Phân tích kinh tế tư nhân trong thời kì quá độ lên CNXH hiện nay ở nước ta - Pdf 18

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
M ỤC L ỤC
A.LỜI NÓI ĐẦU
B.NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lí luận về kinh tế tư nhân.
1. Quan niệm về kinh tế tư nhân.
1.1. Cái nhìn tổng quan và toàn diện thông qua nền kinh tế của Việt
Nam.
1.2. Kinh tế tư nhân tại Việt Nam - chiếc phao an toàn của nền kinh
tế.

1.3. Việt Nam và quyền tạo ra giá trị gia tăng thông qua kinh doanh.
2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân.
II. Những vai trò và điều kiện, sự phát triển kinh tế tư nhân ở Việt
Nam.
1. Vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế.
2. Điều kiện, sự phát triển kinh tế tư nhân.
2.1. Những nghịch lý trong nền kinh tế tư nhân.
2.2. Điều kiện, sự phát triển.
III. Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
1. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
2. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong thời kì mới.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
C.KẾT LUẬN
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A.LỜI NÓI ĐẦU
Sau hai cuộc kháng chiến trường kì chống giặc ngoại xâm và giành được
độc lập, cả nước thống nhất, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn thắng
lợi trên cả nước. Đất nước ta tiếp tục con đường mình đã lựa chọn đó là con

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
B.NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lí luận về kinh tế tư nhân.
1.Quan niệm về kinh tế tư nhân.
1.1Cái nhìn tổng quan và toàn diện xung quanh nền kinh tế của Việt
Nam.
Hoạt động kinh tế theo kế hoạch hay tự do trước hết là do kinh nghiệm
và ý thức của con người. Trong bản năng của chúng ta chứa đựng cả hai yếu
tố này. Nếu chúng ta phê phán một cách nhầm lẫn công tác kế hoạch của một
nền kinh tế với nền kinh tế kế hoạch, thì chúng ta làm mất đi sự hào hứng của
các nhà chính trị của thời chuyển đổi vốn đã có rất ít kinh nghiệm về một nền
kinh tế thị trường tự do. Đi tới nền kinh tế thị trường tự do như từ sông ra
biển, thực tế lịch sử đã cho thấy không phải ai cũng dám hành động như vậy.
Sự vụng về của quá trình đến với biển cả cần phải được khuyến khích như là
biểu hiện của lòng dũng cảm. Những người cộng sản Việt Nam đã dũng cảm
từ bỏ nền kinh tế kế hoạch. Mở cửa và đổi mới là hành động chính trị dũng
cảm nhất từ trước đến nay. Cho dù Việt Nam đã chiến thắng trong nhiều cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm nhưng để tiến hành các cuộc chiến tranh ấy vẫn
là những kinh nghiệm trước đó, còn Mở cửa và Đổi mới thì chưa có tiền lệ, vì
vậy đương nhiên phải có những chập chững, thậm chí, là loạng choạng nhưng
cho đến nay có thể khẳng định rằng Mở cửa và Đổi mới là quá trình không
thể đảo ngược và đã mang lại luồng sinh khí mới cho mọi lĩnh vực đời sống
kinh tế, xã hội Việt Nam.
Nếu chúng ta xem nền kinh tế kế hoạch là một hiện tượng cực đoan thì
việc phê phán một cách quyết liệt cái yếu tố kế hoạch của một nền kinh tế
cũng cực đoan không kém. Chúng ta cần phải phân biệt nền kinh tế kế hoạch
với yếu tố kế hoạch của một nền kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào muốn tiết
kiệm thì đều phải có kế hoạch để phát triển kinh tế. Sự khác nhau cơ bản giữa
yếu tố kế hoạch của một nền kinh tế và nền kinh tế kế hoạch là ở chỗ nào?
Bất kỳ một người có khát vọng trí tuệ đều phải nhận thức được điểm quan

