ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THI ̣NHUNG
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THẦN KỲ VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THI ̣NHUNG
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THẦN KỲ VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số
: 60 31 0101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP
HÀ NỘI – 2015
ii
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
4. Dự kiến đóng góp mới của luận văn ......................................................... 3
5. Kết cấu luận văn ....................................................................................... 4
CHƢƠNG 1...................................................................................................... 5
TỔNG QUAN VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI ....................................................... 5
1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................... 5
1.2 Khái niệm và đặc điểm của phúc lợi xã hội ........................................... 7
1.2.1 Khái niệm phúc lợi xã hội ................................................................ 7
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của phúc lợi xã hội ................................. 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới phúc lợi xã hội ......................................... 15
1.3.1 Yếu tố kinh tế .............................................................................. 16
1.3.2 Yếu tố chính trị ........................................................................... 17
1.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội ............................................................. 18
1.4 Cấu trúc hệ thống phúc lợi xã hội .................................................... 19
1.4.1 Bảo hiểm xã hội.......................................................................... 19
1.4.2 Bảo trợ (cứu trợ) xã hội ............................................................. 27
CHƢƠNG 2.................................................................................................... 31
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 31
2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu ...................................................................... 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 31
2.2.1Phương pháp nghiên cứu chung ..................................................... 31
2.2.2 Các phương pháp cụ thể ................................................................ 32
4.2.2. Kinh nghiệm trong việc giải quyết các chính sách hỗ trợ xã hội
............................................................................................................. 71
4.3. Một vài nét về thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giải quyết phúc
lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay ................................................................... 72
4.3.1.Những thành công và hạn chế của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
hiện nay ............................................................................................... 72
4.3.2.Thành công và hạn chế trong hoạt động bảo trợ ( cứu trợ )xã hội
ở Việt Nam hiện nay ............................................................................ 79
4.4. Khả năng vận dụng kinh nghiệm giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội
Nhật Bản ở Việt Nam hiện nay ............................................................... 81
4.4.1.Khả năng vận dụng các chính sách bảo hiểm xã hội................. 81
4.4.2.Khả năng vận dụng các chính sách hỗ trợ xã hội...................... 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 92
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Diễn biến tốc độ tăng trƣởng kinh tế của Nhật Bản 36
giai đoạn 1966 -1970 (đơn vị tính %)
Bảng 3.2 Số phƣơng tiện giải trí cho trẻ em
49
Bảng 3.3 Sự biến động của thất nghiệp và tỷ lệ đƣợc hƣởng 55thất nghiệp của Nhật Bản giai đoạn 1953 – 1973
56
Bảng 3.4 Số lƣợng những ngƣời tàn tật về mặt thể lực đang 58
của cả nước, nhờ đó cải thiện chất lượng cuộc sống như kéo dài tuổi thọ, giảm
tỷ lệ tử vong trẻ em và giảm tình trạng suy dinh dưỡng, giáo dục và văn hóa
phát triển, tạo nhiều công ăn việc làm. Tuy nhiên, bản thân nó chưa giải quyết
được các vấn đề phúc lợi xã hội cho dù các chương trình phát triển kinh tế có
được kết hợp, lồng ghép để giải quyết các vấn đề như đói nghèo, tệ nạn xã
hội...Vì vậy, cần đến vai trò của nhà nước trong giải quyết vấn đề phúc lợi xã
hội. Hoạt động phúc lợi được giải quyết tốt nó lại có tác dụng góp phần ổn
định xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nếu như các yếu tố tăng trưởng kinh tế, chính trị xã hội... là những
điều kiện khác quan cần phải xem xét khi nghiên cứu phúc lợi xã hội thì yếu
tố quyết định đến thành công trong lĩnh vực này lại phụ thuộc vài các chính
sách và biện pháp mà chính phủ các nước thi hành. Vấn đề trên đã được Nhật
Bản chú trọng giải quyết ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là
trong giai đoạn phát triển thần kỳ ( 1953 – 1973). Trong giai đoạn này, Nhật
Bản không chỉ quan tâm đến thực hiện cải cách kinh tế và đạt được những chỉ
số tăng trưởng ngoạn mục;mà còn đạt được những thành công đáng kể trong
việc đáp ứng phúc lợi con người. Hệ thống phúc lợi xã hội của Nhật Bản bắt
đầu hình thành từ việc ban hành quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1847,
sau đó lần lượt các luật liên quan đến vấn đề phúc lợi xã hội ra đời như: Luật
1
hưu trí, luật bảo hiểm y tế, luật phúc lợi xã hội, luật vô gia cư...Trong đó, một
phần chi tiêu cho phúc lợi xã hội lấy từ ngân sách nhà nước, còn lại nguồn
cung cấp chính là các công ty và tập đoàn kinh tế. Nhờ đó, nguồn lực cho
thực hiện phúc lợi xã hội ở Nhật Bản hết sức to lớn, tạo điều kiện cho mở
rộng mức độ bao phủ của hệ thống phúc lợi. Trên thực tế, mô hình này của
Nhật Bản đã được nhiều quốc gia đang phát triển nghiên cứu và học hỏi.
