i
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THU HÚT ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trần Quang Thắng
Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Lan
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại
HÀ NỘI – NĂM 2014
ii LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em.
1.4. Kinh nghiệm quốc tế và trong nƣớc về thu hút FDI vào các KCN và bài
học rút ra 14
1.4.1. Kinh nghiệm quốc tế 14
1.4.2. Kinh nghiệm trong nƣớc 16
1.4.3. Bài học rút ra cho các KCN ở Hà Nội 20
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI 22
iv
2.1. Những lợi thế và tiềm năng đầu tƣ của Hà Nội 22
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 22
2.1.2. Điều kiện văn hóa xã hội 23
2.1.3. Điều kiện kinh tế 24
2.2. Tổng quan về Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội 25
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ban Quản lý 25
2.2.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động của Ban Quản lý 26
2.2.3. Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý 28
2.2.4. Tình hình hoạt động của Ban Quản lý trong những năm gần đây . 30
2.2.5. Định hƣớng phát triển Ban Quản lý trong tƣơng lai 32
2.3. Phân tích tình hình thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN
trên địa bàn thành phố Hà Nội 33
2.3.1. Tổng quan về 08 KCN đang hoạt động ở Hà Nội 33
2.3.2. Tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội 37
2.4. Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các KCN ở Hà Nội thời gian qua . 53
2.4.1. Các kết quả đạt đƣợc 53
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 63
CHƢƠNG 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG
CƢỜNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU
Viết đầy đủ tiếng Anh
Viết đầy đủ tiếng Việt
1
ANTT
An ninh trật tự
2
ASEAN
Association of Southeast
Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
3
BCC
Business Cooperation
Contract
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
4
BOT
Build – Operate - Transfer
Xây dựng – Kinh doanh –
Chuyển giao
5
BQL
Ban quản lý
6
BTO
Build – Transfer - Operate
Xây dựng – Chuyển giao –
14
GCNĐT
Giấy chứng nhận đầu tƣ
15
GPMB
Giải phóng mặt bằng
16
HĐND
Hội đồng nhân dân
17
IMF
International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
18
KCN
Khu công nghiệp
vii
19
KCN&CX
Khu công nghiệp và chế xuất
20
KCX
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Nội dung
Trang
Bảng 2.1
Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN Hà
Nội (2010 - 2013)
38
Bảng 2.2
Tăng trƣởng của vốn đăng ký đầu tƣ nƣớc ngoài (2010 –
2013)
39
Bảng 2.3
Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của từng KCN ở Hà
Nội (lũy kế đến ngày 31/12/2013)
40
Bảng 2.4
Quy mô trung bình của một dự án FDI trong các KCN Hà
Nội (2010 – 2013)
43
Bảng 2.5
Quy mô trung bình một dự án FDI của từng KCN ở Hà
Nội (lũy kế đến ngày 31/12/2013)
44
Bảng 2.6
Cơ cấu vốn FDI vào các KCN Hà Nội phân theo ngành
Bộ máy tổ chức của Ban Quản lý các khu công nghiệp và
chế xuất Hà Nội năm 2013
29
Biểu đồ 2.2
Tỷ lệ giải ngân của từng KCN trên địa bàn thành phố Hà
Nội (lũy kế đến ngày 31/12/2013)
42
Biểu đồ 2.3
Cơ cấu vốn FDI phân theo các KCN (lũy kế đến ngày
31/12/2013)
45
Biểu đồ 2.4
Cơ cấu vốn FDI phân theo hình thức đầu tƣ (lũy kế đến
ngày 31/12/2013)
47
Biểu đồ 2.5
Tỷ lệ lấp đầy của các KCN Hà Nội (lũy kế đến ngày
31/12/2013)
52
Biểu đồ 2.6
Kim ngạch XNK của các doanh nghiệp FDI trong các
KCN ở Hà Nội (2010 – 2013)
58
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo nhiều cơ hội cũng
nhƣ không ít thách thức cho sự phát triển của nền kinh tế các nƣớc, đặc biệt là các
Nội.
Từ những vấn đề nêu trên, cần thiết phải có nghiên cứu phân tích, đánh giá
thực trạng thu hút FDI vào các KCN ở Hà Nội, đồng thời đƣa ra một số giải pháp
nhằm thúc đẩy thu hút FDI vào các KCN ở Hà Nội. Vì vậy, đề tài: “Một số giải
pháp tăng cƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các khu công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội” đƣợc chọn để nghiên cứu.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu thực trạng và giải pháp thu
hút FDI vào các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua.
Mục đích nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KCN và FDI.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 1995 – 2013, đặc biệt chú trọng đến giai đoạn 2010 – 2013.
- Dự báo tình hình thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2015 – 2020.
