SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY. - Pdf 33

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

1

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những thập niên 50, 60 của thế kỉ trước cả thế giới đã phải kinh
ngạc trước sự “thần kì” của Nhật Bản. Thế giới chưa từng được chứng kiến
tốc độ phát triển kinh tế nhanh như vậy trước đó. Cũng kể từ đó phần còn lại
của thế giới đã phải nghiên cứu nhiều hơn về Nhật Bản, để đi tìm câu trả lời
lý giải nguyên nhân của sự “thần kì” đó. Một trong những yếu tố quan trọng
khiến Nhật Bản có thể duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh trong nhiều năm của
thời kỳ này đó là chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SMEs). Chính SMEs là động lực và là nền tảng vững chắc cho sự thăng hoa
của nền kinh tế Nhật. Mặc dù không thể phủ nhận vai trò to lớn của các tập
đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới của đất nước mặt trời
mọc nhưng rõ ràng sự ổn định và sự linh hoạt của cả nền kinh tế được tạo ra
từ hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ tính ưu việt về khả năng thích
ứng nhanh với những thay đổi lớn của môI trường. Đó có thể coi là một lớp
đệm của nền kinh tế giúp giảm nhẹ những cú sốc, những khủng hoảng. Cũng
chính bởi vậy, trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện
đại hoá, bên cạnh việc cần thành lập các tập đoàn mạnh đóng vai trò là đầu
tàu cho nền kinh tế , cũng rất cần thiết phảI xây dựng và phát triển hệ thống
SMEs mạnh ngoài lợi ích về kinh tế còn giúp ổn định kinh tế, xã hội.
Trên thực tế, vấn đề này chưa từng được đặt ra một cách bài bản trước
đó, chúng ta không tránh khỏi sự mới mẻ và thiếu kinh nghiệm. Vì vậy , việc
học hỏi một cách thông minh, có chọn lọc kinh nghiệm các nước đI trước là
việc làm cần thiết. Góp phần nhỏ vào mục đích chung đó, tài liệu này nghiên
cứu kinh nghiệm chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản
và rút ra các bài học có thể học hỏi đối với Việt Nam hiện nay. Để thực hiện ý
đồ đó, tài liệu bao gồm các phần sau:


đảm bảo ; chúng không chỉ góp phần khôi phục nền kinh tế mà còn tạo điều
kiện quan trọng cho thời kỳ tăng trưởng tiếp theo.
1.1.1.2. Bối cảnh quốc tế

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

3

- Thế giới vừa bước ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử,
gây ra thiệt hại to lớn cả về người và của cho hầu hết các nước trừ nước Mỹ.
Sau chiến tranh nước nổi lên như một siêu cường lớn nhất thế giới và đang ấp
ủ âm mưa bá chủ thế giới. Nhằm đạt được mục tiêu đó, Mỹ đã thực hiện một
số chính sách, theo đó Mỹ đã tài trợ cho một số nước, trong đó có Nhật Bản
để xây dựng các nước này thành mũi tiền tiêu chống lại cộng sản. Nước Nhật
đã nhận được một khoản tiền không nhỏ rất quý giá phục vụ cho công cuộc
khôi phục và phát triển kinh tế.
-Cũng với mục tiêu thực hiện ý đồ trên, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến
tranh Triều Tiên và Việt Nam. Chính nhờ hai cuộc chiến này nước Nhật đã
tận dụng triệt để phát triển kinh tế. Các đơn đặt hàng phục vụ chiến tranh của
Mỹ đã tạo cơ hội cho Nhật phát triển các ngành công nghiệp của mình.
- Qúa trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra một cách khẩn
trương vào thời kỳ này với sự ra đời của các tổ chức kinh tế toàn cầu như:
IMF, GATT, Workbank…Nhật Bản cũng không nằm ngoài tiến trình chung
này. Nhật tham gia GATT năm 1955, trở thành thành viên đầy đủ vào năm
1962, tham gia IMF cùng thời gian này, Các sự kiện này đã làm thay các

Small and Medium Enterprises Agency)

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chiếm tỷ trọng lớn về số lượng
nhân công. Năm 2001, số nhân công trong các SMEs là 29,96 triệu lao động,
chiếm 70,2% tổng số lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp. Trong
khi đó, số lượng lao động trong các doanh nghiệp lớn là 13 710 nghìn lao
động, chiếm 30,5%. Như vậy, các SMEs đã tạo ra số lượng việc làm rất quan
trọng trong nền kinh tế Nhật Bản.