Ở Việt Nam, giải quyết các vấn đề phúc lợi vốn được Đảng và Nhà
nước quan tâm từ lâu. Sau gần ba mươi năm đổi mới, nước ta đạt được nhiều
đặt ra là:
Làm rõ khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của phúc lợi xã hội
Nghiên cứu bối cảnh kinh tế, chính trị, lịch sử của Nhật bản giai
đoạn phát triển “thần kỳ” và thực trạng giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội của
Nhật Bản trong giai đoạn này.
Từ điểm tương đồng và khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa của
Việt Nam và Nhật Bản; rút ra những bài học kinh nghiệm trong giải quyết
vấn đề phúc lợi xã hội cho Việt Nam giai đoạn 2014 -2030.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc giải quyết các vấn đề
phúc lợi xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ ( 1953 –
1973) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản
trong giai đoạn phát triển thần kỳ (1953 -1973) . Rút ra bài học kinh nghiệm
và khả năng áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2014 - 2030)
4. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Phân tích, đánh giá tình hình giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội của
Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ 1953 -1973.
3
Tác giả đưa ra một số vận dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay từ
kinh nghiệm giải quyết phúc lợi xã hội của Nhật Bản trong giai đoạn phát
triển thần kỳ.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 4 chương :
Chương 1: Tổng quan về phúc lợi xã hội
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Nhật Bản; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật
Bản từ sau chiến tranh. Tuy nhiên đề tài vẫn chưa đưa ra bài học kinh nghiệm
5
rút ra từ nghiên cứu giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội ở Nhật Bản. Từ đó
chưa đưa ra khả năng vận dụng cho Việt Nam.
Đỗ Thiên Kính (2005) “ Kinh nghiệm Nhật Bản trong việc xây dựng
hệ thống phúc lợi xã hội”, đề tài cấp Viện – Viện khoa học xã hội Việt Nam.
Đề tài đã phân tích hệ thống phúc lợi của Nhật Bản và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển các chính sách phúc
lợi xã hội.
Nhóm công trình nghiên cứu về an sinh xã hội
Đinh Công Tuấn ( 2008), “hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nhà xuất bản khoa học xã hội , Hà Nội. Trên cơ
sở nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU điển hình như
Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển... tác giả đã phân tích, đánh giá những thành
công và hạn chế của các hệ thống đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc
hoạch định hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới.
Năm 2008,hội thảo với chủ đề: Bảo đảm an sinh xã hội - Kinh nghiệm
Nhật Bản” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) và cơ quan Hợp tác
quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp tổ chức tại Hà Nội đã cung cấp nhiều kinh
nghiệm quý báu của Nhật Bản trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội
làm cơ sở thực tiễn cho việc vận dụng vào Việt Nam.
Nhật Bản cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống
về an sinh xã hội của đất nước, điển hình là : Shuzo Nishimura (2011) “ an
sinh xã hội ở Nhật Bản”, Viện Dân số và An sinh xã hội Nhật Bản; Toshiaki
Tachibanaki (2006 ) “cải cách an sinh xã hội Nhật Bản trong thế kỷ 21” Đại
học Kyoto.
tại đến ngày nay. Về sau, người ta sử dụng một số thuật ngữ khác nhau như:
bảo đảm xã hội, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội...Ở Việt Nam và hầu hết các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, khái niệm phúc lợi xã hội được hiểu là:
“phúc lợi là những lợi ích mà người lao động và các thành viên trong gia
7
đình được hưởng từ thành quả lao động của mình thông qua việc đáp ứng nhu
cầu vật chất và tinh thần, nhằm duy trì và nâng cao chất lượng lao động và
chất lượng cuộc sống” (Trần Thị Nhung, 2002). Từ điển tiếng Việt xuất bản
năm 2000 của Hoàng Phê đưa ra định nghĩa phúc lợi xã hội là “lợi ích công
cộng mà người dân được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một
phần”(Hoàng Phê, 2000). Như vậy, phúc lợi xã hội những đồng nghĩa với
những gì xã hội đem lại, hay những lợi ích mà nhà nước đem lại thông qua
các dịch vụ xã hội mà người dân không phải trả tiền hoặc chỉ trả một phần.
Cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi xã trong mô hình quản lý
theo phương thức kế hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà người ta hiểu
“phúc lợi” là phần thù lao mà người lao động nhận từ cơ quan hay xí nghiệp,
ngoài phần tiền lương, tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm hỗ trợ thêm về mặt
đời sống.
