Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp ở nam định hiện nay luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VĂN HẬU

THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS - TS. LÊ DANH TỐN

Hà Nội – 2011
cv 2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

DA

Dự án

DDI


Nxb

Nhà xuất bản

QMBQ

Quy mô bình quân

Stt

Số thứ tự

TLGN

Tỷ lệ giải ngân

UBND

Uỷ ban nhân dân

VĐK

Vốn đăng ký

VTH

Vốn thực hiện

iv


KCN cho thấy các KCN đã trở thành những thực thể kinh tế năng động nhất
trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo nguồn lực xuất khẩu, đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế.
Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, nhiều KCN đã được xây dựng và
phát triển, phát huy tác dụng tích cực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đẩy mạnh xuất khẩu, giải quyết việc làm...
Cùng với sự phát triển các KCN của cả nước, các KCN ở Nam Định ra đời
đã trở thành một trong những địa điểm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,
tạo động lực cho quá trình phát triển KT - XH của tỉnh. Tuy nhiên, các dự án
đầu tư vào KCN triển khai chậm; hầu hết các dự án đầu tư có quy mô nhỏ,
nguồn vốn đầu tư chủ yếu là nguồn vốn trong nước, vốn FDI rất hạn chế; nhu
cầu đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển dịch vụ, các ngành phụ trợ ở
các KCN rất lớn nhưng vốn huy động được quá ít. Mặc dù trong những năm
vừa qua tỉnh Nam Định đã có nhiều cố gắng song do nhiều yếu tố tác động nên
số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định còn hạn chế. Thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Nam Định nói chung và vào các KCN của tỉnh nói
riêng chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh.

1


Thu hút được nhiều FDI vào các KCN ở Nam Định trong thời gian tới là
một vấn đề cấp bách. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn vấn đề "Thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp ở Nam Định hiện nay" làm
đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về KCN nói chung và thu hút FDI vào
các KCN nói riêng, có thể nêu lên một số công trình chủ yếu sau:

- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Xuân Hinh (2003), “ quy hoạch và phát
triển KCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”. Luận án đã phân tích thực trạng
quy hoạch và phát triển các KCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp
phát triển các KCN ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Tuyển Cử (2004), “Những biện pháp phát
triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với KCN ở Việt Nam”. Luận
án đã phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt
Nam, trên cơ sở đó luận án đã đưa ra những biện pháp nhằm phát triển và hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam.
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Văn Hân (2006): “Giải pháp mở rộng tín
dụng ngân hàng đối với DN trong các KCN tại thủ đô Hà Nội”. Luận án phân
tích, đánh giá thực trạng về tín dụng ngân hàng trong các KCN Hà Nội, đồng
thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với
các DN tại các KCN ở Hà Nội.
Các công trình trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan trực tiếp và gián
tiếp đến thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu về thu hút FDI vào các KCN ở tỉnh Nam Định một
cách hệ thống và dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị. Vì vậy, việc nghiên
cứu thực trạng và đưa ra giải pháp đồng bộ nhằm thu hút FDI vào các KCN ở
Nam Định hiện nay là vấn đề rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3


3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng, đề xuất hệ thống các giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI
vào các KCN ở Nam Định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 10 tiết.

5


Chương 1
CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của KCN
1.1.1. Khái niệm KCN
Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX - khi các KCN bắt đầu được
hình thành và phát triển. Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về KCN.
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc
(UNIDO) trong tài liệu KCX tại các nước đang phát triển (Export processing
Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì KCN là khu vực tương đối
nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào
các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công
nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần
lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà.
Theo quan điểm của Hiệp hội Thế giới về KCX (World Export Processing Zone
Association - WEPZA), KCX là tất cả khu vực được Chính phủ các nước cho
phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự do
hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức này công
nhận. Cũng từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của các mối quan hệ thương
mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng, xuất phát từ yêu cầu bức thiết
của quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển,
khái niệm này đã được bổ sung bằng những quan niệm mới như: Khu kinh tế

- KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống.
- Trong KCN có thể có DN chế xuất, đó là các DN chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt
động xuất khẩu.

