Lời cảm ơn
Để có thể hoàn thành tốt bài khoá luận theo đúng mong muốn của bản
thân và yêu cầu của nhà trờng tôi đã nhận đợc sự quan tâm, động viên rất
nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Văn hoá Du lịch trờng Đại học Dân lập
Đông Đô, của các bạn sinh viên lớp VĐ4, tôi vô cùng biết ơn về điều đó. Tôi
xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị công tác trong chi nhánh Du lịch
Quảng Ninh tại Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
thực tập và thu thập tài liệu. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc của
mình tới thầy Lê Hồng Phấn ngời đã định hớng và tận tình hớng dẫn tôi thực
hiện bài khoá luận này.
Khoá luận tốt nghiệp
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, phát triển bền vững đã trở thành tiêu chí chung của mọi ngành
kinh tế, không loại trừ ngành Du lịch. Phát triển du lịch bền vững là việc giải
quyết tốt mâu thuẫn giữa khai thác và bảo tồn các giá trị tài nguyên tại điểm du
lịch
Vịnh Hạ Long với hai lần vinh dự đợc UNESCO công nhận là di sản
thiên nhiên thế giới về giá trị thẩm mĩ (năm 1994) và giá trị địa mạo địa chất
(năm 2000), đang đợc Đảng và nhà nớc xác định là một trong những trọng điểm
du lịch phía Bắc. Trong những năm qua, với kết quả đạt đợc, du lịch Hạ Long
đang ngày càng thể hiện đợc vị thế của mình trong trờng du lịch trong nớc và
quốc tế.
Tuy nhiên sự tăng trởng nhanh chóng của du lịch Hạ Long là một nguyên
nhân dẫn đến suy thoái môi trờng vùng Vịnh: Ô nhiễm khí và nớc do xả thải
quá khả năng tự làm sạch của môi trờng, thay đổi cảnh quan để xây dựng cơ sở
hạ tầng, ảnh hởng xấu tới đa dạng sinh học, xung đột xã hội vào mùa du lịch, tệ
nạn xã hội bùng phát, phần nào làm xói mòn bản sắc văn hoá của cộng đồng
dân c Chính những yếu tố này sẽ quay lại tác động tiêu cực đến việc phát triển
du lịch bền vững ở Hạ Long. Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị của
- Phơng pháp thu thập và xử lý t liệu.
- Phơng pháp xã hội
5. Bố cục của khoá luận.
Bao gồm các phần: Mở đầu, kết luận và ba chơng.
Chơng I:
Thực trạng và những vấn đề đặt ra để phát triển du lịch bền vững.
Chơng II:
Hiện trạng hoạt động du lịch ở Hạ Long .
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
Chơng III:
Các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở Hạ Long .
Nội dung
CHƯƠNG 1
Thực trạng và những vấn đề đặt ra để phát
triển du lịch bền vững
1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững .
1.1 Khái niệm về phát triển bền vững .
Phát triển là xu thế chung của mọi thời đại. Tuy nhiên, bên cạnh những
lợi ích xã hội, nâng cao điều kiện sống cho con ngời, hoạt động phát triển cũng
đã và đang làm cạn kiệt tài nguyên, gây ra tác động tiêu cực, làm suy thoái môi
trờng trái đất. Trớc thực tế không thể phủ nhận là môi trờng ngày càng bị ô
nhiễm bởi chất thải từ các hoạt động kinh tế, nhiều hệ sinh thái bị suy thoái ở
mức độ báo động, nhiều loại sinh vật đã và đang có nguy cơ bị diệt vong ảnh h-
ởng đến quá trình phát triển của xã hội qua nhiều thế hệ Từ nhận thức này đã
xuất hiện một khái niệm mới của con ngời về hoạt động phát triển phát triển
bền vững.
Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện khoảng giữa những năm 80 và
chính thức đợc đa ra tại hội nghị của Uỷ ban thế giới về phát triển và môi trờng
(WCED) năm 1987, trong đó định nghĩa Phát triển bền vững đợc hiểu là hoạt
nhng hầu hết các ý kiến cho rằng: Phát triển du lịch bền vững là hoạt động
khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu
cầu đa dạng của khách du lịch , có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn
trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên
, duy trì đợc sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tơng
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
lai, cho công tác bảo vệ môi trờng và góp phần nâng cao mức sống của cộng
đồng địa phơng.
1.3. Phát triển du lịch dựa trên nguyên tắc bền vững.
Hoạt động du lịch liên quan chặt chẽ đến môi trờng (bao gồm môi trờng
tự nhiên và môi trờng nhân văn). Môi trờng tơng tác rất đa dạng với du lịch, nó
vừa là đối tợng, là đầu vào của du lịch vừa là những trở ngại của du lịch . Vì
vậy, để phát triển du lịch bền vững cần phải dựa trên nguyên tắc bền vững.
Những nguyên tắc này đợc tổ chức WWFUK soạn thảo nhằm phát triển du lịch
trong mối quan hệ liên quan đến môi trờng và cân bằng lợi ích kinh tế.
Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý.
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu bởi vì việc bảo tồn và sử dụng
bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và xã hội sẽ là sự đảm bảo cho
việc kinh doanh phát triển lâu dài. Nếu các tài nguyên du lịch đợc khai thác một
cách hợp lý, đảm bảo quá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung đợc diễn ra một cách
tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của con ngời thông qua việc đầu
t, tôn tạo thì sự tồn tại của các tài nguyên đó sẽ lâu dài, đáp ứng đợc nhu cầu
phát triển của thế hệ sau. Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cần dựa
trên cơ sở các nghiên cứu kiểm kê, đánh giá và quy hoạch sử dụng cho các mục
tiêu phát triển cụ thể. Nguyên tắc này cũng đợc áp dụng với các tài nguyên
nhân văn. Việc phát triển du lịch cần đợc thực hiện trong sự trân trọng trong nền
văn hoá địa phơng, truyền thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai mà con ngời
dân địa phơng dựa vào đó để sống.
Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải.
ơng này và tránh đợc sự tổn thất về môi trờng.
Thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi
ích của mình mà không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ
quyền lợi với cộng đồng địa phơng thì sẽ làm cho nền kinh tế và cuộc sống của
ngời dân địa phơng gặp nhiều khó khăn, kém phát triển. Điều này buộc cộng
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
đồng địa phơng phải khai thác tối đa tiềm năng tài nguyên của mình, gây tổn
hại đến môi trờng sinh thái. Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động
tiêu cực đến sự phát triển bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế xã hội
nói chung. Chính vì vậy, việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phơng là một
nguyên tắc quan trọng trong phát triển du lịch bền vững.
Khuyến khích tham gia của cộng đồng địa phơng.
Du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang khách hàng đến sản phẩm chứ
không phải mang sản phẩm đến khách hàng. Sản phẩm ở đây là bao gồm không
chỉ không gian môi trờng nơi cộng đồng địa phơng sử dụng hoặc sở hữu mà còn
là chính cộng đồng địa phơng với bản sắc văn hoá của họ, hoạt động du lịch bền
vững chỉ thực sự đợc thực thi nếu cộng đồng địa phơng từ vai trò là sản phẩm
du lịch hoặc đứng ngoài du lịch tham gia vào lĩnh vực du lịch.
Việc tham gia của cộng đồng địa phơng vào hoạt động du lịch không chỉ
giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, mà sẽ làm tăng ý thức trách
nhiệm của cộng đồng đôi với sự phát triển của du lịch, bởi các lúc này quyền lợi
của họ đã gắn liền với quá trình phát triển du lịch, chăm lo đến việc nâng cao
chất lợng sản phẩm du lịch. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
bền vững của du lịch.
Thờng xuyên trao đổi với cộng đồng địa phơng.
Thực tế cho thấy ở những mức độ khác nhau luôn luôn tồn tại mâu thuẫn
xung đột về quyền lợi cho khai thác tài nguyên phục vụ sự phát triển giữa du
lịch và cộng đồng địa phơng, giữa du lịch với các ngành kinh tế khác. Vì vậy,
việc thờng xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phơng và với các đối tợng
chính sách mở cửa hội nhập của Đảng và Nhà nớc.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng nh quyết định mức độ khai
thác các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch.
