Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

Nguyễn Xuân Long

Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành
nghề May công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam
Định

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

Nguyễn Xuân Long

Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành
nghề May công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam
Định

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Mã Số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Trí

HÀ NỘI - 2007




hiện nhiệm vụ của mình, giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà
giáo tôn vinh nghề nghiệp dạy học”. Chính vì lẽ đó, việc nâng cao trình độ
đội ngũ giáo viên phù hợp với xã hội, đảm bảo về chất lượng là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của nền Giáo dục - Đào tạo Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Mục tiêu và các giải pháp chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong
thời kỳ tới, phả đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật có tay
nghề cao, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng và có thể chất tốt.
Để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này, trước mắt chúng ta
phải chăm lo xây dựng và phát triển “Đội ngũ giáo viên dạy nghề” nói
chung, và đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy nghề Trường CĐCN - Nam
Định nói riêng, mà vấn đề tác giả đề cập tới.
Thời gian qua đội ngũ giáo viên này có ưu điểm là: phần đông họ có tâm
huyết với nghề nghiệp, năng lực đáp ứng nhu cầu đào tạo. Tuy nhiên đứng
trước yêu cầu cao của sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa, họ bộc lộ
những yếu điểm như: Trình độ chuyên môn không đồng đều, nghiệp vụ sư
phạm, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế.
Đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục về các giải pháp quản
lý, phát triển đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng dạy nghề nói chung.
Song đây là vấn đề mới, với một trường đang có xu hướng phát triển
mạnh như Trường CĐCN - Nam Định, và mục tiêu chung là phát triển
nhà trường xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, trình
độ tay nghề vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, năng
động sáng tạo và làm chủ trong mọi lĩnh vực.
Vì vậy việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên dạy thực
hành là nhu cầu tất yếu, khách quan và cấp thiết, do đó học viên mạnh dạn
xin chọn đề tài:

2

trường lao động, các đề tài nghiên cứu đã tập chung nghiên cứu về ĐNGV

3


nói chung, song với mong muốn sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển
nhà trường, phát triển ĐNGV dạy nghề của trường CĐCN - Nam Định
trong đó sự phát triển về trình độ và số lượng đội ngũ giáo viên nghề May
công nghiệp là nội dung nghiên cứu chủ yếu của tác giả.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp quản lý thực hiện việc nâng cao trình độ giáo viên
dạy thực hành nghề May công nghiệp tại Trường CĐCN - Nam Định
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định một số vấn đề lý luận của việc nâng cao trình độ giáo viên
dạy nghề.
- Đánh giá thực trạng của ĐNGV dạy thực hành tại trường CĐCN - Nam
Định trong những đã năm qua.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực
hành nghề qua khảo sát.
4. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng ĐNGV dạy thực hành nghề và giải pháp quản lí nâng cao
trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường
CĐCN - Nam Định.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, khái quát hoá, hồi
cứu các tài liệu lý luận khoa học, tạp chí, sách báo kỉ yếu hội thảo vv...
- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng các phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của các nhà quản lý,
các chuyên gia về giáo dục đào tạo.
- Phương pháp thống kê và sử lý các số liệu.


5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo viên và giáo viên dạy nghề
+ Giáo viên: Theo cách hiểu thông thường, giáo viên là những người làm
nghề dạy học, khái niệm này được dùng rất phổ biển không chỉ trong cuộc
sống mà còn thể hiện trong các văn bản pháp quy. Các khái niệm liên quan
đến giáo viên được định nghĩa như sau :
- Giáo viên : Là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương.
- Giảng viên : Là tên gọi chung cho người làm công tác giảng dạy ở bậc
Đại học và Cao đẳng.
Như vậy có thể hiểu “Giáo viên” là tên gọi chung đối với tất cả những
người làm công tác giảng dạy ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
+ Giáo viên dạy nghề: Giáo viên dạy nghề là những người giảng dạy các
môn kỹ thuật cơ sở, lý thuyết nghề và thực hành nghề. Giáo viên dạy nghề
có chức năng đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, trực tiếp sản xuất ra của
cải vật chất cho xã hội .
Trong các trường dạy nghề có nhiều loại giáo viên :
- Giáo viên dạy các môn cơ bản: Toán, Lý, Hoá.......
- Giáo viên dạy các môn chung: Ngoại ngữ, Thể dục, Quân sự, Chính trị......
- Giáo viên dạy các môn kỹ thuật cơ sở, lý thuyết chuyên môn và hướng
dẫn thực hành nghề.
Chúng ta cần phân biệt rõ giữa giáo viên dạy nghề và giáo viên trong các
trường dạy nghề .
Giáo viên dạy nghề trong thực tế có 3 loại:

vực cụ thể như giáo dục cũng có sự phức tạp riêng của nó. Có nhiều lý do
để dẫn đến sự phức tạp này, đó là do sự không ngừng tănng quy mô phát
triển giáo dục, do sự đa dạng về phương thức giáo dục (GD chính quy, GD
không chính quy, GD phi chính quy), do sự khác biệt vùng miền. Nhưng dù
sao cũng phải khẳng định rằng đối tượng hoạt động càng phức tạp bao
nhiêu thì lại càng đòi hỏi phải có quản lý bấy nhiêu.

7


Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý.
Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả
quá trình quản lý xã hội.
Riêng về quản lý xã hội lại được chia thành 3 lĩnh vực quản lý cơ bản
tương ứng với 3 loại hình hoạt động chủ yếu của con người: Quản lý sản xuất,
quản lý kinh tế, quản lý xã hội - chính trị và quản lý đời sống tinh thần.
Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác
nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng,
duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt
động. (Đại học bách khoa toàn thư – Liên Xô)
Một số định nghĩa khác:
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản
lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định..
- Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó :
Quản lý được hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống có điều kiện có
sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ
thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho nỗ lực của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,

nghĩa xã hội của việc quản lý các quá trình xã hội.
Tính mục đích cũng là đặc trưng trong mọi hoạt động của con người. Có
thể nói, tính mục đích là thuộc tính vốn có trong hoạt động xã hội, đặc biệt
trong hoạt động quản lý. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý
luôn hướng theo mục đích xác định và lôi cuốn đối tượng bị quản lý thực
hiện mục tiêu của tổ chức.
Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là quản lý trong lĩnh vực xã hội không khi
nào là hoạt động có tính chất một chiều, tức là : Đối tượng bị quản lý thụ
động chịu tác động của chủ thể quản lý. Với tư cách là người lao động, đối
tượng bị quản lý được coi là những chủ thể tự giác, tích cực tham gia vào
việc quản lý xã hội. Điều này được V.I.Lênin chỉ ra:“ Trí tuệ của hàng

9


chục triệu con người sáng tạo sẽ tạo ra cái cao hơn rất nhiều so với sự tiên
đoán vĩ đại và thiên tài cá nhân”.
Tóm lại, những khái niệm về quản lý (Thuộc lĩnh vực XH) nêu trên đều có những
đặc trưng chủ yếu là: Tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý.
Đây cũng được coi là cơ sở phương pháp luận Mác xít của hoạt động quản lý.
Thuật ngữ “ Lãnh đạo” (Leadership) cũng là khái niệm liên quan đến
quản lý (Management). Đây là hai khái niệm gần nhau nhất. Thậm chí đôi
khi còn đồng nhất với nhau. Lãnh đạo được hiểu là hình thức quản lý cao
nhất, chung nhất, là hạt nhân của quản lý. Lãnh đạo được xem như bộ não
của quản lý, đó là hệ thần kinh trung ương của quản lý. Đặc điểm chủ yếu
của lãnh đạo là xác định đường lối cơ bản, là định hướng mang tính chiến
lược, là gây ảnh hưởng, lôi cuốn quần chúng hăng hái, tự giác thực hiện có
kết quả đường lối, mục tiêu đã vạch ra. Đặc điểm chủ yếu của quản lý thể
hiện ở vai trò ưu tiên của các chức năng chấp hành, được coi là một loại
lãnh đạo đặc biệt, trong đó việc đạt được mục đích của tổ chức là tối quan

động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình.
Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mụch đích, nghĩa là thể
hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của tương lai được biểu hiện trong mục đích
đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái thực hiện. Mục đích giáo dục
cũng chính là mục đích của quản lý (tuy không phải là mục đích duy nhất
của quản lý giáo dục). Đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý
cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội....bằng
hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó trong thực tế.
Cũng như khái niệm “quản lý”, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có
nhiều quan niệm khác nhau.
Khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ, đó là cấp độ vĩ mô và cấp
độ vi mô.
Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô,
bao quát toàn bộ hệ thống, nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống
con, tương ứng với hệ thống con có hoạt động quản lý vi mô. Sự thực, việc
phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối. Ví dụ như:

11


Quản lý ở cấp Sở giáo dục và đào tạo, nếu đặt trong phạm vi toàn quốc thì
chỉ là cấp vi mô so với Bộ giáo dục và đào tạo (cấp vĩ mô). Nhưng nếu đặt
nó trong phạm vi một tỉnh (thành phố) thì nó lại là cấp vĩ mô so với cấp
quản lý là Phòng giáo dục và đào tạo (cấp vi mô).
Nếu xét theo khía cạnh đối tượng của quản lý sẽ có các cấp quản lý như :
Quản lý một ngành học, một bậc học, một cấp học và quản lý một trường
học. Việc phân chia các cấp quản lý này cũng mang tính chất tương đối.
Điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải xác định chủ thể quản
lý đang ở cấp độ nào. Từ đó mới thấy được mối tương quan trên – dưới, vĩ
mô và vi mô.

trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục
tiêu giáo dục của nhà trường.
- Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động
của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành tới tập thể giáo
viên và học sinh với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của
nhà trường.
Thuật ngữ “Quản lý trường học – Quản lý nhà trường” có thể xem là
đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô. Đây là những tác động
quản lý diễn ra trong phạm vi nhà trường.
Từ những khái niện trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn
yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu quản lý đó là: Chủ thể quản lý, đối tượng
quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý. Và được sơ đồ hoá như
sau:

Chủ thể QL

Đối tượng QL

Mục tiêu QL

Phương pháp
QL

Công cụ QL
13


Sơ đồ1: Sơ đồ hoá về quản lý.
1.1.4. Quản lý nhà trường

cách mạng Việt Nam, nhà trường Việt Nam.
Ngay khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dù còn biết
bao công việc hệ trọng phải chỉ đạo. Bác vẫn quan tâm đến việc phải tạo
lập được kiểu nhà trường lao động.
Năm 1947 Bác đã có chỉ thị: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh
hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là
tương lai của đất nước mình. Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết
yêu nước thương nòi.... phải dạy cho họ có ý chí tự lực tự cường, quyết
không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”
Bác nêu ra bốn việc quan trong của trường học:
“ Một là làm cho học sinh quý trọng sự cần lao.
Hai là tập cho họ quen lao khổ.
Ba là cho họ cái chí khí tự lực kỳ lực.
Bốn là có ích cho sức khoẻ của họ”.
(Hồ Chí Minh – toàn tập – NXB Chính trị quốc gia)
Tư tưởng và sự chỉ đạo thực tiễn của Bác Hồ về phát triển nhà trường Việt
Nam rất tinh tế và độc đáo, luôn phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục hiện
đại. Tư tưởng này đã trở thành hiện thực trong nhà trường Việt Nam những
năm 1960, 1970 của thế kỷ 20 thông qua các trường điển hình lúc bấy giờ như
trường Bắc Lý, trường Thanh niên lao động XHCN Hoà Bình.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mô hình này đã không được duy
trì, cải tiến để phù hợp với hoàn cảnh mới của nhà trường phổ thông ở Việt
Nam, dù trên lý thuyết không có sự tuyên bố nào đi ra ngoài nguyên lý giáo
dục XHCN. Song sự tổ chức thực tế ở một bộ phận dường như trở lại quỹ

15


đạo của nhà trường quyền uy và ăn bám.... bệnh thành tích, hình thức đã
làm cho một số nhà trường vơi đi sự tín nhiệm của xã hội, của cộng đồng.


- Đối tượng đào tạo ( Trò - Tr )

- Qui chế đào tạo ( Qi )

M

H
Th

§
Tr

Qu¶n


Qi


N

16


P


Sơ đồ 2: Sơ đồ hoá mối liên hệ các yếu tố cấu thành nhà trường.
1.2. Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề
1.2.1. Vai trò của giáo viên dạy nghề

quản lí giáo dục. Từ Chỉ thị này ngày 11/1/2005 Thủ tướng chính phủ ra
quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”.
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục theo hướng
chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặ biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối
sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp
ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Trong các nhiệm vụ nêu ra đã lưu ý việc:
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục. Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của
nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục
có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức,
tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
1.2.2. Những yêu cầu chung đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên
- Yêu cầu đối với giáo viên dạy nghề

