ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
HÀ THỊ HƯỜNG
Tên đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
CỦA CHIM CÚT NUÔI TẠI TRẠI GIA CẦM TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Từ Trung Kiên
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Hà Thị Hường
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 26
Bảng 4.1. Tỷ lệ nuôi sống của chim cút thí nghiệm ...................................... 30
Bảng 4.2. Khối lượng trung bình của chim cút thí nghiệm ........................... 32
Bảng 4.3. Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút thí nghiệm .............................. 34
Bảng 4.4. Sinh trưởng tương đối của chim cút thí nghiệm ............................. 36
Bảng 4.5. Tiêu thụ thức ăn của chim cút thí nghiệm ...................................... 38
Bảng 4.6. Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của chim cút ................ 39
Bảng 4.7. Tiêu tốn năng lượng trao đổi cho 1kg tăng khối lượng .................. 40
Bảng 4.8. Tiêu tốn protein cho 1kg tăng khối lượng ...................................... 41
Bảng 4.9. Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của chim cút................. 42
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của chim cút......................................... 33
Hình 4.2. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của chim cút ...................................... 35
Hình 4.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của chim cút ..................................... 37
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
: Sơ sinh
TLNS
: Tỷ lệ nuôi sống
TN
: Thí nghiệm
TĂ
: Thức ăn
TĂHH
: Thức ăn hỗn hợp
VCK
: Vật chất khô
v
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích đề tài ........................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
3.3.5. Phương pháp xử lý các số liệu .............................................................. 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 30
4.1. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tỷ lệ nuôi sống của chim cút ................... 30
4.2. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến khối lượng cơ thể của chim cút ............... 31
4.3. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tuyệt đối của chịm cút ............... 34
4.4. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tương đối của chim cút ........ 36
4.5. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tiêu thụ thức ăn của chim cút .................. 37
4.6. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của
chim cút ........................................................................................................... 38
4.7. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tiêu tốn năng lượng trao đổi cho 1kg tăng
khối lượng. ...................................................................................................... 40
4.8. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tiêu tốn protein/1 kg tăng khối lượng...... 41
4.9. Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của chim cút thí nghiệm ....... 42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 43
5.1. Kết luận .................................................................................................... 43
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 44
I. Tiếng Việt ................................................................................................... 44
II. Tài liệu nước ngoài ..................................................................................... 46
III. Tài liệu mạng internet ............................................................................... 47
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi chim cút ở nước ta đang chiếm một vị trí quan trọng trong
chương trình cung cấp thực phẩm cho cộng đồng. Những thành tựu khoa học
tiên tiến, công nghệ mới trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang không
- Biết được bột lá sắn có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng
suất và chất lượng chim cút thịt, từ đó có cơ sở khoa học để khuyến cáo trong
sản xuất.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho khoa học thức ăn và
dinh dưỡng chim cút những thông tin cơ bản về việc sử dụng bột lá sắn trong
chăn nuôi chim cút thịt.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Bổ sung bột lá sắn vào công thức thức ăn hỗn hợp nâng cao khả năng
sinh trưởng của chim cút từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi chim cút thịt.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về cây sắn
2.1.1. Tên gọi
Cây sắn thuộc giới Plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân
họ Crtonoideae, tông Manihoteae, chi Manihot, loài M. Esculenta. Cây sắn có
tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn còn có một số tên khác là
cassava, manioc, tapioca, maniva cassava,… ở Việt Nam cây sắn còn được
gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu,…
2.1.2. Nguồn gốc
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được
trồng cách đây khoảng 5.000 năm. Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết
tại vùng Đông Bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều
chủng loại sắn trồng và hoang dại (theo Reiche Dolmatoff 1957, 1965; Rouse
và Crusent, 1963), (trích Trần Ngọc Ngoạn (2007) [14]).
Theo Cadavid (2002) [22] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia
mật độ từ 20.000 đến 62.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng
trên dưới 24 tấn/ha/năm. Cũng theo ông đối với giống CM4843 - 1 với mật
độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24,45 tấn vật chất
khô/ha/năm (91,4 tấn tươi); giống sắn CM2758 với mật độ 11.200 cây/ha
trong 2 năm có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; giống CM 523 - 7 là 86,81 tấn
chất tươi/ha.
Giống MCol 2737 là 102,9 tấn/ha, trồng dòng HMC 1 với mật độ
31.250 cây/ha đạt 58,2 tấn chất tươi/ha/11 tháng. Ông cũng kết luận trồng sắn
lấy lá có thể trồng với mật độ từ 31.250 đến 120.000 cây/ha với khoảng cách
cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được khoảng trên dưới 80 tấn/ha. Tuy
5
nhiên, ở mật độ này thu hoạch rất khó khăn và cây thường bị tổn hại trong quá
trình thu hoạch. Nên trồng với mật độ 31.250 cây/ha sẽ thuận lợi hơn. Cần lưu
ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm cả thân, cành, lá sắn. Ở các thông
báo khác; sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản
lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn và cuống lá sắn.