- Nghiên cứu đề xuất, định hƣớng và một số giải pháp tăng cƣờng thu hút FDI
vào các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thu hút FDI của 8 KCN ở Hà Nội đang
hoạt động giai đoạn 1995 – 2013 và đặc biệt chú trọng tới 04 năm gần đây 2010 –
2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập thông tin
- Phƣơng pháp phân loại, sao chụp tài liệu: dùng để thu thập các tài liệu trong
và ngoài nƣớc có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
- Phƣơng pháp thống kê theo mẫu, biểu: đƣợc sử dụng để thu thập thông tin về
số lƣợng dự án FDI, số vốn đầu tƣ đăng ký, số vốn thực hiện, tỷ lệ lấp đầy KCN
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3
thực hiện các mục tiêu nhất định nhƣ: Phát triển các KCN, quản lý nhà nƣớc về
KCN hoặc khai thác tác động của KCN đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Theo luật Đầu tƣ 2005 định nghĩa “ Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ” [11].
Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày
24/04/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN đƣợc hiểu nhƣ sau: “Khu công nghiệp
là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có
dân cƣ sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập,
trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất” [6].
Trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, với sự chuyển dịch
từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, quan niệm về
KCN đƣợc mở rộng. Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh bằng các quy
định pháp lý trong nƣớc mà còn bằng cả các quy định pháp lý quốc tế. Đặc biêt, là
những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các KCN với những ƣu đãi
không đƣợc trái với các nguyên tắc điều chỉnh của WTO. Quá trình duy trì những
ƣu đãi này thƣờng gắn với quá trình đàm phán giữa các bên và sau khi đã trở thành
thành viên chính thức, các nƣớc thành viên phải sửa đổi các ƣu đãi “nổi trội” này để
phù hợp với những nguyên tắc tự do, minh bạch và công bằng cũng nhƣ các thông
lệ của WTO.
Qua các khái niệm đƣợc quy định trong luật và từ thực tế hình thành các KCN
trong những năm trƣớc đây, có thể hiểu: “Khu công nghiệp là một vùng lãnh thổ
xác định, đƣợc phát triển có hệ thống, theo một kế hoạch tổng thể, nhằm cung cấp
địa điểm cho các ngành công nghiệp với hệ thống kết cấu hạ tầng, tiện ích công
5
cộng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển ở mức độ khác nhau, đƣợc hƣởng chính sách
và cơ chế quản lý thích hợp tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi
quốc gia trong từng giai đoạn cũng nhƣ mức độ hội nhập của quốc gia đó”.
Thứ ba, KCN góp phần giải quyết việc làm thông qua việc sử dụng một lực
lƣợng lớn lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều việc làm mới, tạo thu nhập cho ngƣời lao
động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động, đào tạo kỹ năng, tay nghề cho ngƣời
lao động, tạo cầu cho sự phát triển nhiều ngành nghề dịch vụ.
Thứ tư, với việc ứng dụng công nghệ cao, mô hình sản xuất, quản lý khoa học
sẽ giúp nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất.
Thứ năm, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do các nhà mày sản xuất gây ra đang là
một vấn đề nhức nhối. Việc xây dựng các KCN tập trung sẽ tạo điều kiện thuận lợi
trong việc kiểm soát, xử lí chất thải bảo vệ môi trƣờng, giảm đƣợc chi phí cho việc
xử lí chất thải. Đồng thời, các KCN tập trung còn là địa điểm tốt để di dời các cơ sở
sản xuất gây ô nhiễm môi trƣờng từ các đô thị, các thành phố lớn, phục vụ mục tiêu
phát triển công nghiệp bền vững.
1.2. Một số lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.2.1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI – Foreign
Direct Investment) đƣợc định nghĩa là “Một khoản đầu tƣ với những quan hệ lâu
dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tƣ trực tiếp) thu đƣợc lợi
ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”. Mục đích của nhà
đầu tƣ trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hƣởng trong quản lý doanh nghiệp đặt tại nền
kinh tế khác đó [21].
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thƣơng mại và Phát triển UNCTAD cũng đƣa ra
một khái niệm FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn đƣợc cung cấp (trực tiếp
hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cho
các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhận đƣợc từ
doanh nghiệp FDI. FDI bao gồm ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tƣ và
các khoản vay trong nội bộ công ty.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra khái niệm: “Một doanh
nghiệp đầu tƣ trực tiếp là một doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoặc không có tƣ
cách pháp nhân trong đó nhà đầu tƣ trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thƣờng
nhân. Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý điều này khi
tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và
các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ mục tiêu phát triển
8
kinh tế, xã hội của nƣớc mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm
kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tƣ.
Thứ tư, chủ đầu tƣ tự quyết định đầu tƣ, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh
doanh và kết quả đạt đƣợc.
Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tƣ, hình thức đầu
tƣ, thị trƣờng đầu tƣ, quy mô đầu tƣ cũng nhƣ công nghệ cho mình. Do đó, sẽ tự
đƣa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả thi
cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền
kinh tế của nƣớc nhận đầu tƣ.
Lợi nhuận của nhà đầu tƣ thu đƣợc phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh đƣợc chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế
thu nhập và các khoản đóng góp khác cho nƣớc sở tại, nó mang tính chất thu nhập
kinh doanh chứ không phải lợi tức.
1.2.2. Các hình thức của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.2.2.1. Phân theo bản chất đầu tư
- Đầu tƣ phƣơng tiện hoạt động
Đầu tƣ phƣơng tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tƣ
mua sắm và thiết lập các phƣơng tiện kinh doanh mới ở nƣớc nhận đầu tƣ. Hình
thức này làm tăng khối lƣợng đầu tƣ vào.
- Mua lại và sáp nhập
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể
đang hoạt động ở nƣớc nhận đầu tƣ hay ở nƣớc ngoài) mua lại một doanh nghiệp có
vốn FDI ở nƣớc nhận đầu tƣ. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối
lƣợng đầu tƣ vào.
hiệp định hợp tác kinh tế giữa nƣớc tiếp nhận với các nƣớc và khu vực khác, lấy
nƣớc tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trƣờng khu vực và toàn cầu.
1.2.2.4. Phân theo hình thức đầu tư
- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài là một thực thể kinh doanh quốc tế, có tƣ
cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài góp 100% vốn pháp định, tự chịu
trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
10
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham
gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh, nhằm thực
hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp liên doanh, phù
hợp với khuôn khổ luật pháp của nƣớc nhận đầu tƣ.
- Hình thức hợp đồng BCC
Hợp đồng BCC là một văn bản đƣợc ký kết giữa một chủ đầu tƣ nƣớc ngoài và
một chủ đầu tƣ nƣớc chủ nhà để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở nƣớc
chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà
không thành lập pháp nhân mới.
- Hình thức BOT và các hình thức phát sinh: BTO, BT
Hợp đồng BOT là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền nƣớc chủ nhà và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để đầu tƣ xây dựng, sau khi công
trình hoàn thành sẽ tiến hành kinh doanh khai thác trong một thời hạn nhất định
đảm bảo thu hồi đƣợc vốn và có lợi nhuận hợp lý; hết thời hạn, nhà đầu tƣ chuyển
giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nƣớc sở tại.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựng
chuyển giao BT, đƣợc hình thành tƣơng tự nhƣ hợp đồng BOT nhƣng có điểm khác
là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tƣ nƣớc ngoài
chuyển giao lại cho nƣớc chủ nhà và đƣợc chinh phủ nƣớc chủ nhà dành cho quyền
kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để hoàn lại
kiện tăng thu ngân sách dƣới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi
ngân sách, tạo ra môi trƣờng cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thƣơng
mại, giúp ngƣời lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các
nƣớc khác.
- Trƣờng hợp nƣớc tiếp nhận đầu tƣ là nƣớc đang phát triển
Đối với các nƣớc đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế
thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết
một phần nạn thất nghiệp ở những nƣớc này. FDI giúp các nƣớc này khắc phục tình
trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp
các nƣớc đang phát triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các
nƣớc đang phát triển mở cửa thị trƣờng hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt
12
động marketing đƣợc mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà
nƣớc thông qua việc đánh thuế các công ty nƣớc ngoài.
Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện:
Thứ nhất, giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nƣớc.
Thứ hai, đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh
nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt Nam
tăng lên và cho phép giải quyết đƣợc tình trạng thất nghiệp của ngƣời lao động.
Thứ ba, tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế
giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nƣớc ta so với thế giới.
Thứ tư, nhờ có FDI, Việt Nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nƣớc
mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn nhƣ: khai thác dầu mỏ, khoáng
sản,
Mặt hạn chế
Luồng vốn FDI chỉ đi vào những nƣớc có môi trƣờng kinh tế - chính trị ổn
định, môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn.
Nƣớc nhận đầu tƣ không có kế hoạch đầu tƣ chi tiết, cụ thể và khoa học dễ dẫn
tới tình trạng đầu tƣ tràn lan, tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực bị khai thác cạn
đầu tƣ để phát triển các KCN Việt Nam bằng nguồn vốn nƣớc ngoài theo con đƣờng
chính thức không có tính khả thi.
Nguồn vốn nƣớc ngoài vào Việt Nam qua con đƣờng tƣ nhân hoặc vay nợ
thƣơng mại có thể từ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), đầu tƣ gián tiếp hay đầu tƣ
chứng khoán và cho vay với lãi suất thƣơng mại trên thị trƣờng (vay thƣơng mại).