7


Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, tác giả luận văn thống nhất với khái niệm về
KCN đã được nêu ra Theo luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005
có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006:
- “KCN là khu sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản
xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của
Chính phủ” [21].
- “Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý
xác định được thành lập theo quy định của Chính phủ” [21].
- “Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công
nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất
và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo quy định của Chính phủ” [21].
Với khái niệm như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu là KCN tập trung,
không có dân cư sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm
môi trường, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN), với
các đặc khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập). Theo quan niệm của
Việt Nam, các KCX (chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ cho sản
xuất hàng hoá xuất khẩu), khu công nghệ cao (tập trung các DN có công nghệ
cao hoặc DN dịch vụ cho các DN có công nghệ cao) chỉ là hình thái đặc thù của
KCN tập trung (dưới đây gọi chung là KCN).
1.1.2. Đặc điểm đặc trƣng của KCN
Theo quan niệm của Việt Nam, KCN có một số đặc điểm đặc trưng chủ yếu

dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội
không nằm trong phạm vi quy định. Quan niệm này dẫn đến một thực tế là khi
xây dựng KCN, người ta không quan tâm đến tính đồng bộ của nó theo nghĩa
rộng, dẫn đến yếu tố bất cập, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả KT - XH của KCN.
1.1.3. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Thu hút các nguồn vốn đầu tư
Thực tế trong những năm qua ở nước ta, KCN đã đóng vai trò tích cực vào
việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là FDI. Số dự án đầu tư (cả trong nước và ngoài

9


nước) vào các KCN chiếm tỷ trọng khá lớn. Sự gia tăng vốn đầu tư vào các KCN
góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tư của toàn xã hội và sự phát
triển của các DN này còn tạo sức lan toả tới các DN ngoài KCN. Tính đến hết
năm 2009, các KCN của Việt Nam đã thu hút được trên 3.600 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 46,9 tỷ USD (chiếm 30% về số dự án và
25% về vốn đầu tư so với cả nước) và 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng
vốn đầu tư đăng ký 254.000 tỷ đồng [31]. Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy
nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng.
KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các DN có vốn đầu tư
nước ngoài. Thực tế từ khi xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng số vốn
đầu tư nước ngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng
số vốn FDI đầu tư trên cả nước.
Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, việc tập trung
các DN công nghiệp vào một khu vực địa lý, hình thành KCN tập trung là một
vấn đề không kém phần quan trọng, bởi trong KCN tập trung, các DN dùng
chung các công trình hạ tầng nên giảm được chi phí trên một đơn vị diện tích và
đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoạch thống
nhất, kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch lãnh thổ.

40,49% năm 1991 xuống còn 20,66% năm 2009 [27].
Sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế này chủ yếu là do tốc độ tăng
trưởng nhanh của những ngành công nghiệp chế biến, hiện nay các ngành công
nghiệp chế biến chiếm tới 80% giá trị sản lượng công nghiệp (trừ ngành khai
thác mỏ) của các DN trong các KCN, KCX.
1.1.3.3. Mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu
Hàng hoá được sản xuất tại các KCN không chỉ đáp ứng được nhu cầu
trong nước mà sẽ thâm nhập vào thị trường thế giới, do đó KCN sẽ góp phần
phát triển mặt hàng, mở rộng thị trường, phục vụ cho chiến lược kinh tế hướng
về xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các DN KCN, KCX giai đoạn từ
năm 2005 - 2008 là 38,1%. Tính đến ngày 30/12/2009, các KCN trong cả nước
đã xuất khẩu đạt 12,3 tỷ USD và 2,6 nghìn tỷ đồng [31].

11


Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và cân bằng cán cân thương
mại của mỗi nước cũng như của từng địa phương, thông qua xuất khẩu, lợi thế so
sánh của từng địa phương sẽ được khai thác có hiệu quả hơn. Trong quá trình
toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, dù DN có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp
cũng vẫn gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường, nhất là thị trường thế
giới. Thông qua liên doanh, liên kết đầu tư, nhất là với các công ty xuyên quốc
gia nắm được thị phần lớn là điều kiện tốt nhất để phát huy những lợi thế so sánh
của mỗi quốc gia và của mỗi địa phương, nhanh chóng khẳng định được thương
hiệu, vì các công ty xuyên quốc gia có vị thế và uy tín lớn trong hệ thống sản xuất
và thương mại quốc tế.
Thực tế cho thấy, nhiều KCN ở các nước, đặc biệt ở các quốc gia khu vực
châu Á đã thành công trong mục tiêu này. Theo thống kê của WEPZA (Hiệp hội
KCX thế giới), một KCX diện tích khoảng 100 ha, cần đầu tư 50 triệu USD cho
kết cấu hạ tầng, trong vòng 10 năm sẽ tạo ra hàng xuất khẩu trị giá 100 triệu