Thứ hai, là quan niệm phúc lợi xã hội ở các nước phương Tây. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai các nước này đã đạt được thành tựu nổi bật về
kinh tế. Họ cho rằng cần phải giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế gắn liền với
các vấn đề xã hội. Chẳng hạn, ở Anh ( báo cáo điều tra phúc lợi xã hội quốc tế
lần thứ nhất) năm 2005 cho rằng: “phúc lợi xã hội từ trước tới nay không phải
chỉ là các hoạt động liên quan đến phúc lợi đối với người già, người tàn tật,
tội phạm, tức là những người cần quan tâm đặc biệt”.(Nguyễn Duy Dũng,
1998,tr24,). Ở Mỹ, phúc lợi xã hội được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo
nghĩa hẹp, phúc lợi xã hội “bao gồm những hoạt động phi lợi nhuận của xã
hiện tại.” (Nguyễn Duy Dũng, 1998,tr25). Như vậy khái niệm này đã cho thấy
chức năng cũng như đối tượng của phúc lợi xã hội.
Thứ ba, quan niệm của Nhật Bản về phúc lợi xã hội. Ở Nhật Bản, vào
giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai, phúc lợi xã hội được hiểu là những
chế độ, chính sách của nhà nước với người nghèo, người gặp khó khăn. Trong
đó, chính sách phúc lợi y tế là những biện pháp nhằm giúp người không đủ
9
khả năng thích nghi với những biến đổi trong cuộc sống để có được cuộc sống
bình thường như những người khác. Đó là những người già, trẻ em, người tàn
tật, thần kinh, ốm đau, bệnh tật, người có thu nhập thấp... Sự phát triển kinh tế
kéo theo những thay đổi về đời sống xã hội và theo đó, quan niệm về phúc lợi
xã cũng có sự thay đổi tương ứng. Năm 1979, trong “kế hoạch 7 năm về kinh
tế xã hội”, Nhật Bản đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về phúc lợi xã hội với
nội dung: “Hoàn thiện cơ sở y tế, khám chữa bệnh, xây dựng các trung tâm
dành cho người già bị liệt, người thần kinh nặng với mục đích tạo cho họ
tham gia vào đời sống xã hội, đưa ra các chính sách động viên, khuyến khích,
bổ xung và mở rộng dịch vụ giúp đỡ tại nhà, dịch vụ ngày, dịch vụ ngắn hạn,
phục hồi chức năng cho người già, người tàn tật, giáo dục và chăm sóc sức
khỏe cho trẻ em (Nguyễn Duy Dũng, 1998,tr128)
Thuật ngữ phúc lợi xã hội trong tiếng Việt tương ứng với cụm từ social
welfare trong tiếng Anh.
Bên cạnh thuật ngữ phúc lợi xã hội, hiện nay còn có thuật ngữ an sinh
xã hội. Thuật ngữ này tương đương với cụm từ social security. Thuật ngữ này
được hiểu theo nghĩa hẹp hơn thuật ngữ phúc lợi xã hội (social welfare).
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp
cận nên hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau về an sinh xã hội
Theo Ngân hàng Thế giới (WB): An sinh xã hôị là những biện pháp
năng lao động. Đây là chính sách đối với con người nhằm đáp ứng môt trong
những quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người. Chính sách phúc lợi
xãhoij còn thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng
tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Trong một chừng mực nào đó nó còn thể
hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính
sách phúc lợi xã hội sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của con
người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ đó, nâng cao
chất lượng cuộc sống, tạo lập công bằng xã hội.
Thứ hai, đối tượng của phúc lợi xã hội là những người có hoàn cảnh
khó khăn, không may mắn như người tàn tật, người già, trẻ em; tiếp đến là
các cá nhân, thành viên khác trong xã hội.
13
Trong cuộc sống hàng ngày, mọi rủi ro đều có thể xảy ra đối với người
dân, tại bất cứ thời điểm nào và gây ra cho họ những khó khăn về vật chất lẫn
tinh thần. Người được trợ giúp là những cá nhân, hộ gia đình, những thành
viên trong xã hội thực sự đang gặp hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh. Để
được hưởng trợ cấp, họ phải được pháp luật quy định. Theo quy định của
pháp luật, đối tượng được trợ giúp bao gồm những người già, trẻ em, tàn tật
và những cá nhân khác trong xã hội. Những người này không thể lo được thu
nhập cho cuộc sống hàng ngày hoặc tạm thời bị gián đoạn thu nhập.