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

5

Biểu đồ 2: Tỷ trọng số lượng nhân công trong các doanh nghiệp SMEs và
các doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: nghìn công nhân)

Nguồn: http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/index.html (trang web của
Small and Medium Enterprises Agency)

Về giá trị sản xuất, các SME cũng tạo ra giá trị lớn hơn so với các
doanh nghiệp lớn, 51,1% so với 48,9% của các doanh nghiệp lớn.
Biểu đồ 3: Tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp SMEs và các
doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: Tỷ Yên).

Nguồn: http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/index.html (trang web của


Sản xuất
Bán buôn
Bán lẻ
Dịch vụ

1,498,35
1
255,587
1,743,84
8
1,191,82
3

4,689,60

Tổng

9

Doanh nghiệp lớn
%
trong
tổng

Số doanh
nghiệp

%
trong

99.7

3,742

0.3

1,195,565 100.0

99.7

13,430

0.3

1,501,645 100.0
257,981

4,703,039

100.0

100.
0

Nguồn: Compiled from Ministry of Public Management, Home Affairs, Posts and
telecommunications, Establishment and Enterprise Census of Japan (2001)

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Enterprises (42.8%) (45.4%) (44.5%) (43.4%) (44.7%) (44.5%)

Năng suất
giá trị gia

SMEs

4,993

4,840

4,894

4,837

4,602

4,573

tăng

Large

10,032

10,287

10,265


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

8

các yếu tố tạo ra năng suất lao động như: trình độ công nhân, công nghệ, cũng
như trình độ quản lý của các SMEs nói chung so với các doanh nghiệp lớn.
Năm 1981, SMEs chiếm tới 99,4% trong tổng số các cơ sở sản xuất
kinh doanh và 81,4% số lượng nhân công. SMES trong ba khu vực là công
nghiệp chế biến, thương nghiệp (phân phối) bán buôn và bán lẻ, và dịch vụ
chiếm 83,6% tổng số SMEs và 75,6% lượng nhân công, và do vậy việc các
khu vực này chiếm tỷ trọng lớn là một điều rõ ràng. Nếu nhìn vào số lượng
các cơ sở sản xuất kinh doanh thì có thể thấy tỷ trọng của SMEs không có
biến động lớn, nhưng xét về mặt nhân công thì năm 1969 được coi là thời
điểm bước ngoặt với việc tỷ trọng nhân công từ xu hướng giảm chuyển sang
xu hướng tăng lên. Cho nên trong những năm gần đây tỷ trọng của SMEs có
lẽ đang tăng dần. Tuy nhiên, trong khi tỷ trọng của SMEs trong lĩnh vực phân
phối, dịch vụ, xây dựng và bất động sản tăng lên thì tỷ trọng của khu vực
công nghiệp chế biến lại liên tục giảm xuống.
Nếu xem xét chi tiết hơn về biến động trong khu vực công nghiệp chế
biến, phân phối và dịch vụ thì có thể lưu ý một số điểm sau đây. Tỷ trọng của
SMEs trong giá trị sản lượng của ngành công nghiệp chế biến giảm xuống
trong giai đoạn 1955-1960, và sau khi tăng lên trong giai đoạn 1960-1965, đã
tiếp tục tăng trong những năm 1970. Sở dĩ có sự biến động vào cuối những
năm 1950 và đầu những năm 1960 là do dịch chuyển trong cơ cấu cầu cuối
cùng. Do đó việc mở rộng đầu tư tư nhân và sự suy giảm tương đối chi tiêu
cho tiêu dụng cá nhân vào cuối những năm 1950 đã làm giảm tỷ trọng của
ngành công nghiệp nhẹ (mà phần lớn thuộc về SMEs), nhưng sang đầu những
năm 1960 thì khuynh hướng đó được đảo ngược: chỉ têu cho tiêu dụng các
nhân gia tăng nên tỷ trọng ngành công nghiệp nhẹ lại tăng lên. Trong những
năm 1970, ngành chế tạo mày và các ngành công nghiệp chế biến khác đã

