ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THANH NGA
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN
VỮNG ................................................................................................. 6
1.1. Cơ sở lý luận phát triển du lịch bền vững .................................................... 6
1.1.1. Một số khái niệm ................................................................................ 6
1.1.2. Mục tiêu của du lịch bền vững .......................................................... 10
1.1.3. Một số tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững ......................... 11
1.1.4. Vai trò và sự cần thiết của phát triển du lịch bền vững ...................... 16
1.2. Cơ sở thực tiễn phát triển du lịch bền vững ............................................... 19
1.2.1. Quá trình phát triển du lịch ở Việt Nam ............................................ 19
1.2.2. Những bài học kinh nghiệm phát triển du lịch .................................. 21
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DU LỊCH Ở HÀ TĨNH .............................................. 27
2.1. Những điều kiện về tiềm năng du lịch ở Hà Tĩnh ...................................... 27
2.1.1. Vị trí địa lý của Hà Tĩnh ................................................................... 27
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên ở Hà Tĩnh ............................................. 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 89
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 93
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nền kinh tế thế giới đã phát triển ở trình độ cao. Khoa học, kĩ
thuật công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, theo đó, nhu cầu về du lịch của
các tầng lớp dân cư ở các quốc gia cũng tăng lên. Du lịch đã trở thành vấn đề
mang tính chất toàn cầu. Nhiều quốc gia đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư
để đánh giá chất lượng cuộc sống. Theo tổ chức du lịch thế giới thì đầu thế kỉ
XXI, số lượt khách đi du lịch trên toàn cầu là hơn 700 triệu/ năm và đạt thu
nhập hơn 500 tỷ USD. Ngành du lịch quốc tế đạt 856 tỷ USD trong năm 2007
chiếm 30% giao dịch xuất khẩu trên thế giới. Trong năm 2008, số lượt khách
du lịch trên thế giới đạt 924 triệu lượt. Năm 2009 ngành du lịch thế giới ước
tính sẽ đóng góp 5.474 tỷ USD cho sự tăng trưởng kinh tế và ước tính năm
2010, số lượt khách du lịch đạt được trên toàn cầu sẽ là 1,6 tỷ (GPA).
Ở Việt Nam, Đảng ta đã xác định phát triển du lịch là một hướng chiến
lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn 20 năm đổi mới, phát triển du lịch thực
sự đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế nước nhà. Nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế dựa vào điều
kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử của đất nước, con người
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế
để Việt Nam sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực.
Hà Tĩnh là một miền quê giàu truyền thống văn hóa, có nhiều cảnh
quan tự nhiên đẹp, hùng vĩ. Điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp nhưng lại rất giàu tiềm năng để phát triển du lịch. Hà Tĩnh trải
dài 135km bờ biển, với những bãi cát mịn màng và nước biển xanh trong đã
các khía cạnh: Nguồn lực và khai thác nguồn lực; thể loại du lịch và cách lựa
chọn thể loại kinh doanh, v.v… Chủ yếu các tác giả xem xét trên góc độ cung
cầu du lịch trên thị trường và hành vi ứng xử của doanh nghiệp khi kinh
doanh trong lĩnh vực du lịch. Tiêu biểu có một số tác phẩm như: Du lịch và
2
kinh doanh du lịch, Trần Nhạn, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1996; Thị
trường du lịch, Nguyễn Văn Lưu, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội,
1999; Phát triển và quản lý du lịch địa phương, Nhà xuất bản khoa học Bắc
Kinh, Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương dịch và một số tác phẩm khác.
Nhóm về môi trường và phát triển bền vững: Đã có nhiều bài báo, tạp
chí và các cuộc hội thảo bàn về vấn đề phát triển bền vững, nhưng đến nay
vẫn chưa có một ý kiến thống nhất cho giải pháp phát triển du lịch bền vững
trên toàn thế giới. Một số tác phẩm tiêu biểu như: Tài nguyên và môi trường
du lịch Việt Nam, Phan Trung Lương chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội, 2000; Tài nguyên thiên nhiên và môi trường với tăng trưởng và phát
triển bền vững ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
Phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế, Nguyễn
Văn Mạnh, tạp chí Khoa học kinh tế, tháng 8/2008.