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
Chính vì có vai trò quan trọng nh vậy nên sự phát triển ngành Du lịch bao giờ
cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật. Để đáp
ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là
cơ sở lu trú cũng phát triển nhanh. Năm 1991, cả nớc mới có trên 11.400 phòng
khách sạn thì đến năm 2001 đã có trên 66.000 phòng và năm 2002 là 72.000
phòng. Nhiều khách sạn cao cấp đợc xây dựng làm thay đổi diện mạo của hệ
thống khách sạn Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lu trú và tổ chức các hội nghị, hội
thảo quốc tế lớn. Một số khu du lịch, cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, sân gôn đã
đa vào hoạt động, đáp ứng một phần nhu cầu của khách du lịch và nhân dân địa
phơng. Song song với việc nâng cấp, phát triển hệ thống giao thông đờng bộ, đ-
ờng không, đờng sắt và đờng biển trên phạm vi cả nớc, phơng tiện vận chuyển
khách chuyên ngành gồm 7000 xe, tầu thuyền các loại đã góp phần nâng cao
năng lực vận chuyển khách.
Cuối năm 1999, Bộ Chính trị ra chỉ thị về phát triển du lịch trong tình
hình mới và một hành lang pháp lý vững chắc hơn đợc thiết lập khi pháp lệnh
du lịch ra đời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham
gia hoạt động du lịch, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nớc về du lịch, đảm bảo
quyền lợi của khách du lịch, ngời kinh doanh du lịch, giúp các đối tác nớc
ngoài, khách du lịch nớc ngoài yên tâm khi đầu t, hợp tác, đến du lịch tại Việt
Nam. Đến năm 2001, đã có 194 dự án đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào ngành
Du lịch đợc cấp phép với tổng số vốn đăng kí là 5,78 tỷ USD. Năm 2004, đã có
15 dự án FDI đầu t vào du lịch đã đợc cấp phép với tổng sỗ vốn trên 110 triệu
USD.
Năm 2000, chơng trình hành động quốc gia về du lịch đợc Thủ tớng
nghề, lễ hội truyền thống ở một số nơi du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện
mạo đô thị, nông thôn và đời sống cộng đồng dân c. Những hiệu quả trên lại tác
động tích cực thúc đẩy toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển du lịch, tạo
nhiều việc làm mới, đóng góp toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển du
lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp phần tăng trởng kinh tế , hạn chế tác động của
xã hội đến môi trờng tự nhiên.
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Những vấn đề cơ bản đặt ra
Trong bức tranh chung rất đáng khích lệ về sự phát triển hoạt động du lịch
cũng đã và đang nảy sinh các vấn đề bất cập ảnh hởng đến phát triển du lịch bền
vững ở Việt Nam. Qua phân tích thực trạng phát triển du lịch, đối chiếu với
những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững, có thể thấy một số
vấn đề cơ bản đặt ra cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam nhìn từ nhiều
góc độ khác nhau.