nghiệp lớn đảm nhiệm như dịch vụ thông tin và cho thuê.
Tóm lại, trong khi có những biến động đối với SMEs trong các khu vực
khác nhau nhưng nhìn chung số lượng của các doanh nghiệp này tiếp tục tăng
lên , và tỷ trọng trong tổng số doanh nghiệp và nhân công vẫn được duy trì.

1.2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

10

1.2.1. Khái niệm về Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chính sách công nghiệp nói chung thường đặt trọng tâm vào các ngành
công nghiệp cụ thể, nhưng đối với SMEs chính sách có khác ở chỗ mục tiêu
mà nó nhằm tới là một nhóm các doanh nghiệp có quy mô đặc trưng.
1.2.2.Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay khái niệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có sự thống
nhất cả về không gian và thời gian. Ở mỗi nước khác nhau quy định những
cách định nghĩa khác nhau. Sự khác nhau ở đây chủ yếu do sự khác nhau
trong quy định về quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. ở Nhật Bản, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ được quy đinh trong luật về kinh doanh nhỏ, năm là
những doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn hơn 300 000 000 triệu Yên
hoặc có quy mô lực lượng lao động không quá 300 người.
1.2.3. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

những vấn đề nảy sinh từ sự khác biệt về quy mô giữa các doanh nghiệp và
hơn nữa, khi các chính sách dựa trên tiêu thức quy mô lại tỏ ra hữu hiệu hơn
so với các chính sách dựa trên cách tiếp cận theo ngành cụ thể.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp quy mô lớn trên thị
trường có 2 mối liên hệ sau: cạnh tranh với nhau hoặc đối tác của nhau. Từ
các mối quan hệ này dẫn đến các khả năng sau. Trong trường hợp thứ nhất,
khi cả hai doanh nghiệp cùng là người mua hay bán thì sẽ nảy sinh vấn đề,
đặc biệt là khi các doanh nghiệp lớn xâm nhập vào lĩnh vực hoạt đông chủ
yếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi cả hai đều là người mua, cụng tìm
kiếm lao động, tài chính, công nghệ, thông tin, và nguyên liệu, thì SMEs
thường ở vị thế yếu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn. Trong trường hợp
thứ hai khi có sự chuyển dịch giữa SMEs và các hãng lớn thì các doanh
nghiệp lớn sẽ có khả năng thống trị trên thị trường với tư cách là người mua
hoặc người bán.
Nguyên nhân của vấn đề nằm ở tính chất không hoàn hảo trên các thị
trường lao động, tài chính, hàng hóa và thông tin. Chính các yếu tố này đã tạo
ra sự yếu thế tương đối của các SMEs so với các doanh nghiệp lớn hơn. Nói
cách khác, nếu nhìn vào thị trường lao động thì có thể thấy rằng đâu là thị
trường có tính nhị nghuyên, một dành cho các doanh nghiệp lớn và một danh
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và sự di chuyển lao động giữa hai thị trường
này là không nhiều. Một khía cạnh cần lưu ý ở đây là, so với các doanh
nghiệp lớn, SMEs thường sử dụng nhân công với tiền lương thấp. Điều này

