BÀI THUYẾT TRÌNH xử lý nền đất yếu BẰNG PHƯƠNG PHÁP THAY đất (đệm cát) - Pdf 33

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GTVT
CƠ SỞ THÁI NGUYÊN

H

BÀI THUYẾT TRÌNH
XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG PHƯƠNG PHÁP THAY ĐẤT ( ĐỆM CÁT)
LỚP 64DCCD03: NHÓM 7

GVHD: BÙI THỊ THÙY

sinh viên thực hiện: Lê Tuấn Anh.
Nguyễn Tuấn Anh.

.

Phạm Ngọc Cảnh.
Hoàng Ngọc Đoàn.


BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG PHƯƠNG PHÁP THAY ĐẤT ( ĐỆM CÁT)

1. KHÁI NI ỆM



Thay đất là đào bỏ một phần lớp đất yếu đến chiều sâu do tính toán yêu cầu và sau đó thay bằng lớp cát, cuội sỏi được đầm

chặt; vật liệu thường được sử dụng là cát nên phương pháp này còn có tên gọi là đệm cát. Như vậy phía dưới tầng đệm cát có


Ngoài ra tầng đệm cát còn tăng nhanh khả năng thoát nước cố kết từ phía dưới đất yếu lên mặt đất tự nhiên dưới tác

dụng của tải trọng công trình.

Tuy nhiên, khi sử dụng biện pháp đệm cát cần phải chú ý đến trường hợp sinh ra hiện tượng cát chảy, xói ngầm trong nền
do nước ngầm hoặc hiện tượng hóa lỏng do tác dụng của tải trọng động.

Nhóm 7


Những trường hợp sau đây không nên sử dụng đệm cát :

• Lớp đất phải thay thế có chiều dày lớn hơn 3m, lúc này đệm cát có chiều dày lớn, thi công khó khăn, không kinh tế.



Mực nước ngầm cao và có áp. Lúc này hạ mực nước ngầm rất tốn kém và đệm cát không ổn định.

Nhóm 7


2. Ưu nhược điểm, phạm vi áp dụng



Ưu, Nhược Điểm:





Dưới đáy móng là một tầng đất yếu, tải trọng cho phép quá nhỏ, để có thể chịu được lực cần đặt đáy móng sâu hơn như

vây thi công lại khó khăn và giá thành tăng cao.



Những công trình chịu tải trọng không lớn lắm hoặc không yêu cầu chặt chẽ về biến dạng lún.



Những nơi mực nước ngầm ổn định hoặc không có nước ngầm.



Sử dụng hiệu quả cho các lớp đất yếu ở trạng thái bão hòa nước (sét nhão, sét pha nhão, cát pha, bùn, than bùn…) và

chiều dày các lớp đất yếu nhỏ hơn 3m.

Nhóm 7


3. Thiết Kế Lớp Đệm Cát:



Vật Liệu Làm Đệm Cát:

Cát to và cát hạt trung là hai loại cát làm lớp đệm tốt nhất vì sau khi đầm chặt, có thể đạt độ chặt khá cao, chịu được tải trọng lớn của
công trình và không di động dưới tác dụng của nước ngầm.

- Độ lún toàn bộ của lớp đệm và lớp đất nằm dưới cũng như độ lún không đều của móng phải nhỏ hơn giá trị giới hạn quy định trong
quy phạm thiết kế nền.

-Khi có đệm cát, nền đất trở thành môi trường 2 lớp có tính chất hoàn toàn khác nhau, lớp đệm cát có kích thước giới hạn còn lớp
đất yếu có kích thước phát triển vô hạn theo 2 hướng. Tuy nhiên khi tính toán, người ta coi lớp đệm cát như một bộ phận của đất nền tức là
đồng nhất và biến dạng tuyến tính. Với quan điểm này, kích thước lớp đệm cát được thiết kế phải thỏa mãn:

Nhóm 7


σ1 + σ 2 ≤ R H

(5.49)

P
TÇng ®Öm c¸t
Hình 5.36. Lớp đệm cát dưới đáy móng

Nhóm 7


Trong Đó:

-

σ1: ứng suất thường xuyên do trọng lượng bản thân đất nền và đệm cát tác dụng trên mặt đất yếu tại đáy lớp đệm cát
σ1 = γđ.h + γc.d

(5.50)


1 2
- R , R : sức chịu tải của đệm cát và của đất yếu xác định từ thí nghiệm tại hiện trường.
1 2

Nhóm 7


Hình 5.37. Toán đồ xác định hệ số K



Thi công đệm cát

Hiệu quả của đệm cát phụ thuộc phần lớn vào chất lượng công tác thi công, do vậy phải đầm nén đảm bảo đủ độ chặt và không làm phá hoại
kết cấu của lớp đất bên dưới. Trường hợp không có nước ngầm, cát được đổ từng lớp dày khoảng 20cm, làm chặt bằng đầm lăn, đầm rung…
khi có nước ngầm cao, phải có biện pháp hạ mực nước ngầm hoặc dùng biện pháp thi công trong nước.

Nhóm 7




Độ ẩm đầm nén tốt nhất của cát làm vật liệu lớp đệm xác định theo công thức sau đây :

wtn =

Trong đó :

0.7eγ n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status