2.2.1. Nhìn từ góc độ kinh tế
Chất lợng nguồn khách du lịch đang là vấn đề rất quan trọng đặt ra đối với
sự phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đứng từ góc độ kinh tế. Mặc dù trong
những năm qua về số lợng khách du lịch và thu nhập từ du lịch, ta đều ghi nhận
sự tăng trởng, nhng trong sự tăng trởng ấy lại bộc lộ những suy yếu mà nếu cứ
duy trì nó sẽ ảnh hởng đến sự phát triển sau này. Điều đó đợc chứng minh qua:
số lợng khách quốc tế tăng song chất lợng (mức chi trả) còn hạn chế. Từ năm
1994 trở lại đây, tỷ lệ tăng trởng khách từ thị trờng trọng điểm nh Mỹ, Nhật
Bản, Hàn Quốc có xu thế chững lại và giảm xuống, trong khi đó khách từ thị
trờng có mức chi trả thấp, thời gian lu trú ngắn nh khách Trung Quốc lại tăng
cao (năm 1992 chỉ chiếm 0,62% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam, thì đến
năm 2002 đã chiếm tới trên 30%, trong khi chỉ đạt 3,6% doanh thu từ khách du
lịch quốc tế ). Thị trờng khách nội địa cũng có chung một tình trạng trên, mặc
dù có tốc độ tăng nhanh nhng tỷ kệ khách hành hơng, lễ hội với mức độ sử dụng
dịch vụ du lịch thấp lại có xu thế tăng. Điều đó lý giải vì sao năm 1999 với số l-
đợc đầu t tơng xứng để phát triển. Đây đợc xem là một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất hạn chế hiệu quả kinh doanh của du lịch Việt Nam, ảnh h-
ởng lớn đến phát triển du lịch bền vững. Điều này càng có ý nghĩa trong bối
cảnh du lịch Việt Nam phải đứng trớc thách thức lớn về cạnh tranh trong xu thế
hội nhập khu vực và quốc tế.
- Công tác tuyên truyền quảng bá cho du lịch Việt Nam trong những năm
qua đã đạt đợc những kết quả thật đáng khích lệ. Điều đó đợc chứng minh qua
số việc số lợng khách du lịch bao gồm cả khách nội địa và quốc tế tăng dần
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
theo hàng năm. Song hiệu quả của công tác tuyên truyền quảng bá lớn bao
nhiêu thì hậu quả của nó cũng lớn bấy nhiêu. Đó là vì việc tuyên truyền quảng
bá đợc thực hiện thiếu định hớng cả về thị trờng lẫn thời điểm tiến hành, việc
quảng cáo mới chỉ dựa trên những gì Việt Nam có mà cha quan tâm đến quảng
cáo sản phẩm mà thị trờng cần. Nói một cách khác, hoạt động tuyên truyền
quảng cáo hiện ít phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, về lâu dài sẽ
ảnh hởng đến khả năng thu hút khách du lịch , dẫn đến sự giảm sút hiệu quả
kinh doanh của hoạt động du lịch tơng lai.
Một vấn đề nữa cũng đặt ra là tính trách nhiệm trong hoạt động tuyên
truyền quảng bá hiện còn rất thấp. Phần lớn các sản phẩm quảng cáo thờng
không đúng với bản chất về nội dung và chất lợng. Điều này sẽ gây thất vọng
đối với khách sau mỗi chuyến đi với cảm giác nh bị lừa và sẽ tạo ra ảnh hởng
ngợc đối với những gì mà công tác tuyên truyền quảng bá hớng tới. Hậu quả
của kiểu tuyên truyền quảng cáo thiếu trách nhiệm này sẽ rất lớn và kéo dài,
ảnh hởng đến du lịch Việt Nam và sự phát triển du lịch bền vững đứng từ góc
độ kinh tế.
Đây là một hiện tợng cần phải loại bỏ ngay trong sự phát triển của các
ngành kinh tế xã hội nói chung và ngành Du lịch nói riêng, vì nó đã vi phạm
vào một trong những nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, nguyên tắc: tiếp
thị du lịch một cách có trách nhiệm. Để có thể làm đợc điều này đòi hỏi phải có
cơ chế chính sách. Phải có những quy định về trách nhiệm bảo vệ, tôn tạo và phát
triển nguồn tài nguyên du lịch tại nơi mà các doanh nghiệp đó đợc phép khai thác.
Với các quy định nh vậy thì các doanh nghiệp du lịch sẽ phải có những dự án khai
thác nguồn tài nguyên du lịch trong khu vực mình quản lý.
Một vấn đề nữa đợc đặt ra là năng lực quản lý nói chung và quản lý tài
nguyên du lịch nói riêng của các cấp còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, cuộc sống
của cộng đồng ở những nơi có tài nguyên du lịch nhìn chung còn rất lớn, nhiều
nơi rất nghiêm trọng. Để xẩy ra tình trạng trên một phần do các ngành kinh tế
trong quá trình sản xuất kinh doanh đã chỉ biết đến lợi ích của mình mà không
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
có sự hỗ trợ đối với sự phát triển và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phơng,
đã vi phạm vào một trong những nguyên tắc của phát triển bền vững. Kết quả sẽ
gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của du lịch nói riêng và
kinh tế xã hội nói chung.