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp



Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

13

lợi hơn đối với SMEs, và nói chung là việc vay mượn vốn phụ thuộc vào sự
khác biệt về quy mô của các doanh nghiệp.
Khi SMEs và các doanh nghiệp lớn cùng tồn tại trong cùng một ngành
thì các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường hàng hóa sẽ giúp SMEs tìm
được vị trí của mình thông qua việc phân hóa sản phẩm và các công cụ khác.
Nhưng, cũng không thể bỏ qua một thực tế là năng lực marketing và năng lực
mua của cá doanh nghiệp lớn lại tạo ra sự bất lợi đối với SMEs khi hai nhóm
này thực hiện các giao dịch bán hoặc mua lẫn nhau. Khi các doanh nghiệp lớn
có quyền lực thị trường và thực hiện bán cho SMEs với mức giá cao, thì
SMEs sẽ phải đối đầu với tình trạng mua với giá cao nhưng lại phải bán với
giá thấp. Hơn nữa, trong các giao dịch với các doanh nghiệp công nghiệp vừa
và nhỏ có cửa hàng tiêu thu riêng, các siêu thị lớn, các doanh nghiệp thương
mại, các nhà bán buôn, cũng như mối quan hệ hợp đồng phụ giữa các nhà sản
xuất lớn và nhỏ, thì doanh nghiệp lớn có được khả năng sử dụng sức mạnh thị
trường với tư cách là người mua.Tính chất không không hoàn hảo trong thị
trường hàng hóa do sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp lớn tạo ra sẽ
dẫn đến sự bất lợi của SMEs trong các giao dịch với các doanh nghiệp lớn.
Đối với các giao dịch liên quan đến thông tin thì khó khăn đầu tiên là
việc phải chuẩn hóa được chất lượng hoặc nội dung của thông tin. Có thể xảy
ra tình huống người bán nắm rõ được chất lượng thông tin, còn người mua thì
không. Do yếu tố không hoàn hảo này trên thị trường thông tin có thể dẫn đến
kết quả là các doanh nghiệp có khuynh hướng tạo ra và sử dụng thông tin

với các doanh nghiệp lớn các biện pháp chính sách phải nhắm tới sự điều tiết
quyền lực thị trường của các doanh nghiệp lớn và gia tăng khả năng đối phó
của SMEs bằng cách thiết lập các cơ chế tổ chức riêng của mình. Các quy
định trong các chính sách chống độc quyền nhằm hạn chế các doanh nghiệp
lớn lạm dụng vị thế vượt trội của mình (các giao dịch không lạnh mạnh) và
việc tách các tổ chức như các hợp tác xã của SMEs ra khỏi phạm vi điều
chỉnh của Luật chống độc quyền là những minh họa cho chính sách nói trên.
Các cơ sở đó của chính sách đối với SMEs bao gồm các biện pháp khắc
phục những bất lợi do các nhân tố không khoàn hảo trên thị trường mạng lại,
nhưng cũng cần phải bổ sung thêm một số điểm sau đây. Thứ nhất, cũng có
những trường hợp mạng lại lợi thế cho SMEs. Đó là các yếu tố phi kinh tế
xuất hiện trong các tổ chức lớn, các lĩnh vực trong đó tính hiệu quả theo quy

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

15

mô không được thể hiện rõ và các khu vực trong đó thị trường đã được phân
chia rõ ràng dựa trên sự phân hóa sản phẩm. Thứ hai, lượng hóa việc các yếu
tố không hoàn hảo trên thường gây bất lợi cho SMEs đến mức độ nào là rất
khó khăn. Đặc biệt, việc xác định tới mức độ nào thì phải cần tới sự can thiệp
bằng chính sách lại càng khó hơn. Thứ ba, mức độ dẫn đến việc gây bất lợi
của các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường sẽ thay đổi một khi các thị
trường liên quan có những biến đổi . Điều này cho thấy rằng nội dung (trọng
tâm) của chính sách đối với SMEs sẽ cần phải được điều chỉnh.

