Khu vực kinh tế tư nhân với vấn đề giải quyết việc làm ở việt nam luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------------------

Nguyễn Thị Hoàng Nhung

KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------------------

Nguyễn Thị Hoàng Nhung

KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. PHÍ MẠNH HỒNG


rộng việc làm
1.2.1. Vai trò của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng và phát triển kinh tế

10

1.2.2. Kinh tế tư nhân và vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

13

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân và khả năng mở rộng việc làm của nó

16

1.3.1. Quan niệm và thái độ xã hội đối với kinh tế nhà nước và kinh tế
tư nhân

16

1.3.2. Hệ thống pháp luật

17

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng khác

18

1.4.

Kinh nghiệm về phát triển kinh tế tư nhân theo hướng tạo


31

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam trong những năm
đổi mới

35

2.2. Tác động của sự phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam đối với
việc giải quyết việc làm cho người lao động

42

2.2.1. Tương quan giữa tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân và
tăng trưởng việc làm

42

2.2.2. Tăng trưởng việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân: phân tích
theo ngành và lĩnh vực của nền kinh tế

48

2.2.3. Tăng trưởng việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân: phân tích
theo tiêu chí vùng, miền

54

2.3. Đánh giá chung



sự phát triển kinh tế tư nhân
3.2. Những giải pháp nhằm phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư
nhân trong giải quyết việc làm cho người lao động

70


3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển của
khu vực kinh tế tư nhân

70

3.2.2. Hoàn thiện các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân

71

3.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tư nhân

75

3.2.4. Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa

76

3.2.5. Ưu tiên những ngành có lợi thế để phát triển và sử dụng nhiều
lao động tạo ra việc làm

78


ĐH - CĐ

Đại học - Cao đẳng

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GSO

Tổng cục thống kê

HTX

Hợp tác xã

ISIC

Mã ngành chuẩn phân loại quốc tế

MOLISA

Bộ Lao động Thương binh và xã hội

NXB


Bảng 2.2:

37

Bảng 2.3:

Cơ cấu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phân theo thành
phần kinh tế
Tỷ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế

Bảng 2.4:

Tốc độ tăng bình quân của các doanh nghiệp

43

Bảng 2.5:

45

Bảng 2.6:

Lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 phân theo thành
phần kinh tế
Lao động của các doanh nghiệp

Bảng 2.7:

Lao động đang làm việc trong khu vực doanh nghiệp tư nhân

Bảng 2.13: Tăng trưởng lao động theo địa phương
Bảng 2.14: Số lượng và tốc độ phát triển số cơ sở, lao động của các cơ sở
sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp phân theo vùng

55
56
57
58


DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1:

Tốc độ tăng GDP của Ấn Độ 1991 – 2005

27

Hình 2.1:

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế

39

Hình 2.2:

Tỷ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế

41


kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu
bức xúc của nhân dân” [10, tr.210].
Việt Nam là một quốc gia có lực lượng lao động động đông đảo, có tốc
độ gia tăng hàng năm cao thì sức ép việc làm hiện nay đang là vấn đề kinh tế xã hội nóng bỏng, trong khi đó khả năng tạo việc làm từ khu vực kinh tế nhà
nước không lớn và có xu hướng đứng yên. Vì thế nếu chỉ thông qua các
doanh nghiệp nhà nước thì không bao giờ tạo đủ việc làm cho người lao động.
Theo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong các nền kinh tế thị trường, khu vực
kinh tế tư nhân có lợi thế và vai trò quyết định trong việc mở rộng việc làm,
giải quyết thất nghiệp.
Vai trò của kinh tế tư nhân ở Việt Nam gần đây đang được nhìn nhận
lại và có sự phát triển nhanh chóng, đồng thời dường như khu vực này đang
có những đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế chung và mở rộng việc
làm cho người lao động nói riêng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu tố kìm hãm
sự phát triển của khu vực này và khả năng tạo lập việc làm của nó. Điều đó
đòi hỏi phải làm sáng tỏ: khu vực kinh tế tư nhân thực tế đóng vai trò như thế
nào trong việc tạo lập và mở rộng việc làm trong nền kinh tế thị trường? Tại
-1-


sao nó có thể đóng được vai trò như vậy? Ở Việt Nam, sự phát triển của kinh
tế tư nhân đã đóng góp như thế nào đối với vấn đề giải quyết việc làm?
Những bất cập và giải pháp tháo gỡ nào cần được đề xuất?
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Khu
vực kinh tế tư nhân với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam” cho luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về khu vực kinh tế tư nhân và vấn đề việc làm cho người
lao động đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở các góc độ khía cạnh khác nhau.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài mà tác giả luận văn được biết
có thể phân thành hai nhóm sau:


Thứ hai, nhóm các đề tài tập trung vào vấn đề giải quyết thất

nghiệp, tạo việc làm cho người lao động:
- Nguyễn Thị Thơm (CB, 2006), Thị trường lao động Việt Nam, thực
trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đinh Đăng Định (CB, 2004), Một số vấn đề về lao động - việc làm và
đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay, NXB Lao động, Hà Nội.
- Phạm Quang Vinh (1996), Một số vấn đề về việc làm và thất nghiệp ở
Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ, Hà Nội.
- Tạ Đức Khánh (1996), Doanh nghiệp tư nhân (nhỏ và vừa) với vấn đề
việc làm ở Việt Nam hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ, Hà Nội.
- Bùi Anh Tuấn (1999), Tạo việc làm cho người lao động qua vốn đầu
tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội.
Như vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của khu vực kinh tế
tư nhân trong lĩnh vực tạo lập việc làm ở Việt Nam chưa được chú ý trong
các công trình nghiên cứu và đó là lý do để luận văn lựa chọn chủ đề nghiên
cứu này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở làm rõ vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giải quyết
việc làm cho người lao động trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, luận văn đề
-3-


xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực
này và phát huy khả năng tạo lập việc làm của nó.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ về mặt lý thuyết vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc
giải quyết việc làm của người lao động.

Chƣơng 1: Những vấn đề chung về khu vực kinh tế tư nhân và vấn đề giải
quyết việc làm
Chƣơng 2: Tình hình việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân từ năm 2000
đến nay
Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy việc làm của khu vực kinh tế
tư nhân trong thời gian tới

-5-


CHƢƠNG 1
KHU VỰC KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.1.

Khu vực kinh tế tƣ nhân: khái niệm và đặc điểm

1.1.1. Khái niệm khu vực kinh tế tư nhân
Hiện nay trong giới nghiên cứu đang có nhiều cách lý giải khác nhau về
khu vực kinh tế tư nhân. Có người cho rằng, “kinh tế tư nhân” đồng nghĩa với
“kinh tế tư bản tư nhân”. Có người lại đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế
ngoài quốc doanh, theo đó một doanh nghiệp hay công ty… sẽ được coi là
ngoài quốc doanh nếu như tư nhân làm chủ trên 50% vốn đầu tư. Hiện nay,
niên giám của Tổng cục Thống kê nước ta vẫn thường dùng khái niệm “ngoài
quốc doanh”, ví dụ trong Niên giám thống kê năm 2002, Tổng cục Thống kê
đã xếp các loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm: tập thể, tư nhân, cá thể,
hỗn hợp. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại được tách riêng. Quan
điểm khác lại cho kinh tế có 100% vốn nước ngoài cũng nằm trong kinh tế tư
nhân (nếu thuộc sở hữu tư nhân). Còn theo quan điểm hiện nay được Đảng ta

công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và công
ty hợp danh được thành lập theo Luật doanh nghiệp.
Như vậy, do chưa có sự thống nhất chung nên ta vẫn có thể hiểu khái
niệm kinh tế tư nhân qua hai cấp độ khác nhau:
Theo cấp độ khái quát nhất: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm
ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm cả các doanh
nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư.
Theo cấp độ hẹp hơn: Kinh tế tư nhân gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ
và kinh tế tư bản tư nhân.
Từ hai cách hiểu trên, chúng ta đi đến một nhận thức mang tính khái
-7-


quát chung về kinh tế tư nhân như sau:
Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân.
Trong đó các chủ thể của nó tự chủ tiến hành sản xuất kinh doanh vì lợi ích
trực tiếp của cá nhân, hay tập thể cá nhân hoạt động dưới những hình thức
kinh tế khác nhau, dù có thuê hay không thuê lao động.
Tuy nhiên, trong quá trình phân tích, lấy số liệu, luận văn sẽ đề cập đến
khu vực kinh tế tư nhân với nghĩa là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bao gồm: tập thể, tư nhân, cá thể, hỗn hợp và tách riêng khu vực doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
Trong sự phân loại các loại hình kinh tế của V.I. Lênin không có tên
kinh tế cá thể, tiểu chủ. Đây chỉ là cách gọi riêng của Việt Nam. “Kinh tế cá
thể, tiểu chủ” và “kinh tế tư nhân” (được hiểu đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư
nhân) đã trở thành đối tượng của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam từ năm 1958 đến năm 1985. Việc đặt trung tâm của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội là sự chiến thắng của chủ nghĩa xã hội trước con đường tư
bản chủ nghĩa, đã trực tiếp chuyển loại hình kinh tế trên, từ vấn đề kinh tế, trở