Thứ ba, chính sách phúc lợi xã hội là những chính sách xã hội nhằm
đảm bảo cho mọi người được sống trong công bằng, bình đẳng. Chính sách
phúc lợi xã hội góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Xã hội là một cộng đồng người đông đảo và phức tạp bao gồm nhiều
giai cấp, giai tầng khác nhau. Ở đó, các khả năng và nhu cầu của từng thành
viên là khác nhau: có người giàu, người nghèo, có người may mắn và kẻ bất
hạnh. Đối với một cá nhân cũng vậy, lúc khỏe mạnh, lúc ốm đau, lúc già yếu
thống đạo đức vốn có của nước đó. Điều này giải thích tại sao cùng là chế độ
phúc lợi xã hội mà mỗi quốc gia sự thụ hưởng lại không giống nhau cả về
trường hợp hưởng, điều kiện hưởng cũng như mức hưởng. Để quản lý các
lĩnh vực phúc lợi xã hội, nhà nước cũng không phải chỉ định hệ thống các văn
bản pháp luật về phúc lợi xã hội mà còn dựa vào những điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội cũng như tâm lý, truyền thống dân tộc. Để thể chế hóa các
văn bản về phúc lợi xã hội nhà nước phải cùng phối hợp với các cá nhân,
công đồng cùng thực hiện.
1.3 Các yếu tố ảnh hƣởng tới phúc lợi xã hội
Sự khác biệt về khái niệm phúc lợi xã hội ở mỗi quốc gia là do sự khác
biệt về các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội. Nói cách khác, kinh tế,
chính trị và văn hóa xã hội là những yếu tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội.
15
1.3.1 Yếu tố kinh tế
Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất để giải quyết vấn đề phúc lợi xã
hội. Kinh tế tác động đến vấn đề phúc lợi xã hội thông qua hai con đường.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
người dân và của cả xã hội. Nhờ đó, con người mới có điều kiện để tích cực
tham gia vào các hoạt động cộng đồng, trong đó có hoạt động phúc lợi xã
hội. Thứ hai, kinh tế tăng trưởng tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách nhà
nước, nhờ đó có thể tăng chi tiêu cho hoạt động phúc lợi xã hội. Chính phủ
các nước thường dành một tỉ lệ nhất định trong tổng thu nhập quốc dân cho
hoạt động này. Sự tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với sự gia tăng trong tổng
thu nhập quốc dân và kéo theo sự gia tăng trong ngân sách dành cho phúc lợi
xã hội. Điều đó có nghĩa là kinh tế càng phát triển, tỉ lệ chi cho phúc lợi xã
hội sẽ càng tăng. Như vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện và tiền đề cho sự
phát triển của phúc lợi xã hội và ngược lại, phúc lợi xã hội là nhân tố quan
trọng tác động trở lại, là thước đo của sự công bằng, ổn định của đất nước.
1.3.2 Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị đóng vai trò quyết định trong việc thực hiên chính sách
phúc lợi xã hội. Nhà nước điều tiêt các hoạt động phúc lợi xã hội thông qua
chức năng lập pháp, tư pháp và hành pháp. Trên cơ sở chức năng lập pháp,
nhà nước ban hành các luật về phúc lợi xã hội với mục đích định hướng, điều
chỉnh các hoạt động phúc lợi xã hội. Các luật về phúc lợi xã hội đều được
xây dựng trên các nguyên tắc căn bản của hiến pháp mỗi nước, nhằm đảm
bảo lợi ích của công dân hài hóa với lợi ích của xã hội. Với chức năng tư
pháp, nhà nước thực hiện sự công bằng, bình đẳng trong quá trình thực hiện
các chính sách phúc lợi xã hội để tạo sự công bằng, bình đẳng với mọi công
dân, không phân biệt đối xử. Nhờ chức năng hành pháp, nhà nước ban hành
các văn bản dưới luật, tổ chức bộ máy thực hiện, xây dựng các chương trình,
17
dự án và tài trợ cho các hoạt động phúc lợi xã hội. Trong đó, cán bộ nhà
nước từ trung ương tới địa phương đều đóng vai trò hết sức quan trọng đối
với việc thi hành các chính sách. Như vậy, sự thành công trong lĩnh vực phúc
lợi xã hội phụ thuộc chặt chẽ bởi yếu tố chính trị thông qua các chính sách và
biện pháp của nhà nước.
1.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội
Yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội thông qua yếu tố
chính trị và kinh tế. Mỗi xã hội khác nhau có đặc điểm văn hóa, xã hội khác
nhau. Các đặc điểm văn hóa, xã hội ấy ảnh hưởng quan trọng đến cơ cấu và
thể chế chính trị mỗi quốc gia. Các đặc điểm đó ảnh hưởng đến kinh tế thông
qua nhiều cách. Ví dụ, sở thích về thức ăn cũng ảnh hưởng đến việc tạo lập
chính sách sản xuất và tiêu dùng. Hệ thông giá trị niềm tin, ý nghĩa, hiểu biết