đánh giá một cách tích cực hơn.
Cho đến giữa những năm 1950, các nhân tố cơ bản của chính sách đối với
SMEs là các chính sách tài chính và các chính sách tổ chức SMEs. Trong điều
kiện khó khăn về vốn thì chính sách tài chính đối với SMEs chủ yếu bao gồm
việc hình thành cá tổ chức tài chính của chính phủ có chức năng chuyên cấp
vốn cho SMEs và thiết lập các tổ chức tín dụng bổ sung. Vào năm 1949, Công
ty cho vay đối với các doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, trong khi đó công ty

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

17

tài chính kinh doanh nhỏ được hình thành vào năm 1953 với chức năng cung
cấp các khoản cho vay dài hạn. Nguồn vốn từ ngân sách được chuyển tới các
tổ chức tài chính mới này của chính phủ, kể cả Ngân hàng Shoko Chukin
(Ngân hàng trung tâm của các hợp tác xã công thương), được thành lập vào
năm 1936. Một chương trình bảo lãnh tín dụng đã ra đời trên cơ sở Luật công
ty bảo lãnh tín dụng (1953) nhằm tăng cường khả năng cấp vốn cho SMEs ,
đồng thời bảo lãnh cho các khoản vay từ các tổ chức tài chính tư nhân.
Chương trình bảo hiểm tín dụng cũng đã được thành lập vào năm 1950 nhằm
đảm bảo việc thực thi nghĩa vụ của các hiệp hội bảo lãnh tín dụng.
Vào năm 1949 Luật về hiệp hội các doanh nghiệp hợp tác xã vừa và nhỏ
được thông qua nhằm đáp lại phong trào dân chủ hóa thời hậu chiến, từ đó
đẩy mạnh hoạt động hợp tác trong các hiệp hội mà không cần phải chấn chỉnh
lại sự kiểm soát kinh tế chặt chẽ của các tổ chức vào giai đoạn này là sự ổn

mình thông qua đầu tư vào trang thiết bị và các biện pháp khác. Nhu cầu gia
tăng sức mạnh cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh tự do hóa thương mại vào
đầu những năm 1960 đã khiến cho biện pháp này càng trở nên cấp thiết.
Chính sách hiện đại hóa SME trong những năm 1960 trở nên cấp thiết .Chính
sách hiện đại hóa các SME trong những năm 1960 là một chính sách đối phó
với tình hình cấp thiết nói trên. Từ giữa những năm 1950, chính sách hiện đại
hóa SMEs đã được phản ánh trong Chương trình cho vay vốn hiện đại hóa
trang thiết bị (1954) và Luật về tài chính và các biện pháp khác nhằm trợ giúp
các doanh nghiệp vừa và nhỏ (1956), theo đó Chính phủ trung ương có thể
cho phép các chính quyền địa phương thực hiện cho vay đối với SMEs. Ngoài
các ngành dệt và chế tạo máy được xem xét riêng, quá trình hiện đại hóa trang
thiết bị trong các ngành công nghiệp khác cũng được thúc đẩy một cách có hệ
thống thông qua Luật xúc tiến hiện đại hóa các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(1963). Theo luật này, các biện pháp cấp vốn và thuế được thực hiện một
cách có hệ thống và có tổ chức hơn so với trước đây nhằm hiện đại hóa các
trang thiết bị và thống nhất các doanh nghiệp (tăng quy mô doanh nghiệp),
trong khuôn khổ các kế hoạch được soạn ra đối với từng ngành. Cuối cùng,
định hướng cơ bản trong chính sách đối với SMEs và các biện pháp chính
sách cần thiết đã được công bố một cách có hệ thống trong Luật cơ bản về các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (1963), theo đó các luật khác như Luật hướng dẫn
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Luật tài trợ cho quá trình hiện đại hóa các