Các tiêu chí và đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế, xã hội và
môi trường đã được đề cập đến trong các tác phẩm. Các tác giả cũng đã đánh
giá được tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với phát triển kinh tế, xã
hội và tác động của các hoạt động kinh tế đến biến đổi khí hậu, biến đổi điều
kiện sống của con người. Tuy nhiên, các tác phẩm đánh giá mối quan hệ qua
lại giữa phát triển du lịch với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường
tự nhiên không nhiều. Có chăng là các cách nhìn từ biểu hiện bên ngoài và
một số tác động quá rõ ràng mà báo chí và các phương tiện truyền thông đã
đưa tin.
năm 2020 để phát triển du lịch Hà Tĩnh theo hướng bền vững.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh; phương pháp thống kê, xã hội
học; logic và lịch sử.
4
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn để
phát triển du lịch bền vững ở Hà Tĩnh.
- Phân tích, đánh giá, làm rõ những thành tựu cũng như những hạn chế
trong phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Hà Tĩnh.
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch của Hà Tĩnh theo
hướng bền vững. Qua đó có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý du
lịch ở Hà Tĩnh và những cán bộ liên quan có sự quan tâm nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu 3 chương, 9 tiết:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch bền vững.
Chƣơng 2: Thực trạng du lịch ở Hà Tĩnh.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp từ nay đến năm 2020 để phát
triển du lịch bền vững ở Hà Tĩnh.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
và còn chưa thống nhất về cách hiểu, cách diễn đạt. Ví dụ như cuốn từ điển
Đa dạng phát triển sinh học bền vững cho rằng, sự phát triển đem lại lợi ích
lâu dài về kinh tế, xã hội và môi trường mà có quan tâm đến nhu cầu của thế
hệ tương lai được gọi là phát triển bền vững (PTBV); còn theo định nghĩa cổ
điển của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới thì: “PTBV là sự phát triển
nhằm thoả mãn những nhu vầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến
nhu cầu thoả mãn của thế hệ mai sau” [8, tr.35].
PTBV phải đạt được sự cân bằng tổng thể trong ba lĩnh vực kinh tế - xã
hội - môi trường. Đây chính là ba thành tố trụ cột của PTBV mà bất cứ quốc
gia hay vùng lãnh thổ nào muốn đạt được mục tiêu PTBV đều phải quan tâm.
Sự phát triển trong từng lĩnh vực phải gắn bó mật thiết, hữu cơ, biện chứng
với nhau. PTBV phải đảm bảo rằng sản xuất, sinh hoạt của con người luôn
nằm trong giới hạn kiểm soát được. Khả năng tải của môi trường sẽ chịu đựng
mức ô nhiễm có giới hạn mà nếu vượt quá mức ấy sẽ gây tình trạng mất cân
bằng sinh thái. Nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng dài hạn, ổn định kèm theo
các điều kiện sống của con người được nâng cao. Môi trường sống ngày càng
được cải thiện, trong sạch hơn. Những thành tựu của sự phát triển được thế hệ
mai sau để kế thừa và phát huy. Thông thường sự bình đẳng giữa các thế hệ
được hiểu là sẽ không đạt được nếu thiếu đi sự công bằng xã hội trong hiện tại
hoặc các hoạt động của nhóm kinh tế này gây tổn hại đến lợi ích và cuộc sống
của nhóm người khác.
Có thể nói rằng, tất cả các sự vật hiện tượng, trong đó bao gồm cả con
người đều nằm trong quá trình vận động, phát triển nhưng sự phát triển phải
đáp ứng đầy đủ được ba chức năng cơ bản là: tạo cho con người một không
gian sống với phạm vi và chất lượng tiện nghi hơn; cung cấp cho con người
các tài nguyên để sản xuất; xử lý, đồng hoá các phế thải sản xuất và sinh hoạt,
đảm bảo các phế thải không gây ô nhiễm môi trường.
PTBV nhằm đạt được nhiều mục tiêu khác nhau
7
8
động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các
nhu cầu đa dạng cuả khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài
hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài
nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển về hoạt động du
lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao
mức sống của cộng đồng địa phương.
Hiến chương DLBV được đưa ra tại hội nghị thế giới về DLBV tổ chức
ở Lanzarote, Canary Islands, Tây Ban Nha, trong đó nêu ra quan điểm về
DLBV như sau: “nhận thức được rằng du lịch, một hiện tượng mang tính hai
mặt ở chỗ du lịch vừa có khả năng đóng góp một cách tích cực vào những
thành tựu kinh tế - xã hội cũng như chính trị, đồng thời nó cũng một phần dẫn
tới sự xuống cấp về môi trường và mất đi những bản sắc của từng địa phương,
phải được xem xét giải quyết trên cơ sở một hệ tư tưởng có tính toàn cầu” [47].