lớn. Theo con số thống kê, đến năm 2009, các DN trong KCN, KCX ở Việt Nam
đã tạo việc làm cho khoảng 750 nghìn người lao động trực tiếp, và hơn 1 triệu
lao động gián tiếp. Phần lớn những lao động này là lao động trẻ, có khả năng
nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới. Trong tổng số lượng lao động trong các
KCN, có đến 90% lao động có độ tuổi từ 18 đến 35 [31]. Nếu so sánh với khả
năng tạo việc làm của các KCN, KCX thì con số 750 nghìn lao động trực tiếp và
hơn 1 triệu lao động gián tiếp chưa phải là lớn, chưa tương xứng với tiềm năng.
Nhưng điều quan trọng là số lao động này được tiếp cận với công nghệ sản xuất
hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để
xây dựng đội ngũ lao động mới có kỷ luật, có chuyên môn, kỹ thuật và có năng
suất lao động cao đáp ứng nhu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước. Mặt
khác, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các DN, nhiều KCN, KCX đã
mở các cơ sở đào tạo nghề. Việc thành lập các trung tâm dạy nghề và đào tạo
trong các KCN, KCX đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các
DN trong KCN nói riêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung.
Thực tế cho thấy, tại các địa phương có KCN, tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt,

13


điều đó tác động khá tích cực đến việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần
làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên.
1.1.3.6. KCN góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường
Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Các nước
đang phát triển thực hiện CNH, HĐH cần chú ý sự phát triển cân bằng cả kinh tế,
xã hội và môi trường. Vấn đề môi trường là một yếu tố quan trọng mà bất cứ một
DN sản xuất nào đều phải giải quyết và xử lý. Với mục tiêu chỉnh trang các đô
thị theo hướng hiện đại, văn minh và bảo vệ môi trường, phải di dời nhà máy, xí
nghiệp sản xuất công nghiệp trong các đô thị ra các vùng ngoại thành. Nếu các
DN phân bố phân tán, việc xử lý chất thải do từng DN thực hiện riêng rẽ sẽ rất

- Việc xây dựng các KCN cần phải có mặt bằng xây dựng. Nếu chính sách
đền bù giải phóng mặt bằng cho các KCN không phù hợp, không được người
dân đồng tình thì có thể gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển KCN.
Chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng cho các KCN nếu không phù hợp
có thể dẫn đến tình trạng bần cùng hóa một bộ phận nông dân. Trong thời gian
qua, việc đền bù, giải phóng mặt bằng có nhiều bất cập, hạn chế, vừa phức tạp,
vừa tốn nhiều thời gian, tiền bạc. Nhiều KCN phải mất từ 2 đến 3 năm mới đền
bù, giải tỏa xong. Điều này đã đẩy chi phí xây dựng tăng lên, dẫn đến giá cho
thuê đất tăng cao, làm giảm tính hấp dẫn của KCN.
- Mặc dù KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và kiểm soát ô nhiễm
môi trường sinh thái, nhưng nếu không có chính sách và cơ chế quản lý chặt chẽ,
có hiệu quả thì sẽ gây tác động ngược lại, mức độ ô nhiễm môi trường sẽ tăng
lên nhanh.
Các KCN vì mục tiêu kinh doanh, vì cố gắng thu hút các dự án đầu tư bất
kể ở trình độ nào, vì tiết kiệm chi phí đầu tư nên các KCN không quan tâm thỏa
đáng đến việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải. Điều đó dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng ở một số KCN.
- Hơn nữa, việc tập trung nhiều DN sản xuất trên một địa bàn, thu hút một
lượng đông đảo lao động từ các địa phương khác đến có thể dẫn tới sự quá tải của
hệ thống kết cấu hạ tầng và mất an ninh trong khu vực.

15


Tình trạng thiếu nhà ở, trường học, chợ, trung tâm giải trí, cơ sở y tế... cho
người lao động là phổ biến tại các KCN. Người công nhân tự bươn trải lấy cuộc
sống. Từ đó có những tác động lớn đến trật tự an ninh, an toàn xã hội; vấn đề vệ
sinh môi trường; những tác động đến sức khỏe; phát sinh tệ nạn xã hội; ảnh
hưởng đến đời sống tinh thần của người lao động.
Vấn đề bảo đảm văn hóa tinh thần của công nhân KCN chưa có giải pháp

Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau:
“Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư” [21, tr.8].
“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư” [21, tr.8].
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
như sau: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản
do tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài mang vào nước khác (nước tiếp
nhận) để thực hiện kinh doanh theo luật pháp của nước tiếp nhận nhằm thu
được lợi ích. Các nhà đầu tư có quyền điều hành DN tuỳ theo tỷ lệ góp vốn
của mình.
1.2.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức liên kết kinh doanh giữa
hai bên hoặc nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành
lập một pháp nhân.
- Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do
hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở
góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ
góp vốn. DN liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, công
ty cổ phần có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là DN thuộc sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả

17


sản xuất kinh doanh nhưng vẫn là pháp nhân của nước chủ nhà và chịu sự
kiểm soát của luật pháp nước chủ nhà.

- FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất” “chu kỳ tuổi thọ kỹ
thuật”. Trên thực tế, nhất là trong nền kinh tế hiện đại có một số yếu tố liên quan
đến kỹ thuật sản xuất, kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất phải lựa chọn
phương thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như là một điều kiện cho sự tồn tại
và phát triển của mình. Ngoài ra, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp DN thay
đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận
ở nước có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất.
- FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là
nước tiếp nhận đầu tư .
1.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thu hút FDI vào các KCN
1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Thực tế cho thấy, địa phương có những điều kiện như cảng biển, đường
quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt đi qua, nằm trong trung tâm kinh tế lớn hoặc ở
gần kề đều thu hút được nhiều dự án đầu tư. Ở nước ta, Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh là 2 trung tâm kinh tế lớn của đất nước, do vậy thu hút đầu tư vào
KCN ở 2 thành phố này cũng như các vùng xung quanh rất mạnh mẽ.
Qua số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các địa phương trong cả nước ta
thấy FDI tập trung chủ yếu tại 02 vùng trong cả nước là vùng kinh tế trọng điểm
miền Bắc (21%), vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (66%). Mà tâm điểm của
02 vùng này là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Miền Trung FDI chiếm 4%
với tổng vốn đầu tư đạt 5% và cũng tập trung chủ yếu tại Đà Nẵng và một số tỉnh
trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố cần thiết để tiến hành
hoạt động sản xuất. Vì nó cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.
KCN nằm trong vùng sẵn có nguyên liệu cho sản xuất, các nhà đầu tư sẽ giảm
bớt được chi phí vận tải, tránh được gián đoạn sản xuất trong trường hợp khó
khăn về giao thông. Vùng có trữ lượng khoáng sản lớn, phong phú và có giá trị
kinh tế cao sẽ tạo điều kiện thu hút các DN đầu tư vào công nghiệp khai khoáng,

19


20


của một nước càng đồng bộ, rõ ràng, chặt chẽ, không có sự chồng chéo, phù hợp
với hệ thống luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút FDI của nước đó
sẽ càng cao và ngược lại.
Hoạt động của các DN xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, Ban quản lý
KCN, các DN KCN đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật như: Quy chế
KCN, KCX, khu công nghệ cao, Luật đầu tư nước ngoài, Luật Lao động, Luật
Đất đai, Luật Môi trường,…Nếu các luật này được ban hành với nội dung cụ thể
đồng bộ và được sử dụng có hiệu lực thống nhất giữa các cơ quan thi hành luật
thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trong KCN, tránh được những khiếu
kiện không cần thiết, hay những vi phạm pháp luật không đáng có.
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong việc thu hút
FDI, nhiều nước trên thế giới đã liên tục thay đổi, bổ sung thêm các văn bản, luật
hướng dẫn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài và đây
cũng là yếu tố cạnh tranh quyết liệt giữa các nước cũng như các khu vực.
1.2.2.3. Các yếu tố kinh tế
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, thể hiện ở mức độ tăng trưởng
kinh tế, trình độ quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các
dịch vụ cho hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp sẽ hạn chế sự phát triển của thị trường trong
nước. Từ đó, nguồn thu về cho ngân sách cũng hạn hẹp, không có vốn để đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng. Thu nhập của người lao động thấp kéo theo sức cầu thị
trường thấp… Do đó, các DN khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá. Nói chung, trình
độ kinh tế xã hội thấp ảnh hưởng xấu đến khả năng thu hút đầu tư. Trái lại, với
trình độ phát triển kinh tế xã hội cao sẽ là yếu tố thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn
kinh doanh.

- Hệ thống thị trường
Hệ thống thị trường có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút FDI, nó kìm
hãm hoặc kích thích quá trình sản xuất của các DN, chính vì vậy trước khi tìm

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status