18


Xã hội và người học đòi hỏi người giáo viên nói chung và người giáo
viên dạy nghề nói riêng những yêu cầu rất cao, bởi vì quan niệm của người
Việt Nam thì giáo viên là người hiểu biết toàn diện.
* Những yêu cầu về phẩm chất:
- Lòng yêu nghề
Người giáo viên trước hết phải có lòng yêu nghề, đó là tiêu chuẩn quan trọng
nhất đối với người thầy. Thực tế đã chứng minh: Bất luận làm nghề gì muốn có

Năng lực là yếu tố quyết định tạo lên nhân cách con người dạy nghề vừa
mang những tính chất chung của nghề dạy học, vừa có những nét đặc thù
của chuyên môn kĩ thuật, vì vậy người giáo viên dạy nghề phải có cả năng
lực sư phạm và năng lực chuyên môn mới hoàn thành được nhiệm vụ của
mình, trong đó có năng lực quản lý, năng lực tổ chức ....
Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ta trong hoàn cảnh hiện
nay phải quán triệt các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực.
Có 3 yêu cầu sau cần chú ý:
- Đủ về số lượng.
Số lượng của giáo viên nhìn trên sự điều hành vĩ mô phải cân đối với lao
động xã hội trong nền kinh tế. Ở nước ta hiện có khoảng 50 triệu lao động
trong độ tuổi lao động và có khoảng gần 1 triệu là giáo viên. Như vậy
chiếm 2% trong tổng lao động. Tỉ lệ này là vừa phải trong điều kiện của
một nền kinh tế mà mặt bằng GDP còn thấp.
- Đạt chuẩn về chất lượng.
Chuẩn về chất lượng giáo viên hiện nay tạm quy định về ba khía cạnh.
+ Chuẩn về trình độ chuyên môn
+ Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm.
+ Chuẩn về đạo đức tư cách người thầy.
Ở nước ta trong quá trình đổi mới giáo dục, do phát triển mạnh các
trường sư phạm nên đã từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên về mặt bằng
cấp sư phạm.

20


Về đạo đức tư cách người thầy, nhìn tổng thể trên toàn bộ đội ngũ giáo
viên nước ta là đạt yêu cầu. Họ là những người lính xung kích đáng tin cậy
của Đảng trên mặt trận văn hoá giáo dục. Chỉ có một số rất nhỏ có những
biểu hiện yếu kém về lối sống, đạo đức, tư cách và số này đã kịp thời được

nước, có như thế nước ta mới phát triển sánh vai với các nước trên thế giới.
Thời cơ và vận hội đã đến, ngành giáo dục phải chuẩn bị hành trang cho thế
hệ trẻ ngay từ những năm đầu của thiên niên kỉ mới. Thầy giáo phải là
chiến sĩ tiên phong trên mặt trận ấy.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, muốn đánh giá chất lượng đào tạo nghề
của một trường, trước hết phải nhìn vào năng lực đội ngũ giáo viên dạy
nghề. Như Luật Giáo dục đã khẳng định ”người thầy là nhân tố quyết định
đến chất lượng giáo dục”. Thầy giáo là người tổ chức, lãnh đạo quá trình
học tập, giáo dục ở trường học. Ảnh hưởng của người thầy đối với học sinh
rất to lớn và không có gì thay thế được. V.I.Lênin viết: ”không có sự kiểm
tra nào, không có chương trình nào có thể thay đổi một cách tuyệt đối
phương hướng của các bài học mà giảng viên đã xác định” (Lê Nin tuyển
tập – trang 94).
Trong nhà trường nếu đội ngũ giáo viên có năng lực, họ có thể lựa chọn
được nội dung giảng dạy sát với thực tế và nhu cầu người học, khai thác, sử
dụng có hiệu quả thiết bị, phương tiện dạy học, tạo ra mô hình, học cụ, làm
giàu thêm cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy.
Tóm lại, người thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo nghề.
Vai trò người thấy đối với chất lượng đào tạo được thể hiện ở sơ đồ 3:
Sơ đồ 3: Vai trò của người GVDN đối với chất lượng đào tạo.
ĐỘI NGŨ GVDN

CHẤT LƯỢNG ĐT

NỘI DUNG ĐT

CƠ SỞ VẬT CHẤT

22


23


Trích đoạn BIỂU ĐỒ TUỔI ĐỜI CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ GIÁO VIÊN ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC DẠY LÝ THUYẾT CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN PHẠM CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status