Đứng trên góc độ từ những địa phương cung cấp du lịch thì: du lịch bền
vững là hoạt động du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi
ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể
được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà họ phụ
thuộc vào.
Như vậy, các khái niệm, quan điểm về du lịch bền vững có khác nhau
trong ngôn ngữ nói, nhưng nhìn chung đều dựa trên khái niệm phát triển bền
vững và phát triển thêm, chi tiết, cụ thể hơn. Trong khái niệm Du lịch bền
vững, ngoài việc đảm bảo nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu
cầu của thế hệ tương lai nói chung, bên cạnh đó còn chỉ ra mối liên hệ giữa
nhu cầu của khách du lịch và cuộc sống của người dân bản địa.
Tóm lại, du lịch bền vững là hoạt động du lịch đảm bảo thỏa mãn ba
điều kiện:
hội và văn hoá là rất quan trọng đối với DLBV, tạo ra sức bật cho
ngành du lịch.
4. Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc
gia.
10
5. Hỗ trợ nền kinh tế địa phương: du lịch phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế
địa phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế
bản địa cũng như tránh gây hại cho môi trường.
6. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: điều này không chỉ
đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường mà còn tăng cường đáp
ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách.
7. Sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng: tư vấn giữa công
nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan là đảm
bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy
sinh.
8. Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch, nhằm thực thi các sáng kiến và giải
pháp DLBV, nhằm cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch.
9. Marketing du lịch một cách có trách nhiệm: phải cung cấp cho du
khách những thông tin đầy đủ vá có trách nhịêm nhằm nâng cao sự tôn
trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá khu du
lịch, qua đó góp phần thoả mãn nhu cầu của du khách.
10. Triển khai các nghiên cứu, nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề, mang lại
lợi ích cho khu du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách.
1.1.3. Một số tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Có nhiều tiêu chí để đánh giá phát triển du lịch bền vững, trong đó có hai
cách đánh giá được sử dụng nhiều nhất đó là đánh giá phát triển du lịch bền
vững theo khả năng tải và đánh giá dựa theo hệ thống chỉ thị của môi trường.
quản lý có thể can thiệp vào hệ tự nhiên để tăng, giảm hoặc bình ổn khả năng
tải, nhưng kết quả của sự can thiệp phải nằm trong ranh giới của khả năng tải
bền vững (Substaining Capacity) của hệ thống tự nhiên hoặc hệ thống được
quản lý.
Khi sử dụng tài nguyên thiên nhiên vào phát triển du lịch bền vững
trước hết phải có các tiêu chí định lượng mức độ bền vững của môi trường tự
nhiên qua đó đánh giá và nêu lên mục tiêu mà du lịch bền vững cần đạt được.
Công thức tính bền vững môi trường quốc tế, quốc gia
1/SD = [∑P] * [HD/P]* [NT/HD] * [EI/NT]
Trong đó:
12
P: Số lượng dân cư
HD: Hàng hoá và dịch vụ
NT: Năng lượng và tài nguyên
EI : Tác động môi trường
SD: Giá trị của tính bền vững của môi trường
Yếu tố [∑P] phản ánh ảnh hưởng của sức ép dân số tới sự phát triển
bền vững.
Yếu tố HD/P phản ánh bức tranh tiêu thụ xã hội phát triển bền vững
tính theo đơn vị hàng hoá và dịch vụ bình quân trên đầu người.
Yếu tố NT/HD: số lượng năng lượng và tài nguyên được sử dụng để
sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
EI/NT: tác động của môi trường lên tài nguyên thiên nhiên và năng
lượng. Yếu tố này phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên, ví dụ: thiên tai, hạn hán, lũ
lụt, động đất… và cũng có thể là hậu quả của việc khai thác.
Yếu tố thứ 3 và thứ 4: NT/HD và EI/NT phản ánh các khía cạnh kĩ
thuật công nghệ.
du khách và giáo dục cộng đồng.
Khả năng tải kinh tế
“Là khả năng chấp nhận các chức năng du lịch mà không gây phương
hại đến các hoạt động mà địa phương mong đợi” (O’Reilly, 1986)[39]. Điều
đó có nghĩa là nếu hoạt động du lịch gây phương hại đến các hoạt động kinh
tế khác của địa phương thì có nghĩa là đã vượt qua khả năng tải.
