Tìm hiểu về đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia của Việt Nam - Pdf 33

Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nước ta được coi là một trong những nước giàu về đa dạng sinh học ở
vùng Đông Nam Á, một dải rộng các thảm thực vật bao gồm nhiều loại rừng
phong phú được hình thành ở các độ cao khác nhau như: rừng thông, rừng
hỗn hợp loại lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng
họ dầu địa hình thấp, rừng ngập mặn chiếm ưu thế ở ven biển đồng bằng sông
Cửu Long và sông Hồng; rừng tràm ở đồng bằng Nam Bộ và rừng hỗn loại tre
nứa ở nhiều nơi… Dù bị tổn thất nhiều về diện tích rừng kéo dài qua nhiều
thế kỷ, thì hệ thực vật- động vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng
loại.
Tuy nhiên, sự gia tăng dân số nhanh đến chóng mặt thúc đẩy nhu cầu
mở rộng đất canh tác tạo nguồn lương thực, chiến tranh kéo dài, cùng với
những cuộc di dân tự do... là những nguyên nhân dẫn tới tài nguyên đa dạng
sinh học ở nước ta đang ngày càng cạn kiệt. Trong những năm qua, sự suy
thoái đa dạng sinh học diễn ra với tốc độ báo động. Sự suy thoái của các hệ
sinh thái tự nhiên - nơi cư trú của nhiều loài động vật, thực vật nhất là rừng
nhiệt đới các vùng hệ đất ngập nước - là nguyên nhân chính về suy thoái đa
dạng sinh học ở Việt Nam . Hiện nay, rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không
còn nguyên vẹn nữa, vì phần lớn các khu rừng này đã biến đổi do các hoạt
động nông nghiệp và định cư.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên này không những là cơ sở vững chắc của
sự tồn tại của nhân dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã qua mà còn là cơ sở
cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong những năm sắp tới. Tuy nhiên
thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên này, người dân Việt Nam dưới danh nghĩa
phát triển kinh tế đang khai thác quá mức và phí phạm nguồn tài nguyên quý
giá này. Nhiều loài hiện đã trở nên hiếm, một số loài đang có nguy cơ bị diệt

3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp tổng hợp các tài liệu được
lấy từ các nguồn thông tin như thư viện, báo đài, internet. Dựa vào sự phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các tài liệu để thực hiện đề tài.
Mặc dù có sự nổ lực của bản thân, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều sơ suất,
rất mong được sự góp ý của quí thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp. Tôi xin
chân thành cảm ơn!

3


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

PHẦN NỘI DUNG
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Khái niệm về Đa dạng sinh học
Theo chương trình chiến lược toàn cầu thì, ĐDSH là tổng hợp toàn bộ
gen, các loài và các HST. Đó là sự biến đổi liên tục theo sự tiến hoá để tạo
ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới khi những loài khác biến đi.
2. Khái niệm về vườn quốc gia
Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy
định pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm
ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được
thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc
những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động – thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của
con người. Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của
IUCN loại II.

xuất oxi và như vậy không còn động vật và sự sống.
Thế giới sinh học ngày nay là kết quả quá trình tiến hoá của thế giới sống, bắt
đầu từ nhóm sinh vật nguyên thuỷ nêu trên.Nó bao gồm thế giới :virus, vi
khuẩn, nấm, thực vật, động vật. Hiện nay trên trái đất có khoảng 5 đến 30
triệu loài sinh vật, nhưng loài người chỉ mới ghi nhận khoảng gần 2 triệu loài.
Mỗi loài sinh vật đều có tên gọi hoàn chỉnh bằng tiến Latinh và nhờ tên
khoa học này mà mọi người trên hành tinh hiểu nhau khi nói về một loài nào
đó.
Dựa theo hệ thống phân loại người ta sắp xếp một cách khoa học toàn
bộ sự đa dạng chủng loại của thê giới sinh vật và tập hợp thành các sách phân
loại học dùng cho tra cứu định danh các loài sinh vật.
2. Đa dạng di truyền
Mỗi loài đặc trưng bằng hệ gen và nó mang đặc trưng di truyền riêng,
đảm bảo cho sự tồn tại của loài. Nếu loài nào không có cơ chế đảm bảo cho
tinh biệt lập di truyền thì loài đó sẽ bị diệt vong.