Với vốn vay thƣơng mại thì lãi suất thƣờng cao nên nguồn vốn vay dễ trở thành
gánh nợ về nợ nƣớc ngoài trong tƣơng lai nếu dùng để phát triển các KCN không
hiệu quả. Đầu tƣ gián tiếp tự nó không trở thành gánh nặng về nợ nƣớc ngoài,
nhƣng sự thay đổi đột ngột trong hành động của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (bán chứng
khoán về nƣớc) sẽ ảnh hƣởng mạnh đến thị trƣờng và gây biến động tới tỷ giá, mức
độ lạm phát và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, thị trƣờng chứng
khoán Việt Nam còn quá non trẻ nên việc thu hút vốn qua kênh đầu tƣ gián tiếp để
phát triển KCN có thể có hiệu quả trong tƣơng lai chứ không phải thời điểm này.
FDI cũng là hình thái không trở thành nợ nhƣng khác với đầu tƣ gián tiếp, đây
là vốn có tính chất bén rễ ở nƣớc nhận đầu tƣ nên không dễ bị rút ra trong một thời
gian ngắn. Điều này hết sức quan trọng cho nƣớc ta để có thể lập kế hoạch dài hạn
cho việc phát triển các KCN ít nhất là về mặt nguồn vốn. Ngoài ra một điều đáng
14
chú ý nữa là, FDI không chỉ tiếp nhận vốn mà còn tiếp nhận cả công nghệ và tri
thức kinh doanh, FDI góp phần xây dựng một đội ngũ lao động có tình độ cao hơn
nên dễ dàng thúc đẩy các KCN phát triển lên một trình độ cao hơn.
Mỗi hình thái của vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đều có những đặc tính riêng, song có
thể thấy rằng, ở giai đoạn này, cơ cấu tƣ bản nƣớc ngoài có lợi nhất để phát triển
các KCN là FDI.
Nhƣ vậy, chính vì các yếu tố trên mà FDI có thể đƣợc coi là nguồn vốn quan
trọng để phát triển các KCN ở Việt Nam.
1.3.2. Khu công nghiệp là nơi thu hút FDI
Về cơ bản, KCN nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tƣ, chủ yếu là đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài vào các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến gia công xuất khẩu. Theo
viên công nghiệp. Theo đó, sẽ chú trọng hơn công tác bảo vệ môi trƣờng sinh thái,
các ngành công nghệ cao. Hình thành các KCN dựa trên các kế hoạch phát triển của
Chính quyền Đài Loan nhằm phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn nhƣ: lọc
hóa dầu, luyện kim, đóng tàu biển,…
Thứ tư, việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của các KCN ở Đài
Loan nhƣ: cấp phép đầu tƣ, hải quan, thuế,… đƣợc tiến hành theo cơ chế “một cửa”
Thứ năm, Chính quyền Đài Loan đã ban hành nhiều chính sách hấp dẫn các
nhà đầu tƣ FDI nhƣ: chính sách thuế, với thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp
thấp, thời gian miễn và giảm thuế dài; giá thuê đất để phát triển hạ tầng thấp, đƣợc
hỗ trợ vốn vay cụ thể: miễn 5 năm đối với tất cả các dự án đầu tƣ mới, đƣợc vay
vốn với lãi suất thấp (khoảng 6,2%/năm). Đối với công ty mới thành lập, sau khi hết
hạn miễn thuế 5 năm, đƣợc giảm 80% thuế lợi tức trong 1 năm tiếp theo. Bên cạnh
đó, các thủ tục hành chính đƣợc giảm thiểu và đơn giản hóa. Các doanh nghiệp
KCN đƣợc đảm bảo quyền sở hữu đối với vốn và tài sản, đƣợc chuyển lợi nhuận ra
nƣớc ngoài,… Do đó, các KCN ở Đài Loan đã thực sự là địa điểm hấp dẫn đối với
các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài.
1.4.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Thứ nhất, về quản lý nhà nƣớc và cải cách thủ tục hành chính
Đƣợc sự ủy quyền, phân cấp của các Bộ, ngành, các KCN ở Trung Quốc đƣợc
quản lý theo cơ chế “một cửa”. Cải cách thủ tục triệt để, đơn giản và công khai các
thủ tục hành chính, để tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tƣ. KCN Tô Châu ở
16
Trung Quốc là một trong những KCN đi đầu ở Trung Quốc áp dụng chế độ khai
báo, đăng ký thủ tục hành chính qua mạng.
Thứ hai, về bảo vệ môi trƣờng
Các KCN ở Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống quản lý môi trƣờng theo các
tiêu chuẩn trong nƣớc và quốc tế. Các KCN phải đƣợc phủ xanh ít nhất 30% diện
tích.
Thứ ba, xây dựng hạ tầng kỹ thuật – xã hội – dịch vụ trong và ngoài KCN