xu hướng kế hoạch tập trung lẫn xu hướng tự do. Vì vậy, nền kinh tế Việt
Nam về cơ bản vẫn là nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp. Tuy nhiên,
chính trạng thái lạc hậu lại cho các nhà chính trị Việt Nam có quyền tự do lựa
chọn các phương án. Nếu các yếu tố bản năng ấy không tồn tại thì sẽ không
còn phương án nào và kết quả là đi đến sự lệ thuộc nước ngoài. Nhưng, như
đã nói, các yếu tố bản năng của đời sống tư nhân ở Việt Nam còn tồn tại và
tồn tại khá mạnh. Trong thời kỳ bao cấp, nó đóng góp khoảng 40 -50% trong
cơ cấu nguồn sống của từng gia đình. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, thị
trường ngầm (chợ đen) tại Việt Nam vẫn luôn hoạt động, thậm chí có sự tiếp
tay trực tiếp hoặc gián tiếp của các cán bộ có chức quyền ở nhiều cấp. Tại chợ
đen người ta buôn bán các hàng hóa được phân phối và cả tem phiếu. Vào
thời điểm ấy nhiều người lên án những hành vi trái đạo đứa này, nhưng thực
ra nếu sáng suốt người ta phải nhận thấy đó là sự may mắn và hạnh phúc cho
dân tộc, bởi vì những bản năng vụ lợi cơ bản không bị mất đi và nó được bảo
tồn như người ta phải bảo tồn đen quý trong những điều kiện bất lợi của ngoại
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cảnh. Điều trớ trêu là chính nền kinh tế ngầm mà người ta ra sức chê bai và
muốn xoá bỏ lại góp phần giữ cho kinh tế và xã hội Việt Nam không bị sụp
đổ sau khi Liên Xô tan rã.
1.3 Việt Nam và quyền tạo ra giá trị gia tăng thông qua kinh doanh.
Bản chất, mục tiêu của kinh doanh là gia tăng các giá trị. Không ý thức
đầy đủ, tỉnh táo, bình tĩnh về tiến trình này trong hành vi của mình thì không
phải là nhà kinh doanh. Một nhà kinh doanh lành mạnh là ghép sự gia tăng
các giá trị của mình vào toàn bộ sự gia tăng các giá trị xã hội, còn những nhà
kinh doanh thông thường thì chỉ nhận thức được sự gia tăng các giá trị của
những hoạt động kinh doanh của riêng họ,vì đấy là mục tiêu của kinh doanh.
Mọi thứ sáng tạo khác đều nhằm phục vụ một mục tiêu như vậy. Mọi không
gian xã hội, chính trị, văn hóa mà Nhà nước hoặc Chính phủ muốn tạo ra
cũng là để phục vụ cho con người có quyền, có không gian và những điều

thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân như hiện nay là một bước đột phá quan
trọng. Nếu như những năm trước đổi mới, thành phần kinh tế tư nhân chỉ
được coi là một thành phần kinh tế “tàn dư”, chỉ tồn tại khách quan trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sẽ bị thu hẹp dần trong quá trình lớn lên
của các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (toàn dân và tập thể), thì đến Đại
hội VIII và Đại hội IX của Đảng thành phần kinh tế tư nhân mới được khẳng
định sự tồn tại lâu dài “cả đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng”.
Thực tiễn cho thấy, trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 thành phần kinh tế tư
nhân phát triển với tốc độ cao, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách Nhà nước
lớn. Theo số liệu thống kê, công nghiệp ngoài quốc doanh (bao gồm cả kinh
tế tư nhân) tuy vẫn là khu vực nhỏ nhất so với các khu vực khác, nhưng có
nhịp độ tăng trưởng cao nhất: năm 2000 chiếm 24,6% trong giá trị sản xuất
theo giá thực tế của toàn ngành công nghiệp, năm 2003 là 27,5%, năm 2004
tăng lên 28,5% và năm 2005 đạt trên 37%.
Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện có hàng triệu cơ sở kinh tế cá thể, tiểu
chủ, hơn 71.000 trang trại và hơn 120.000 doanh nghiệp tư nhân.
Chỉ tính trong 4 năm gần đây với 72.601 doanh nghiệp có vốn đăng ký đạt
145.000 tỷ đồng (tương đương với 9 tỷ USD), tỷ trọng đầu tư của các loại
doanh nghiệp tư nhân trong tổng đầu tư xã hội đạt từ 23% đến 25%. Năm
2005 kinh tế tư nhân đóng góp khoảng hơn 37% GDP.
II.Những vai trò và điều kiện,sự phát triển kinh tế tư nhân ở Việt
Nam.
1.Vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế.
Thực tế cho thấy, kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ vai trò của nó, trở
thành một đối chứng hiện thực năng động để các khu vực kinh tế khác phấn
đấu vươn lên, tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong nền kinh
tế thị trường. Kinh tế tư nhân được coi là một trong những bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được đối xử và hoạt động bình đẳng như
các khu vực kinh tế khác. Theo số liệu thống kê, về giá trị công nghiệp,
năm 2005, kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng hơn 37% GDP. Tại Đại hội X,

về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì những lý do đó,
chúng ta có thể khẳng định rằng, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng
góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
Sự xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực kinh tế
tư nhân trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh đã đẩy lùi dần
tình trạng độc quyền, làm cho sản xuất hàng hoá phát triển, thị trường được mở
rộng, các quy luật kinh tế thị trường phát huy được tác dụng; đẩy lùi cơ chế quản
lý tập trung quan liêu, bao cấp vốn đã ăn sâu trong tiềm thức xã hội.
Thông qua việc phát triển kinh tế tư nhân mà quyền làm chủ của nhân dân,
trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy. Trong Nghị quyết Đại
hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương
phát triển mạnh các thành phần kinh tế; xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hình thức sở hữu; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, minh bạch,
thông thoáng và thuận lợi hơn; ổn định chính sách, bảo đảm quyền của mọi
người dân được tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật
không cấm.
2. Điều kiện, sự phát triển kinh tế tư nhân.
2.1 Những nghịch lý trong nền kinh tế Việt Nam.
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều nhân tố mới đang hình
thành nhưng đất nước vẫn còn ngổn ngang nhiều di sản còn tồn đọng lại của
quá khứ, Nhà nước và nhân dân đang phải chung sống với nhau trong bối
cảnh của nhiều nghịch lý còn tồn tại. Việt Nam đi nhanh hay chậm, tiến về
phía tương lai hay vẫn luẩn quẩn trong vòng quay của quá khứ, điều này tuỳ
thuộc rất nhiều vào thái độ và phương pháp xử lý những nghịch lý này.
Gia tăng giá trị hay đầu tư để phát triển? Có thể nói rằng tại Việt Nam
hiện nay, chưa có cái gì được gọi là các yếu tố cấu thành một nền kinh tế theo