5


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

Do vậy, sự đa dạng về loài cũng chính là sự di truyền. Nói đến đa dạng
sinh học là bao gồm đa dạng di truyền. Nhưng đa dạng di truyên lại mang đặc
trưng riêng.
Mỗi sinh vật đều có bản năng di truyên là bảo thủ. Nghĩa là khả năng di
truyền lại cho đời sau các tính chất bảo thủ. Nhưng quan trọng hơn, sinh vật
còn có khả năng biến dị, nghĩa là ở đời sau xuất hiện một số tính chất mới so
với thế hệ trước. Nếu các biến dị là tốt cho việc duy trì sự tồn tại của loài thì

sản đơn giản hoặc phức tạp với vòng đời và chu trình phát triển từ trứng đến
trưởng thành khác nhau. Chúng có thể sống tiềm sinh để vượt qua thời kì khó
khăn do ngoại cảnh gây nên. Có khả năng điều tiết áp suất thẩm thấu để thích
nghi với các chế độ muối khác nhau. Tăng số lượng sinh sản để khắc phục
khả năng sống sót thấp và hàng trăm dạng thích nghi khác đảm bảo sự sống
có mặt ở khắp nơi trên hành tinh.
5. Đa dạng hệ sinh thái
Trong sự tồn tại và phát triển, thế giới sống có quan hệ mật thiết với
điều kiện tự nhiên. Mối quan hệ này là hai chiều, sự đa dạng sinh vật được
nhân lên khi gắn kết với sự đa dạng sinh cảnh.
Các nhà khoa học đã chia hành tinh chúng ta làm 8 « vùng » địa lý –
sinh vật với 193 « tỉnh » địa lý sinh vật khác nhau. Các tỉnh địa lý sinh vật
này được gom vào 14 quần thể sinh vật tương ứng với các hệ sinh thái lớn
trên thế giới. Các hệ sinh thái lớn lại phân hệ thành các hệ sinh thái nhỏ, chi
tiết hơn thích hợp với từng vùng cảnh quan như hệ sinh thái vùng đồi, hệ sinh
thái vùng cửa sông ven biển, hệ sinh thái các đảo san hô và hệ sinh thái sản
xuất khác…
Thiên nhiên không đồng nhất, vì vậy, sự đa dạng phong phú của sinh
vật ở các hệ sinh thái khác nhau thì khác nhau. Trong hệ sinh thái rừng ẩm
nhiệt đới có thể có hàng ngàn loài thực vật và động vật trên một km 2. Còn ở
vùng hoang mạc thì số lượng loài có thể đếm trên đầu ngón tay. Con người có
khả năng to lớn trong việc điều khiển tính đa dạng sinh vật của quần xã sinh
vật trong một hệ sinh thái nào đó.
III. Tầm quan trọng và giá trị của đa dạng sinh học
1.Tầm quan trọng
Trong quá trình quy hoạch những năm gần đây cho thấy tầm quan trọng
của đa dạng sinh học như sau :

7


nay có khoảng 5- 10% số loài trên thế giới sẽ bị tiêu diệt vào những năm 1990
– 2020, và đến năm 2050 số loài bị tiêu diệt sẽ lên đến 25%. Nguyên nhân

8


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

chính là do nơi sinh sống thích hợp của các loài sinh vật bị thu hẹpvà một
phần là do hoạt động của con người gây nên.
Quá trình gia tăng sự mất mát về đa dạng sinh học được xem là một
vấn đề cấp bách nhất của môi trường trên thế giới hiện nay vì vậy đây là một
quá trình không thể đảo ngược được.
2. Giá trị của đa dạng sinh học
Sự mất mát về đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng đến chúng ta bởi 5 lý do
sau :
1. Các HST của quả đất là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong
đó có loài người, chúng đảm bảo sự chu chuyển oxi và các nguyên tố cơ bản
khác trên hành tinh. Chúng duy trì độ ổn định và tính màu mỡ của đất ở hầu
khắp các vùng trên thế giới. Nếu có sự suy thoái và đa dạng sinh học diễn ra
mãnh liệt trên trái đất sẽ làm tổn thương tính ổn định và tính mềm dẻo của
môi trường.
2. Các hệ tự nhiên làm hạn chế sự xói mòn đất và bờ biển. Rừng ở trên
các sườn dốc điều tiết dòng chảy và thanh lọc các cặn bã để dòng nước trở
nên trong lành khi đến người dùng. Các rừng ngập mặn và các rạn san hô là
những băng cản hữu hiệu chống lại những cơn cuồng nộ của biển cả đối với
đất liền đồng thời là nơi sinh đẻ của các loài sinh vật biển.
3. Các cây lương thực được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy

sống đặc biệt là sự mất rừng và sự khai thác quá mức, nhiều loài sinh vật ngày
càng trở nên hiếm và nhiều loài như tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, bò
xám và các loài cây gỗ đỏ, gụ mật, hoàng liên chân gà... có nguy cơ bị tuyệt
diệt. Nhiều giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao cũng đã bị mất
và thay vào là các giống cây, con mới có năng suất cao.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong
việc xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia. Ngay từ năm
1962, Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) đã được thành lập. Năm 1985,
Chiến lược bảo tồn quốc gia của Việt Nam (NCS) được ban hành. Đây chính
là tiền thân của kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1999
- 2000 (NPESD) do Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nước nay là Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường xây dựng. Đồng thời chúng ta cũng đã xây
dựng kế hoạch hành động về đa dạng sinh học. Năm 1986, Nhà nước đã có
10