Định nghĩa về khả năng tải kinh tế chưa thực sự chặt chẽ, vì rất có thể
những thiệt hại của các hoạt động kinh tế khác sẽ được bù đắp bằng nguồn lợi
của hoạt động du lịch, và điều đó được địa phương chấp nhận. Vì thế, khi xét
khả năng tải kinh tế cần đặt trong mối quan hệ với sự tác động trở lại của các
hoạt động kinh tế với tài nguyên và xã hội.
Trừ khả năng tải sinh thái, hiện nay chưa có phương pháp ưu việt nào
có khả năng xác định giá trị chính xác của hai đại lượng khả năng tải xã hội
và kinh tế.
14
1.1.3.2. Hệ thống chỉ thị môi trường dùng để đánh giá nhanh tính bền
vững của điểm du lịch (Đánh giá bằng phương pháp PRA)
Chỉ thị
Cách xác định
1. Bộ chỉ thị
Tỷ lệ % số khách quay trở lại/ tổng số khách
về đáp ứng
Số ngày lưu trú bình quân/ đầu du khách
nhu cầu của
Tỷ lệ % các rủi ro về sức khoẻ (bệnh tật, tai nạn) do du lịch/
du khách
số lượng du khách
4. Bộ chỉ thị
Chỉ số Doxey
đánh giá tác
Sự xuất hiện các bệnh/ dịch liên quan với du lịch
động của du
Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch
lịch lên phân
Hiện trạng các di tích lịch sử - văn hoá của địa phương (so
hệ xã hội - với dạng nguyên thuỷ)
nhân văn
Số người ăn xin/ tổng số dân địa phương
Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch
Độ thương mại hoá của các sinh hoạt văn hoá truyền thống
(lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục, tập quán…) – xác định
thông qua trao đổi với các chuyên gia.
Nguồn: Manning E.W, 1996
15
Tuy có nhiều phương pháp để đánh giá du lịch bền vững, nhưng chung
quy lại cũng nhìn nhận trên ba góc độ:
Góc độ bền vững về tài nguyên môi trường
- Số lượng (tỷ lệ) các khu điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ;
- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch;
- Áp lực lên môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý;
- Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài
nguyên, bảo vệ môi trường.
Góc độ bền vững về kinh tế:
- Chỉ số về mức chi tiêu và số ngày lưu trú bình quân của khách tăng;
nhập hơn 514 tỷ USD; tại 83% nước trên thế giới, du lịch là 1 trong 5 nguồn
thu ngoại tệ lớn nhất, riêng tại các nước vùng Caribe, 50% GDP là từ du lịch.
Đóng góp lớn vào GDP, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong
giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là một trong những nội dung quan trọng, là một vấn đề quan tâm hàng đầu
của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay: Giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Khi thu nhập của người dân tăng lên thì nhu cầu về
nghỉ ngơi, du lịch nhiều hơn. Doanh thu từ du lịch - dịch vụ chiếm một phần
đáng kể trong GDP.
Tạo công ăn việc làm: hiện nay lao động ở khu vực nông thôn đang dư
thừa, thiếu việc làm là tình trạng phổ biến tất cả các địa phương. Đặc biệt là
các địa phương địa hình không phù hợp với sản xuất nông nghiệp và công
nghiệp.
Tổ chức du lịch thế giới khẳng định du lịch là chìa khoá mang lại sự
thịnh vượng cho cả nước giàu và nước nghèo, hiện du lịch chiếm tới hơn 40%
thương mại dịch vụ toàn cầu và 60% tổng số các hoạt động mậu dịch diễn ra
trên thế giới. Du lịch được xem như một chất xúc tác để mở rộng và phát triển
các ngành kinh tế khác, đặc biệt là dịch vụ. Phát triển du lịch sẽ tận dụng
17
được nguồn nhân lực, vật lực, tạo công ăn việc làm cho người lao động, vừa
tránh lãng phí tài nguyên.
Du lịch không chỉ tạo thu nhập cho thế hệ hôm nay mà còn đảm bảo
cho tương lai có một cuộc sống chắc chắn, nếu chúng ta biết phát triển du lịch
theo hướng bền vững.