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

19



Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

20

2.2. NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ 2

Việc điểm qua lịch sử hình thành và phát triển của các chính sách phát
triển SMEs trên đây cho thấy các chính sách này có nội dung khá đa dạng.
Phần trình bày dưới đây sẽ phân loại các chính sách này dựa theo trọng tâm
và các công cụ thực hiện của chúng.
Trước tiên, chính sách có thể chia ra thành hai nhóm: một nhóm tập trung
vào toàn bộ SMEs nói chung ( chính sách chung hoặc chính sách cơ bản), và
nhóm kia bao gồm các chính sách đối với các nhóm SMEs riêng biệt (chính
sách đặc thù).
2.2.1. Mục tiêu của các chính sách
Mục tiêu của các chính sách chung là giúp cho SMEs có thể tồn tại bằng
cách thủ tiêu các yếu tố bất lợi bắt nguồn từ thất bại trên các thị trường lao
động, vốn, hàng hóa, và thông tin. Các chính sách này bao gồm: các chính
sách về lao động nhằm hỗ trợ cho sự phát triển kỹ năng thông qua đào tạo
nghề nghiệp và các chương trình khác; các chính sách tài chính như cấp vốn
thông qua các tổ chức tài chính chuyên trách của chính phủ đối với kinh
doanh nhỏ và chương trình đảm bảo tín dụng; các chính sách duy trì các giao
dịch thích hợp giữa các doanh nghiệp, chẳng hạn như biện pháp hạn chế các
doanh nghiệp lớn lạm dụng sức mạnh thị trường và tổ chức SMEs; và các
chính sách tư vần và hướng dẫn nhằm cung cấp thông tinh về công nghệ, thị
trường ,và quản lý. Các chính sách đặc thù bao gồm những chính sách tập
trung vào một ngành cụ thể, chẳng hạn như những chính sách hiện đại hóa

phó với sự lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp lớn và sự
thâm nhập của các doanh nghiệp này vào các khu vực do SMEs kiểm soát,
cũng như phục vụ cho các hoạt động điều chỉnh (các cacten) trong các hiệp
hội SMEs. Biện pháp cung cấp thông tin bao gồm việc soạn thảo các kế hoạch
hiện đại hóa thông tin bao gồm việc soạn thảo các kế hoạch hiện đại hóa của
từng ngành và các Tầm nhìn. Cùng với việc cung cấp thông tin về công nghệ,
thị trường và quản lý. Các chính sách liên quan đến cầu được áp dụng để đảm
bảo cho các hợp đồng mua sắm sản phẩm của SMEs, do các chính quyền
trung ương và địa phương thực hiện; Luật mua sắm công cộng ( Luật bảo đảm
cho các doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động khác.1966) được soạn thảo

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A


Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

22

nhằm cho phép SMEs nhận được các hợp đồng như vậy. Phần sau đây sẽ đề
cập chi tiết, cụ thể hơn từng công cụ chính sách.
2.2.2.1. Ban hành luật đặc biệt
Ngay từ giữa những năm 1950, chính sách hiện đại hóa SMEs đã được thể
hiện trong Chương trình cho vay vốn hiện đại hóa trang thiết bị (1954),
Luật về tài chính và các biện pháp nhằm hỗ trợ SMEs (1956) và Luật xúc
tiến hiện đại hóa SMEs (1963). Tuy nhiên, chỉ khi Bộ luật cơ bản về các
SMEs ra đời năm 1963 thì các biện pháp chính sách và công cụ chính sách
đối với SMEs mới được công bố một cách có hệ thống. Kèm theo đó, các
luật khác như Luật Hướng dẫn đối với SMEs, Luật Tài trợ cho quá trình