thể để tồn tại tình trạng cứ chi ngân sách một cách vô điều kiện mà không
mấy cải thiện, nâng cao được khả năng cạnh tranh của kinh tế nhà nước? Sự
lạc hậu của lý luận so với thực tiễn.
Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của hệ thống lý thuyết cũ, người ta đã phân
loại rạch ròi đâu là kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư nhân. Cách
phân loại máy móc như vậy làm cho cách nhìn xã hội trở nên sai lạc. Nhà
nước chỉ huy cả sự phân loại xã hội đối với các khu vực khác nhau của đời
sống kinh tế.
Tại Việt Nam, hiện nay, người ta vẫn có cảm giác như phải chờ đợi một
cái gì đó hoặc người ta không biết nên tiếp tục tiến bước thế nào trên con
đường đã chọn. Có một sự lo sợ vô hình và chưa có lực lượng nào đủ dũng
cảm vượt qua trong khi quá khứ tiếp tục níu kéo hoặc tự vệ giữ chân người ta
lại. Trên mặt trận lý luận nhiều vấn đề người ta không dám đi tiếp, chẳng hạn
quan điểm lý luận về kinh tế tư nhân vẫn chưa hoàn toàn được giải quyết
,hàng loạt các câu hỏi còn chưa có lời giải đáp. Đảng viên có được làm kinh
tế tư nhân không? Phát triển kinh tế tư nhân tới cỡ nào? Kinh tế tư nhân lớn
mạnh có làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa không? Thế nào là bóc lột?
Các chủ doanh nghiệp tư nhân có được kết nạp vào Đảng Cộng sản không?
Nhiều năm nay, giới lý luận Việt Nam vẫn không ngớt những cuộc bàn cãi.
Có người bảo đúng, cũng có kẻ bảo sai và chắc rằng giới lý luận còn phải
tranh luận nhiều năm nữa để đi tới quan điểm thống nhất. Nhưng cuộc sống
thì không chờ ai. Nếu các nhà lý luận chịu khó nhìn vào thực tế hơn một chút
sẽ thấy cuộc sống không quá phức tạp và nan giải như họ tưởng. Cuộc sống
có quy luật và sự phát triển riêng của nó. Nếu thực sự cầu thị chúng ta hẳn
thấy rằng hàng ngày bao nông dân Việt Nam đang làm kinh tế tư nhân và
trong số họ có rất nhiều người là Cộng sản, những người từng đổ bao máu
xương để góp phần giải phóng dân tộc và những Đảng viên này chắc chắn
không mảy may day dứt như các nhà lý luận, vì một lẽ đơn giản kinh tế tư
nhân là cuộc sống tự nhiên của họ. Tất nhiên, quy mô kinh tế tư nhân của
nông dân Việt Nam còn bé nhỏ nhưng theo quy luật phát triển chung thì

trạng thái vĩnh viễn vì con người có quyền phấn đấu để trở thành ông chủ,
thành nhà kinh doanh và thậm chí cả nhà chính trị.
Trong quá khứ, những nhà chính trị luôn luôn cần có lực lượng làm chỗ
dựa cho mình để đi đến thắng lợi này hoặc thắng lợi kia và lực lượng dễ huy
động nhất là lực lượng lao động. Người lao động hay đơn giản là những người
nghèo khổ luôn luôn là lực lượng chính trị của các nhà chính trị. Nhà chính trị
theo chủ nghĩa nào thì họ cũng đều dựa vào lực lượng này; nhưng tuyệt đối
hóa người lao động để vĩnh viễn biến họ thành làm thuê như một số phận thì
đấy là hành vi thiếu nhân hậu. Con người không ai chịu vĩnh viễn làm thuê và
cũng không ai có quyền vĩnh viễn làm chủ. Xã hội càng phát triển, công nghệ
càng thay đổi nhanh chóng bao nhiêu thì chu kỳ lao động làm thuê cũng như
chu kỳ làm chủ càng ngắn bấy nhiêu đối với từng cá nhân. Vấn đề không phải
là có không gian tự do cho nền kinh tế tư nhân mà là không gian tự do cho các
cá nhân, bởi vì không gian tự do cho các cá nhân còn làm thay đổi số phận
của mỗi cá nhân trong đó có cả những người mà các nhà lý luận của chủ
nghĩa xã hội Xô Viết gọi là người lao động.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status