Sự phối hợp liên ngành, giữa ngành Du lịch và chính quyền các địa ph-
ơng, đặc biệt các địa phơng trọng điểm phát triển du lịch còn nhiều bất cập. Đây
là nguyên nhân cơ bản của tình trạng thiếu nhất quán trong sử dụng tài nguyên
du lịch giữa các ngành trên một lãnh thổ đang còn phổ biến hiện nay ở Việt
Nam.
Môi trờng biển, đặc biệt ở một số khu vực trọng điểm phát triển du lịch
biển nh Hạ Long, Cát Bà, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tầu đã có sự suy
thoái do hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Nguy cơ ô nhiễm dầu do sự cố có
chiều hớng gia tăng. Để có thể khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trờng biển thì
cần phải bổ sung thêm những chính sách mới nh: Chính sách u tiên miễn giảm
hoặc không thu thuế trong một thời gian nhất định với các hình thức đầu t thuần
tuý cho hoạt động bảo vệ môi trờng du lịch biển hoặc đầu t trong các lĩnh vực
khác với công nghệ đồng bộ về bảo vệ môi trờng biển; chính sách khuyến khích
phát triển nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ du lịch trong lĩnh vực
bảo vệ môi trờng biển.
Sẽ tồn tại một ranh giới rất mong manh giữa phát huy và biến đổi các
giá trị truyền thống sinh hoạt của cộng đồng do tác động của hoạt động du lịch.
Nếu du lịch phát triển song hành với việc phát huy truyền thống sinh hoạt
cộng đồng thì đó sẽ là sự phát triển bền vững, trong trờng hợp có sự biến đổi
thì sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững bởi bản thân hoạt động du lịch phát
triển đợc nhờ việc khai thác các giá trị nguyên bản đặc sắc của sinh hoạt truyền
thống.
Kết quả điều tra xã hội về mức độ hài lòng của ngời dân đối với việc phát
triển hoạt động du lịch ở một số điểm du lịch điển hình nh Hạ Long, Hơng Sơn
(Hà Tây) Tam Cốc Bích Động (Ninh Bình) cho thấy cộng đồng ch a hài
lòng ( ở những mức độ khác nhau) về sự tồn tại và phát triển du lịch ở địa phơng
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
mình. Nguyên nhân cơ bản là do sự đóng góp cha thoả đáng từ du lịch cho việc
bảo tồn các giá trị văn hoá địa phơng; cha có những biện pháp có hiệu quả để
hạn chế những tệ nạn xã hội nảy sinh do hoạt động du lịch, tình trạng vệ sinh
môi trờng bị xuống cấp; cha chú ý đến đời sống của ngời dân nơi có hoạt động
du lịch; không có hớng dẫn kỹ năng du lịch khi họ có cơ hội đợc tham gia vào
hoạt động du lịch đây thực sự là vấn đề quan trọng ảnh h ởng đến phát triển
Du lịch Việt Nam từ góc độ xã hội.
Năm 2004 đã qua đi, đánh dấu một năm nhiều khó khăn thách thức đối với
ngành Du lịch Việt Nam. Nhng bằng nhiều biện pháp đồng bộ, kịp thời, phát huy
tính sáng tạo chủ động của toàn ngành, Du lịch nớc ta đã một lần nữa lại vợt qua
khó khăn, hoàn thành vợt mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, tiếp tục duy trì đợc nhịp
độ tăng trởng khá. Cả nớc đã đón đợc khoảng 2,9 triệu lợt khách quốc tế, vợt chỉ
tiêu kế hoạch đặt ra (2,8 triệu) và tăng trởng gần 20% so với năm 2003; khách du
lịch nội địa đạt khoảng 14 triệu lợt, thu nhập du lịch đạt khoảng 26 ngàn tỷ đồng
(kế hoạch đặt ra là 25 ngàn tỷ).
Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm 2001-2005, cũng là
năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nớc và của Ngành Du lịch: 60 năm Cách
Tổng diện tích 1553 km
2
với 1969 hòn đảo chiếm 2/3 tổng số đảo của
Việt Nam, trong đó 980 đảo có tên, 989 đảo cha có tên. Vị trí Hạ Long đợc xác
định trong toạ độ từ 20
0
45 đến 20
0
50 vĩ độ Bắc và từ 106
0
58 đến 107
0
22 kinh
độ Đông. Khu vực vịnh Hạ Long đợc UNESCO công nhận là di sản thế giới giới
hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ ( phía Tây), Hồ Ba Hầm ( phía Nam) và Đảo Cống
Tây (phía Đông) Với diện tích 434 km
2
, gần 775 hòn đảo trong đó có 411 hòn
đảo đã đợc đặt tên.
1.1.2. Địa hình
Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng, gồm đảo núi xen kẽ giữa các
trũng biển, là vùng bằng cát mặn có sú vẹt mọc và những đảo đã vôi vách đứng,
rất tơng phản nhau.
Có thể tìm thấy ở Hạ Long những dạng địa hình có ý nghĩa du lịch :
- Dạng địa hình đá vôi: đợc hình thành cách đây khoảng 250 đến 280
triệu năm, qua quá trình vận động tạo sơn vỏ của trái đất. Đây là một phần rìa
của đại lục Châu á bị chìm xuống, nơi sâu nhất không quá 200m. Mặt Vịnh
rộng khoảng1500 km
2
, có hàng ngàn đảo đá và hang động đợc bàn tay kỳ diệu
o
C)
Độ ẩm (%) Ma (năm)
Nắng
Năm
Tháng
1
Tháng
7
Năm
Tháng
1
Tháng
7
Lợng
ma
Số
ngày
ma
Số giờ
23 16 28.5 82 79 83 1997.3 126.6 1710.8
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
Hạ Long còn chịu ảnh hởng của luồng gió Đất-Biển là đặc trng ở đây,
đã góp phần điều hoà khí hậu trong ngày làm cho mùa hạ ở đây mát hơn, mùa
đông ấm hơn.
Chế độ nhật chiều ở Hạ Long khá thuần nhất, trong một ngày có một lần
nớc lên và một lần nớc xuống. Thời gian giữa hai lần cách đều nhau. Biên độ
thuỷ triều khá lớn 70-90 cm. Vịnh Hạ Long đợc che chắn ở ba phía cùng với địa
hình đáy biển tơng đối bằng phẳng nên đây là vùng vịnh khá tĩnh. Tần suất lặng
Hạ Long chịu ảnh hởng của chế độ nhật triều, lớn nhất là 4,5m, nhỏ nhất
là 0,2m. Riêng ở vùng Vịnh Cửa Lục sâu 20m rất thuận lợi cho các tầu trọng tải
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
lớn qua lại. Dao động thuỷ triều làm cho khả năng trao đổi nớc biển rất tốt, nớc
ngầm đáp ứng một phần cho nhu cầu khai thác du lịch và sinh hoạt của nhân
dân trong vùng, thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch nh: du thuyền, lớt
ván, lặn biển, tham quan vãn cảnh biển.
1.1.5. Tài nguyên động thực vật
Do khu vực Vịnh Hạ Long chịu ảnh hởng chung của cả chế độ khí hậu
lục địa Đông Bắc Việt Nam và chế độ khí hậu biển Bắc Bộ, có sự phân di mạnh
cả các yếu tố địa chất, địa hình, thuỷ văn nên hình thành nhiều kiểu cảnh quan
đẹp, hấp dẫn, nhiều hệ sinh thái nhiệt đới nh hệ sinh thái rừng kín thờng xanh
ma nhiệt đới ẩm, hệ sinh thái biển và ven bờ.
- Hệ sinh thái rừng kín thờng xanh ma ẩm nhiệt đới.
