LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kì quá độ lên CNXH, Đảng và Nhà nước ta
chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà thực tế
cho thấy chưa có một nước nào thành công trong phát triển kinh tế thị
trường lại thiếu khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân như một
động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Khu vực kinh tế tư nhân đang thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho
sự phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta. Vai trò tích cực của kinh tế tư nhân ở
nước ta đã được nhận định ở Nghị Quyết TƯ 5 khoá IX:” Sự phát triển của
kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân
công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
tăng thêm lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện
các chủ trương xã hội hoá y tế, văn hoá, giáo dục…”
1
Trước vai trò to lớn
của kinh tế tư nhân việc đòi hỏi cần phải nhận thức một cách đúng đắn khu
vực kinh tế tư nhân được đặt ra ngày càng trở nên bức thiết hơn. Đó chính là
động lực thúc đẩy em lựa chọn đề tài: "Phát triển kinh tế tư nhân trong
thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam"
Trong bài viết này em tập trung vào việc làm rõ hơn nữa về khái niệm
kinh tế tư nhân, xác định rõ vị trí, vai trò của khu vực kinh tế này, đồng thời
nêu lên thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay để từ đó
đưa ra được những giải pháp phát triển phù hợp kinh tế tư nhân nhằm phát
huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của khu vực kinh tế tư nhân.
Em xin trân thành cảm ơn PGS,TS.ĐÀO PHƯƠNG LIÊN
đã hướng dẫn em hoàn thành bài viết này. Là sinh viên năm nhất, kiến thức
còn hạn chế nên đề án này khó tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên và các thầy giáo, cô giáo để đề
2
• Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất, kinh
doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
và bóc lột sức lao động làm thuê.
Dựa trên đặc điểm của từng thành phần kinh tế trên mà áp dụng phương
thức kinh doanh cho phù hợp với từng lĩnh vực.Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang
có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, có
điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay
nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản xuất,
kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích. Hiện nay ở
nước ta, các hình thức kinh tế này hoạt động dưới hình thức hộ gia đình,
đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng, lâu
dài nó góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết nhiều
việc làm cho người lao động- một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống
kinh tế-xã hội. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể, tiểu chủ dù cố
gắng đến bao nhiêu cũng không thể loại bỏ được những hạn chế vốn có như:
tính tự phát, manh mún, hạn chế về kỹ thuật. Do đó Đảng chỉ rõ: cần giúp đỡ
kinh tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công
nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. “Nhà nước tạo điều kiện để giúp đỡ
và phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ
tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.” - Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, kinh tế tư
bản tư nhân còn có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng
sản xuất, xã hội hóa sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề
xã hội. Kinh tế tư bản tư nhân rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị
trường, do đó sẽ có đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế
• Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên
sự tự tổ chức, điều hành, phân phối công việc trong nội bộ gia đình, giữa các
thành viên gia đình với nhau.
• Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý
giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người
quản lý và người bị quản lý.
Trong kinh tế tư nhân, quan hệ phân phối dựa trên cơ sở các loại hình
sở hữu tư nhân khác. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh mà người sở
hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê mướn nhân công thì
phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối trong nội bộ chủ thể kinh tế đó.
Còn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, chủ sở hữu tư liệu sản xuất
sử dụng lao động của lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn
cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở 5
hữu tư bản. Tất nhiên, trong các chế độ xã hội chính trị khác nhau thì quan
hệ phân phối của kinh tế tư nhân cũng có sự khác biệt nhất định.
1.2 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Ở NƯỚC TA.
Mỗi thành phần kinh tế không thể tự tiến hành sản xuất và lưu thông hàng
hoá một cách bình thường, nếu không thực hiện những mối quan hệ trong
nội bộ từng thàh phần và giữa các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế
chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc vào nhau qua các
khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Các thành phần kinh tế, khu vực kinh
tế vừa cạnh tranh với nhau, vừa hợp tác, hỗ trợ, thúc đẩy nhau, là tiền đề
phát triển của nhau theo cơ chế thị trường trong nền kinh tế thống nhất. Do
đó, kinh tế tư nhân trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị
bán lương thực trên thị trường, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân
đội và bộ máy nhà nước. Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai trò
quan trọng trong thắng lợi của nhà nước Xôviết. Tuy nhiên khi hòa binh lập
lại, Chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp. Nó trở thành nhân
tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó đòi hỏi phải có
chính sách kinh tế thích ứng thay thế. Chính sách kinh tế mới được
V.I.Lênin đề xướng để đáp ứng yêu cầu tiếp tục kế hoạch xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong giai đoạn mới.
Trong chính sách kinh tế mới V.I.Lênin đã chủ trương khôi phục và
phát triển kinh tế dựa trên nguyên tắc của nền kinh tế hàng hóa,kinh tế thị
trường, sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế
quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, thợ
thủ công; khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân; sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà 7
nước, chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời V.I.Lênin chủ trương
phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương Tây
để tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến khích kinh tế phát triển.
Như vậy, ta có thể thấy Lênin cũng đã rất đề cao vai trò của kinh tế tư
nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để xây dựng chủ nghĩa xã
hội nhất thiết phải có một nền kinh tế phát triển vững mạnh và trong thời kỳ
quá độ thì sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần là tất yếu. Kinh tế tư
nhân là một phần hết sức quan trọng của nền kinh tế ấy, nó có tính năng
động, dễ thích nghi nên phù hợp với nền kinh tế thị trường.
1.3.2. Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Trung Quốc trong bối cảnh hội
nhập.
Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc cũng có những vấn đề tương tự như
ở nước ta. Kinh tế tư nhân là đối tượng cần được cải tạo trong giai đoạn đầu,
- Phải giải phóng được tư tưởng về sự tiêu cực phát triển kinh tế tư
nhân đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cuộc tranh cãi kéo dài về mặt
lý luận rằng kinh tế tư nhân phát triển liệu có làm lệch hướng sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc hay
không? Nhưng cuối cùng Hiến pháp sửa đổi năm 1999 đã chính thức
thừa nhận tầm quan trọng tương đương nhau của khu vực kinh tế tư
nhân và khu vực kinh tế nhà nước.
- Thông qua chính sách và pháp luật, Nhà nước phát huy thế mạnh, hạn
chế được mặt trái của kinh té tư nhân và hướng nó vào sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Tháo gỡ được
quan điểm kinh tế tư nhân không đối lập với nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa là cơ sở cho việc giải toả tâm lý xã hội và sự kỳ thị, phân biệt 9
đối xử đối với kinh tế tư nhân, tạo niềm tin và sự an tâm cho người
dân bỏ vốn đầu tư kinh doanh.
- Xây dựng những chính sách và thể chế phù hợp thúc đẩy phát triển
đối với doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ như: vốn, nguồn nhân lực,
đất đai…
- Chính phủ và các hiệp hội doanh nghiệp có vai trò quan trọng thúc
đẩy hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân.
2. THỰC TRẠNG CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN.
2.1.1. Trước những năm 1986.
Sau khi chiến thắng sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,
Đảng ta đã bắt tay ngay vào việc phát triển kinh tế. Việt Nam đã thử áp dụng
kế hoạch tập trung đối với nền kinh tế nông thôn nghèo sau khi thống nhất
được thừa nhận đúng vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế. Kinh tế tư nhân
vẫn bị coi là thành phần tư bản, là thành phần chống phá chủ nghĩa xã hội
nên vẫn chưa có điều kiện để phát triển cho xứng với tiềm năng vốn có. Nhà
nước vẫn chưa đưa ra những chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận
lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Nên trong giai đoạn này sự phát triển của
kinh tế tư nhân rất mờ nhạt, không có gì nổi bật.
Đến đại hội Đảng lần thứ IX, thấy được tính tất yếu của nền kinh tế
nhiều thành phần, Đảng và Nhà nước đã nhận rõ vai trò của kinh tế tư nhân
đối với sự phát triển của đất nước. Đại hội Đảng khẳng định: “Khuyến khích
kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi, không hạn chế quy mô hoạt động
trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh có lợi cho quốc kế dân sinh.
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế tư bản 11
tư nhân phát triển”, “Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát
triển thuận lợi”, “kinh tế cá thể tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị được
nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển năng động, có hiệu quả”.
Những chính sách đó đã được biểu hiện cụ thể qua sự tăng trưởng các doanh
nghiệp tư nhân trên mọi lĩnh vực kinh tế.
Việc “tư nhân hóa” trong lĩnh vực nông nghiệp là một thành công đáng
ngạc nhiên, góp phần làm giảm đói nghèo nhiều hơn bất cứ điều gì khác
trong thập niên đầu của đổi mới. Tỷ lệ nghèo đói giảm từ khoảng 3/4 xuống
dưới 1/4 sau hai thập kỷ, bất chấp sự sụp đổ của Liên bang Xô viết- đối tác
viện trợ và thương mại chính của Việt Nam.
Tiếp đó là quyết định năm 1999 và được triển khai vào tháng 1-2000 về
việc giảm các rào cản pháp luật đối với công ty tư nhân là một quyết định
quan trọng, có thể coi đây là quyết định lớn nhất kể từ sau các cải cách nông
nghiệp cuối những năm 1980. Một danh nhân giờ không cần xin sự chấp
sản phẩm công nghiệp trong lĩnh vực nhà nước nay chỉ còn 15-20%, mặc dù
sử dụng nhiều vốn và lao động có trình độ hơn trong lĩnh vực tư nhân. Một
lần nữa, việc dựa vào lĩnh vực tư nhân đã có kết quả tốt đẹp đáng kinh ngạc,
góp phần tiếp tục giảm đói nghèo và tăng cao hơn nữa tỷ kệ tăng trưởng
GDP.
2.2. THỰC TRẠNG KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1. Những đánh giá chung.
Chỉ sau mấy năm, khi tư tưởng của đai hội VI được quán triệt trong
cuộc sống, khu vực kinh tế tư nhân có những bước phát triển rõ rệt. Nếu
quan niệm kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách
nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần được thành lập theo Luật doanh 13
nghiệp thì ta thấy có bước phát triển rất nhanh chóng và trở thành một thành
phần kinh tế hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nước ta giai đoạn hiện
nay.
• Đóng gópvào GDP: Khu vực kinh tế tư nhân đã có đóng góp
đáng kể vào GDP. Khu vực này đã tạo ra 255,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 33.2%
tổng GDP ( năm 2003). Trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm
8,8%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 13,8%.
• Vốn đầu tư : Hiện nay doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ
trọng đầu tư 26,7% toàn xã hội. Đặc biệt, sau 6 năm áp dụng Luật Doanh
Nghiệp 1999, đã có 26 tỷ USD vốn nội địa được huy động.
• Thu hút lao động: Lao động làm việc trong khối doanh nghiệp
năm 2000 chiếm 11,3% tổng số lao động toàn xã hội đang tham gia làm việc
và tăng lên 13% trong năm 2001.Trong những năm gần đây, số doanh
nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làmcho người lao động. Tại
thời điểm 01-01-2003 là 4,658 triệu lao động. Bình quân mỗi năm gần 700