1.1.4.2. Phát triển du lịch bền vững đối với văn hoá xã hội
Chương trình hành động quốc gia về du lịch 2006 - 2010 đã xác định
tiếp tục duy trì phát triển mạnh mẽ và đảm bảo tính bền vững cho du lịch Việt
cao nhận thức, do đó vấn đề bảo vệ sức khoẻ của mỗi người, mỗi nhà được
chú trọng, môi trường sống cũng được quan tâm hơn. Du lịch góp phần quảng
bá địa phương, là cơ sở thực tiễn để pháp luật hoàn thiện hơn. Vấn đề môi
trường không chỉ giới hạn trong một vài người, một vài địa phương mà trở
thành mối quan tâm của toàn nhân loại. Du lịch có thể cung cấp những sáng
kiến làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước,
đất, ô nhiễm tiếng ồn, rác thải và một số vấn đề khác. Cải thiện tiện nghi môi
trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và
duy trì bảo dưỡng các công trình kiến trúc. Nói tóm lại, du lịch góp phần bảo
tồn thiên nhiên, tăng cường chất lượng môi trường, vai trò của môi trường
được đề cao thông qua du lịch.
1.2. Cơ sở thực tiễn phát triển du lịch bền vững
1.2.1. Quá trình phát triển du lịch ở Việt Nam
Công tác xây dựng chiến lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam
được triển khai khá chậm. Từ lúc ra đời (năm 1960) đến đầu những năm 90
của thế kỷ XX, ngành du lịch Việt Nam đã tồn tại, phát triển mà không có
chiến lược ngành.
Các chính sách của Nhà nước về phát triển du lịch với đường lối hợp
tác đa phương trong kinh tế và đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã tạo động
lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, dẫn đến sự phát triển
bùng nổ của du lịch vào những năm đầu thập niên 90. Hàng loạt các văn bản
pháp quy đã được ban hành, riêng đối với ngành du lịch, từ năm 1992 tới nay
19
đã có hơn 30 văn bản pháp quy của Đảng và Chính phủ, 114 văn bản pháp
quy của các bộ ngành liên quan đến hoạt động du lịch. Đặc biệt trong Nghị
quyết đại hội Đảng lần thứ IX, đã coi “phát triển du lịch thật sự thành một
ngành kinh tế mũi nhọn…” [11, tr.178].
học công nghệ hiện đại trong xử lý môi trường, ngày nay Nhật Bản được biết
đến như là một nước có ngành du lịch hiện đại và thành công nhất ở Châu Á.
Trong đó phải kể đến thành công trong việc bảo vệ môi trường ở các địa điểm
du lịch, một trong những điều kiện quan trọng để thu hút khách du lịch nước
ngoài đến với Nhật Bản. Vấn đề được đề cập đến trước hết là ý thức bảo vệ
môi trường của những người làm du lịch. Khi dẫn đoàn vào tham quan, ngoài
giới thiệu về điểm du lịch, hướng dẫn viên không quên nhắc nhở khách về
những phong tục của người Nhật trong việc bảo vệ môi trường và hướng dẫn
khách cách bố trí thùng rác, nhà vệ sinh, và cách phân loại rác khi cho vào
thùng… Một cách rất tự nhiên các hướng dẫn viên nhặt những thứ rác còn
vương vãi bỏ vào thùng rác cho thấy ý thức bảo vệ môi trường của những
người làm du lịch về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch ở Nhật Bản.
Ý thức giữ gìn môi trường trong sạch tại các điểm du lịch cũng được
thấm sâu vào những người dân địa phương. Khi quan sát những người làm
việc tại những cửa hàng, những nơi công cộng ở các điểm du lịch, ta có thể
thấy họ có những hành động rất tự nhiên chỉ dẫn cho du khách bỏ những hộp,
túi đồ uống… vào những nơi qui định và thậm chí họ cùng du khách phân loại
các đồ kim loại, các đồ nhựa ngay tại thùng rác.
Sự quản lý môi trường tại các địa điểm du lịch là nhân tố quan trọng
trong việc bảo vệ môi trường. Qui hoạch một cách bài bản là điều dễ dàng
nhận thấy ở Nhật Bản. Việc bố trí các cửa hàng lưu nịêm, màu sắc, vật dụng
trang trí, trang phục của người bán… đều phù hợp với từng điểm du lịch.
Những thùng rác nhỏ nhắn được bố trí rất nhiều ở nơi đây và thông thường
hai đến ba thùng rác được bố trí cạnh nhau để có thể phân loại rác ngay tại
21
chỗ. Du lịch Nhật Bản là kết quả của sự ứng dụng công nghệ xử lý và bảo vệ
môi trường được thực hiện một cách triệt để. Tại các điểm du lịch văn hoá, tín