Phát triển chủ yếu ở không gian lục địa ven biển và các đảo ven bờ gồm cả
đảo đồi núi đá lục nguyên (Đảo Tuần Châu, Hòn Kều, Hòn Gạc ) và các đảo
đá với tính đa dạng sinh học cao. Tổng số 1224 loài thực vật, trong đó có 27
loài quý hiếm: Chò đãi, Kim giao, Lát khói, Lát hoa, Dẻ hơng đ ợc ghi nhận
vào sách đỏ Việt Nam. Đặc biệt các nhà nghiên cứu của văn phòng Tổ chức Bảo
tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) tại Hà Nội đã phát hiện 7 loài đặc hữu chỉ có ở
vịnh Hạ Long: Thiên tuế Hạ Long, Khổ cử đại tím, Cọ Hạ Long, Khổ cử đại
nhung, Móng tai Hạ Long, Ngũ gia bì Hạ Long, Hài vệ nữ hoa vàng. Theo
thống kê, hệ sinh thái rừng thờng kín thờng xanh ma ẩm nhiệt đới ở Hạ Long ,
Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dơng xỉ, 20 loài thực vật ngập mặn;
đối với động vật ngời ta cũng thống kê đợc 4 loài lỡng c, 10 loài bò sát, 40 loài
chim và 14 loài thú.
- Hệ sinh thái biển và ven bờ: bao gồm hệ sinh thái đất ớt và hệ sinh thái
biển khu vực Hạ Long và vùng phụ cận, có khoảng 20 loài thực vật ngập mặn.
Theo kết quả nghiên cứu của Phân viện Hải dơng học Hải Phòng, đây là môi tr-
địa phơng.
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4
Khoá luận tốt nghiệp
1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn.
1.2.1. Dân c và các giá trị văn hoá truyền thống
Theo thống kê 01-04-1999 tỉnh Quảng Ninh có 1.004.461 ngời, với nhiều
dân tộc cùng chung sống nh: Việt, Tày, Dao, Sán chỉ, Sán Dìu, CaoLan, Hoa
mỗi dân tộc cùng có phong tục, tập quán riêng nhng tất cả đều đoàn kết để xây
dựng và bảo vệ quê hơng.
Thành phố Hạ Long với dân số trên 200.000 ngời chủ yêú là ngời Kinh
sinh sống, theo đà tăng trởng của kinh tế, văn hoá nơi đây tập trung dân c ngày
càng đông đúc hơn, là nguồn cung cấp lực lợng lao động ổn định cho các ngành
kinh tế ở Hạ Long nói chung và ngành Du lịch nói riêng. Với việc đầu t mở các
trờng chuyên, trờng đào tạo dạy nghề đã nâng cao đợc trình độ và tay nghề cho
ngời lao động là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
các ngành nghề trong đó có ngành Du lịch.
ẩn chứa bên trong cái vẻ náo nhiệt của một thành phố công nghiệp trẻ là
cả một kho tàng các giá trị văn hoá quý giá, đặc sắc, phong phú phản ánh đậm
nét sự tồn tại và phát triển liên tục của vùng đất Hạ Long và của dân tộc ta từ
thời tiền sử đến nay.
Một trong sỗ những loại hình văn hoá phi vật thể đặc trng của vùng biển
Hạ Long là hát giao duyên của những ngời làm nghề chài lới. Ngòi dân chài Hạ
Long không chỉ hát trên bờ lúc hội hè, lễ tết, khi thuyền đã về đỗ bến, mà cả hát
khi đang chèo thuyền trên Vịnh, hoặc lúc neo thuyền đợi quăng lới, thả câu, hát
cả vào tuần trăng mỗi khi cá ăn tản, thuyền không đánh cá, neo đậu lại trên
trũng biển.
Lối hát giao duyên của dân chài Hạ Long về cơ bản là hát đúm, nhng căn
cứ vào hình thức và mục đích trình diễn, có thể chia làm ba loại hình: hát hội,
hát chèo thuyền, hát đám cới.
SVTH: Trần Phợng Loan Lớp: VD4