đóng góp dáng kể vào sự phát triển nhảy vọt của Nhật Bản trong những năm
1970.
2.2.2.2. Biện pháp thuế
Hỗ trợ các SMEs thông qua công cụ thuế được coi là một trong những
biện pháp quan trọng ở Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh và thực hiện
công nghiệp hóa. Tuy nhiên, những chế độ về thuế cụ thể lại được áp dụng
một cách linh hoạt, tùy thuộc vào từng biện pháp được áp dụng để khuyến
khích các SMEs. Chẳng hạn, để hỗ trợ những hộ kinh doanh cá thể và công ty
nhỏ, Chính phủ áp dụng cơ chế khấu trừ thuế thu nhập, hoặc giảm tỷ suất
thuế đánh vào những công ty này. Các biện pháp miễn thuế đối với SMEs để
giúp họ có thể thay đổi hoạt động kinh doanh được dựa trên Luật về các biện
pháp tạm thời nhằm chuyển hướng kinh doanh của SMEs( 2976) và Luật về
các biện pháp tạm thời đối với SMEs thuộc các ngành trì trệ (1978) và Luật
về các biện pháp tạm thời đối với SMEs (1979). Hay, để thúc đẩy việc đầu tư
thiết bị, đầu tư nghiên cứu thử nghiệm, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa ô
nhiễm công nghiệp, các SMEs được hưởng chế độ khấu hao đặc biệt, khấu trừ
thuế, hoặc được miễn t huế đối với tài sản cố định…Do các biện pháp miễn
thuế được áp dụng như vậy mà trong năm tài chính 1980, nguồn thu thuế của
ngân sách Nhật Bản đã giảm đi 38 tỷ Yên do biện pháp miễn thuế áp dụng đối
với SMEs và 53 tỷ yên do thực hiện biện pháp khấu hao trong quá trình hiện
đại hóa trong thiết bị của SMEs.
Đặc biệt, để thúc đẩy các SMEs làm thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn,
những doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được hưởng chế độ miễn thuế hoạt
động . Nhờ biện pháp này, các doanh nghiệp nhỏ ngày càng có xu hướng

T¹ Phóc §êng

Líp: QLKT 46A




12155

23086

1475

5141

3710

5467

8147

-

7060

26278

50183

92034

711

2431

6043

25

Nguồn: Chính sách công nghiệp của Nhật Bản, Nhà xuất Bản Chính trị quốc
gia, 1999.
2.2.2.3. Tài trợ vốn
Trong thời kỳ công nghiệp hóa , các SMEs được hỗ trợ về mặt tài chính
thông qua nhiều hình thức khác nhau, thông qua việc Chính phủ hỗ trợ vốn
cho các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn, cung cấp thông tin, đào tạo kỹ năng
cho SMEs hoặc những tổ chức tài chính chuyên trách của Chính phủ đối với
SMEs. Bảng trên cho thấy nếu như năm 1960, ngân sách Nhật Bản được dành
để thực hiện các biện pháp hỗ trợ SMEs là 2186 tỷ yên thì đến năm 1980, tức
sau 20 năm , con số này đã tăng lên gấp gần 106 lần, đạt 230868 tỷ yên.
Trong bảng này, ta thấy biện pháp xúc tiến hiện đại hóa SMEs bao gồm
việc hỗ trợ tài chính cho việc hiện đại hóa trang thiết bị, thúc đẩy hợp đồng
phụ, hiện đại hóa SME trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Trong khi đó,
nguồn ngân sách để tổ chức phục vụ hiện đại hóa SMEs được sử dụng vào
những khoản đầu tư và trợ cấp cho công ty kinh doanh nhỏ Nhật Bản. Ngân
sách phục vụ hoạt động tư vấn cho SMEs được dụng để hỗ trợ thực hiện giám
sát SMEs, tổ chức chương trình tư vấn, tư vấn kỹ thuật, thúc đẩy nghiên cứu
triển khai của các SMEs hay để tài trợ cho các chính sách về tổ chức. Ngoài
ra, ngân sách của chính phủ đối với SMEs còn được dùng để tài trợ cho
những khoản đầu tư, trợ cấp và cho vay đối với 3 tổ chức cấp vốn vay của
Chính phủ và các tổ chức bảo lãnh tín dụng đối với SMEs.
2.2.2.4. Cấp tín dụng theo chính sách
ở Nhật Bản, các SMEs được quyền vay tín dụng tại một số tổ chức tài
chính cung cấp tín dụng chính sách, như Công ty tài chính doanh nghiệp vừa
và nhỏ, Công ty tài chính nhân dân, Ngân hàng Shoko Chukin, Công ty kinh
donah nhỏ Nhật Bản. Đây là những tổ chức tài chính thuộc Nhà Nước, có
nhiệm vụ cung cấp tín dụng cho các SMEs để đầu tư thiết bị, hoặc để có vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status