nước” và “khu vực kinh tế tư nhân”…
Cũng có thể hiểu và gọi các khái niệm trên bằng các khái niệm có chung
một nội dung, nhưng gọn hơn là: “kinh tế nhà nước” và “kinh tế tư nhân”…
Nếu sử dụng cách tiếp cận “khu vực kinh tế” và sử dụng một số khái
niệm nêu trên, chúng ta sẽ gặp được nhiều thuận lợi sau đây:
- Khắc phục được tính trừu tượng, tính phi định lượng của cách tiếp cận
thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kê chính xác
hơn và quản lý thông thoáng hơn.
- Tránh được sự phân biệt đối xử, sự thành kiến mặc cảm, cổ vũ sự bình
đẳng giữa các khu vực kinh tế, tạo tâm lý yên tâm phấn khởi, tạo niềm tin cho
-9-


các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước.
- Phù hợp với cách phân định khu vực kinh tế của các nước, tạo thuận
lợi cho việc hội nhập và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế của nước ta.
- Tránh được việc tranh luận không có hồi kết về sự phân định ranh
giới giữa hai loại hình kinh tế: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân.
- Khi không cần phải sử dụng khái niệm “thành phần kinh tế tư bản tư
nhân”, thì việc tranh luận về vấn đề “đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân”
cũng không cần thiết phải đặt ra nữa. Bởi nó cũng rất khó giải quyết như việc ta
đang tìm tiêu chí cụ thể cho việc phân định ranh giới giữa hai loại hình kinh tế
trong khu vực kinh tế tư nhân vậy. Song cũng cần có những quy định cần thiết
cho những đảng viên làm chủ doanh nghiệp ở quy mô lớn và tương đối lớn.
1.2.

Vai trò của kinh tế tƣ nhân trong tăng trƣởng kinh tế và mở

rộng việc làm
1.2.1. Vai trò của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng và phát triển kinh tế

trong tiềm thức xã hội, đặc biệt là trong doanh nghiệp nhà nước tạo nên sự ỷ
lại, trì trệ, kém hiệu quả của khu vực này và của cả nền kinh tế.
- Sự có mặt của các loại hình doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội mà luật pháp không
cấm đã tạo ra một áp lực thực sự buộc các doanh nghiệp nhà nước phải vươn
lên đổi mới và chỉnh đốn một cách toàn diện thì mới có thể tồn tại và phát
triển được.
Trước hết nó đòi hỏi khu vực doanh nghiệp nhà nước phải được sắp
xếp lại. Chỉ giữ những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở những ngành,
những lĩnh vực có vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc dân như: công
nghiệp quốc phòng, bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, đường sắt,
đường biển, xuất nhập khẩu,… Số còn lại được tiến hành cổ phần hóa, bán,
khoán, cho thuê… Các doanh nghiệp được phân tách rõ thành hai loại hình
- 11 -


hoặc sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, hoặc hoạt động vì mục đích
công ích. Việc sắp xếp này không những không làm cho khu vực doanh
nghiệp nhà nước mất đi vai trò, vị trí của mình mà thực sự còn làm cho nó
mạnh lên trên nhiều mặt như: huy động được nguồn vốn của nhân dân để đầu
tư chiều sâu hoặc mở rộng doanh nghiệp; tập trung vốn của nhà nước để đầu
tư vào ngành chiến lược; phát huy được quyền làm chủ của người lao động,
tiếp thêm sức sống cho doanh nghiệp, nhờ vậy đã đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn. Cụ thể: năm 1991 cả nước có trên 12.800 doanh nghiệp nhà nước nắm
đến 70% giá trị tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân, nhưng chỉ đóng vào
GDP được 31,07%, nộp ngân sách nhà nước khoảng 33%. Sau 10 năm sắp
xếp lại đến cuối năm 2000, số doanh nghiệp nhà nước chỉ còn lại trên 5.000
đơn vị, nhưng đã đóng góp vào GDP gần 39,0%, nộp ngân sách 39,2% và
chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Đi đôi với việc sắp xếp lại, các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện

(thực hiện cam kết AFTA, tham gia APEC, Hiệp định Thương mại song
phương với Hoa kỳ, và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)…).
1.2.2. Kinh tế tư nhân và vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
Giải quyết việc làm là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia. Giảm
tỷ lệ thất nghiệp là một mục tiêu kinh tế vĩ mô mà quốc gia nào cũng theo
đuổi. Điều đó càng đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, một quốc gia có lực
lượng lao động đông đảo, có tốc độ gia tăng hàng năm cao trong khi khả năng
tạo việc làm từ khu vực kinh tế nhà nước không lớn và có xu hướng đứng yên,
khả năng thu hút vốn từ nước ngoài đang có xu hướng tăng chậm lại. Vì thế
nếu chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì không bao giờ tạo đủ việc
làm cho người lao động. Nhất là trong giai đoạn này, các doanh nghiệp nhà
nước đang có xu hướng sắp xếp lại tổ chức và giảm biên chế. Chỉ có khu vực
kinh tế tư nhân mới có khả năng thu hút và sử dụng nhiều lao động. Hiện nay
- 13 -


nước ta hàng năm có thêm khoảng 1,4 triệu người đến tuổi lao động, yêu cầu
mỗi năm phải tạo thêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội
mạnh đối với chính phủ và chính quyền địa phương.
Đối với một nền kinh tế thị trường, cả lý thuyết lẫn kinh nghiệm đều
chứng tỏ khu vực tư nhân bao giờ cũng là động lực chính của tăng trưởng
kinh tế. Nó tự tìm kiếm hoạt động đem lại lợi ích kinh tế, có động lực để duy
trì sự năng động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, nếu chỉ
có khu vực tư nhân thì không đảm bảo đầy đủ các yếu tố cho sự phát triển của
một quốc gia, đặc biệt là yếu tố lợi ích công cộng. Do đó, phải có cả khu vực
Nhà nước để khắc phục những thất bại do thị trường mang lại. Và thực tiễn
cũng cho thấy tăng trưởng kinh tế tư nhân luôn là yếu tố quyết định tăng
trưởng chung của cả nền kinh tế.
Một điều cũng dễ nhận thấy rằng, khu vực tư nhân dễ tạo việc làm hơn
khu vực nhà nước. Nó được thể hiện bởi các lý do sau:

kiếm việc làm cho những người khác.
- Tạo việc làm cho những người thiếu việc làm, góp phần tăng thu nhập
thông qua khu vực phi kết cấu và kinh tế hộ gia đình.
- Đào tạo và truyền nghề mới, nghề truyền thống cho thanh niên và
những người có yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp.
- Tạo việc làm có ích về vật chất và tinh thần, văn hóa phù hợp với yêu
cầu tăng thu nhập, nhu cầu và sở thích sáng tạo tinh thần - văn hóa của cá
nhân và hộ gia đình.
- Môi giới việc làm giữa các thành phần kinh tế và khu vực kinh tế
nông thôn, thành thị nhằm xúc tiến việc làm và tạo ra các luồng di cư lao
động và trung chuyển việc làm hợp lý và có hiệu quả trong xã hội.
Việc tạo thêm công ăn việc làm mới trong khu vực tư nhân sẽ tạo cơ
hội cho việc mở rộng thị trường, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng
- 15 -


cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, cải thiện thu nhập và
nâng cao đời sống nhân dân. Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân nếu được quản
lý và định hướng đúng đắn sẽ đóng góp vai trò rất quan trọng thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo con đường xã hội
chủ nghĩa.
1.3.

Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của khu vực kinh tế

tƣ nhân và khả năng mở rộng việc làm của nó
1.3.1. Quan niệm và thái độ xã hội đối với kinh tế nhà nước và kinh
tế tư nhân
Ở Việt Nam đã có thời kỳ tồn tại tư tưởng kỳ thị khu vực kinh tế tư
nhân. Thang bậc xã hội trong việc tôn vinh nghề nghiệp đã đặt nghề kinh

Để phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thì hệ thống
pháp luật về kinh tế luôn có vai trò vô cùng to lớn. Nhận thức được tầm quan
trọng này, từ cuối những năm 1980 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế luôn là mối quan tâm lớn,
thường xuyên và là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà
nước ta. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định phải “đổi mới và
hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ
tục hành chính để phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất,
kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau”
[10, tr.188].
Vai trò của hệ thống pháp luật luôn có tính hai mặt. Nếu pháp luật hoàn
thiện, đối xử bình đẳng giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước thì sẽ tạo
điều kiện phát triển khu vực tư nhân hơn. Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật
tỏ ra có sự phân biệt đối xử giữa khu vực tư nhân với khu vực nhà nước thì sẽ
kìm hãm sự phát triển của khu vực tư nhân. Mặt khác, nếu pháp luật rõ ràng,
minh bạch, tạo ra những môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh
- 17 -


Trích đoạn Tăng trưởng việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân: những khía cạnh tích cực Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân Quán triệt nhất quán về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường Phát huy khả năng mở rộng việc làm thông qua sự phát triển kinh tế tư nhân Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status