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

quyết định thành lập một hệ thống 87 khu bảo tồn được gọi là khu rừng đặc
dụng, trong đó có 56 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, và 31 khu
rừng văn hoá, lịch sử phong cảnh đẹp với diện tích khoảng 1.169.000 nghìn
ha. Trong số 87 khu bảo tồn nói trên, có 28 khu có diện tích khá rộng, chiếm
698.000 ha. Từ 1986 đến nay, hệ thống các khu bảo tồn được mở rộng thêm
và từ năm 1991 đã có 11 rừng quốc gia: Cúc Phương, Cát Bà, Bạch Mã, Ba
Bể, Cát Tiên, Ba Vì, Côn Đảo, Phú Quốc, Bến En, Tam Đảo và Tràm Chim.
Có thêm 35 khu bảo tồn đã phê duyệt dự án đầu tư và thành lập ban quản lý.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được các dự án quốc tế hỗ trợ, nhiều
cán bộ quản lý và kỹ thuật được đào tạo trong và ngoài nước.

Học viên: Nguyễn Tuấn

1.Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Cát Tiên
1.1 Vị trí địa lí
Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa
bàn ba tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, cách TP Hồ Chí Minh 160
km về phía Đông Bắc.

Hình2: Vị trí của vườn quốc gia Cát Tiên

13


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

Hình3. Buổi sáng ở Cát Tiên
Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới.
Được thành lập theo quyết định số 01/CT ngày 13 tháng 1 năm 1992 của Thủ
tướng chính phủ trên cơ sở kết nối khu rừng cấm Nam Cát Tiên (được thành
lập theo quyết định số 360/TTg, ngày 7 tháng 7 năm 1978 của Thủ tướng
chính phủ) và khu bảo tồn thiên nhiên Tây Cát Tiên (được thành lập theo
quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng). Vườn quốc gia Cát Tiên nằm ở khu vực có toạ độ từ 11°20′50" tới
11°50′20" vĩ bắc, và từ 107°09′05" tới 107°35′20" kinh đông, trên địa bàn của
ba tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước với tổng diện tích là 71.920 ha.
Hiện nay, VQG Cát Tiên là một trong những khu dự trữ sinh quyển thế giới ở
Việt Nam.


Học viên: Nguyễn Tuấn

Sông Đồng Nai là sông lớn thứ hai ở Nam Việt Nam chảy qua VQG, là
ranh giới phía tây của khu Cát Lộc và là ranh giới phía đông của khu Nam Cát
Tiên. Có rất nhiều suối bắt nguồn từ VQG chảy vào sông này. Vùng đất thấp
phía bắc của khu Nam Cát tiên có ít hệ thuỷ và có diện tích đầm lầy và các hồ,
khu vực này được cung cấp nước bởi quá trình ngập lũ theo mùa của sông
Đồng Nai

Hình 5. Khung cảnh Bàu Sấu-Cát Tiên
1.2 Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Cát Tiên
Tính đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Cát Tiên là nơi có thể xem là
đại diện tiêu biểu của rừng mưa nhiệt đới ở nước ta. Vườn quốc gia Cát Tiên
trong dự án mở rộng với tổng diện tích la 80.000ha, nơi đây được coi như là
một nơi rất đa dạng và phong phú của đời sống các loài động vật và thực vật.
Vườn quốc gia Cát Tiên có giá trị bảo tồn không chỉ vào bậc nhất nước
ta mà còn có giá trị mang tính chất toàn cầu và được coi như là một trong
những điểm nóng về đa dạng sinh học. Hệ động vật và thực vật đa dạng
phong phú và mang tính đặc hữu cao.
Về thực vật :Ðây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái
rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây cổ thụ như bằng lăng, gỗ đỏ.
Hệ thực vật có hơn 1.362 loài thực vật bậc cao, hơn 440 loài cây gỗ quý, hàng
trăm loại cây dược liệu, 133 loài hoa phong lan... Trong thực tế số lượng loài
có thể còn tăng thêm nhiều khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu bổ sung. Các
16


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

Tiên với 247 loài chim trong đó phải kể đến 3 loài là đặc hữu, 10% trong đó
là các loài chim quý hiếm và đang bị đe doạ ở nhiều mức độ khác nhau. 8 loài
có tính phổ biến toàn cầu, 40 loài bò sát, 14 loài lưỡng cư.Một số loài đang có
nguy cơ biến khỏi trái đất nay vẫn còn hiện diện ở vườn Quốc gia như : loài

18


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

cò quăm cánh xanh ( là một tron những loài chim quý hiếm đang bị đe doạ
tuyệt chủng trên thế giới) và một số loài chim khác đang được sự thu hút quan
tâm của thế giới : gà tiền mắt đỏ ( Polypeplectron germaini), gà so cổ hung
( Arborophila davidi), ngan cánh trắng ( Cairina scutulata), Công (Pavo
muticus imperator)…
Vùng rừng phía Cát Tiên, Cát Lộc, tỉnh Lâm Đồng cũng là nơi cư trú nổi
tiếng của loài tê giác một sừng ( Javan rhinocerus). Những dấu vết đáng tin
cậy nhất cho thấy và hiện nay đã chụp được ảnh tồn tại dấu vết của một quần
thể nhỏ loài tê giác một sừng ( Rhinoceros sondaicus)Loài tê giác một sừng
nổi tiếng này, hiện nay trên thế giới chỉ còn có thể trông thấy ở Vườn quốc
gia Ujung Kulon ở miền tây Javan. Người ta đã ước đoán tổng cộng lại còn
không dưới 100 con tê giác một sừng (Javan rhinos) còn sót lại trên thế giới.
Chúng là một trong những loài quý hiếm bậc nhất đang có nguy cơ bị tiêu diệt
nhiều nhất. Chính nhờ loài tê giác này đã làm khu bảo tồn này được cộng
đồng thế giới quan tâm. Một cuốn hút khác của rừng Cát Tiên là sự tồn tại của
đàn bò tót khổng lồ nặng trên hàng tạ, với số lượng khoảng 70-80 con, hiện
cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng cao do bị săn bắn trộm và mất chỗ ở vì
rừng bị chặt phá.

Hinhf9:Rễ của cây Tùng( Tetrameles nudiflora)

20


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

Hình 10:Tử vi (Họ Trân châu: 6 spp -.)

Hình 11:Dây leo - đặc trưng của rừng nhiệt đới

21


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

Hình 12:Cây tre

1.3 Thực trạng báo động đối với Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia
Cát Tiên
Như chúng ta đã biết nhiệm vụ của vườn quốc gia Cát Tiên là:
+ Bảo tồn các hệ sinh thái rừng, các vùng đất ngập nước quan trọng
trong Vườn quốc gia.
+ Bảo tồn nguồn gen động, thực vật rừng quý hiếm, bảo tồn quần thể tê
giác một sừng, quần thể voi và các loài động thực vật quy hiếm khác
+ Bảo vệ cảnh quan nhiên nhiên, thực hiện nghiên cứu khoa học, tuyên

trưởng, ở đây có nhiều loài linh trưởng liên quan đến bảo tồn bao gồm Voọc
vá chân đen Pygathrix nigripes, Khỉ đuôi lợn Macaca leonina và Vượn đen
má hung Hylobates gabriellae (Ling et al. 2000).
VQG Cát Tiên nằm trong Vùng Chim đặc hữu (EBA) vùng đất thấp
Nam Việt Nam và có quần thể của 3 loài trong vùng chim đặc hữu này này là:
Gà so cổ hung Arborophila davidi, Gà tiền mặt vàng Polyplectron germaini và
Chích chạch má xám Macronous kelleyi (Stattersfield et al. 1998, Polet và
Phạm Hữu Khánh 1999a). Cát Tiên cũng là điểm quan trọng đối với việc bảo
tồn các loài chim nước. Trong số các loài chim nước bị đe dọa toàn cầu đã ghi
nhận ở khu vực là Quắm cánh xanh Pseudibis davisoni, Ngan cánh trắng
Cairina scutulata và Già đẫy nhỏ Leptoptilos javanicus (Polet & Pham Huu
Khanh 1999a). VQG Cát Tiên bao gồm hai vùng chim quan trọng là Nam Cát
Tiên và Cát Lộc (Tordoff 2002).
Một loài bò sát bị đe dọa toàn cầu đã từng được ghi nhận tại VQG Cát
Tiên là Cá sấu nước ngọt Crocodylus siamensis. Đợt khảo sát thực năm 1999
23


Tiểu luận: Đa dạng sinh học

Học viên: Nguyễn Tuấn

địa để tìm kiếm loài này đã không phát hiện bất cứ bằng chứng nào về sự tồn
tại của Cá sấu nước ngọt ở VQG (Bembrick và Cannon 1999). Tuy nhiên, với
sự trợ giúp của dự án Bảo tồn VQG Cát Tiên (WWF), 30 cá thể Cá sấu nước
ngọt sinh sản nhân tạo đã được thả tại khu vực Bàu Sấu trong VQG sau khi đã
có kết quả chính thức xét nghiệm DNA cho thấy các cá thể này là các cá thể
thuần chủng (Polet et al., 2003b).
Các hồ cá sấu, ở phần phía bắc của Cát Tiên đoạn Nam, là vùng sinh
sản cho một số cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) đã được giới thiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status