2.1.4. Thành phần hóa học của lá sắn
* Protein:
Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin (1992)
[15], Từ Quang Hiển (1982) [3] cho biết thành phần hóa học của lá sắn tươi
giống như một số loại rau xanh khác, đặc biệt ở trong lá sắn hàm lượng
protein và caroten chiếm tỷ lệ rất cao, cho nên lá sắn đã được coi là một
nguồn rau xanh cho người và gia súc. Theo Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly
(2001) [1] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5%, năng lượng trao đổi
là 2549 Kcal/kg VCK, còn theo tài liệu của Viện chăn nuôi (2001) [18] thì bột
lá sắn có 89,60% VCK, 1966 Kcal/kg, tương ứng với 2194Kcal/kg VCK.
kcal/kg tương úng với 2194 kcal/kg VCK.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghi (1985) [12], Nguyễn Văn
Thưởng và Sumilin (1992) [15], Từ Quang Hiển (1982) [3] thì năng lượng
trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô khoảng 2400 kcal. Từ lâu, lá
sắn đã được coi là một nguồn thức ăn rau xanh cho người và gia súc.
* Các khoáng chất
Theo Nguyễn Khắc Khôi, 1982 [7]; Nguyễn Nghi, 1984 [11] thì hàm
lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P: 0,25 - 0,38%; K: 1,52 - 1,71%. Đặc
biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2mg trong 1kg
chất khô. Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [16] thì hàm lượng khoáng tổng số của
các loại sắn Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, KM
60, Sắn dù. 205 thường từ 6,60 đến 7,80% trong VCK. Còn các giống sắn
7
H34, 202 hàm lượng khoáng tổng số lần lượt là 5,62% và 5,80%. Trong đó,
hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P từ 0,25 - 0,38%; K từ 1,52 1.71%. Đặc biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2mg
trong 1kg chất khô.
* Vitamin và các sắc chất
Theo Hoài Vũ (1980) [19] thì hàm lượng caroten trong lá sắn tươi là
3,0mg/100g. Đặc biệt, vitamin C trong lá sắn khá cao (295mg/100g). Theo Từ
Quang Hiển (1983) [4] thì trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7mg
caroten/100g VCK. Dương Thanh Liêm và cs (1999) [8] cho biết tỷ lệ
caroten trong bột lá sắn phụ thuộc quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 1000C
giữ được caroten cao nhất là 351mg/kg.
2.1.5. Độc tố HCN trong sản phẩm sắn và các biện pháp làm giảm thiểu độc tố
Dựa vào hàm lượng độc tố HCN trong củ sắn mà người ta đã phân làm
2 loại: sắn ngọt và sắn đắng. Người ta phân loại sắn như sau: nhóm sắn ngọt
là những sắn có hàm lượng HCN
khô để giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
2.2. Sắc tố trong bột lá thực vật
2.2.1. Giới thiệu chung về sắc tố
* Nguồn gốc của sắc tố:
Carotenoid là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở thực vật và các loài vi sinh
vật khác có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi
khuẩn. Các sắc tố này đóng hai vai trò là (1) hấp thụ năng lượng từ ánh sáng
mặt trời trong quá trình quang hợp, (2) bảo vệ tế bào cây trồng khỏi bị thối
rữa. Hiện nay người ta đã tìm được 750 loại carotenoid. Do sự có mặt
hay không có của phân tử oxy, carotenoid được chia thành 2 nhóm là
caroten (beta caroten, lycopen hay alpha caroten) và xanthophyll
(astaxanthin, lutein và zeaxanthin) Carotenoid không phải là tên riêng của
một chất nào mà là tên của một nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu
tạo tương tự nhau và tác dụng bảo vệ cơ thể động thực vật cũng tương tự
nhau. Carotenoid được biết đến sớm nhất và có vai trò lớn trong đời sống là
beta - caroten hay còn gọi là tiền vitamin A. Trong những năm gần đây,
người ta mới biết thêm về vai trò của các carotenoid khác như astaxanthin,
lycopen, lutein và zeaxathin, đó là những sắc tố quan trọng nhất có tác dụng
đến sức khỏe con người và động vật. Chúng có hoạt tính gấp 10 lần so với
beta caroten. Nó có tác động tốt đến não và hệ thần kinh trung ương và có tác
động rất tốt trong quá trình miễn dịch của cơ thể, làm giảm 1000 lần tác động
của tia cực tím so với beta caroten. Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu
vàng, da cam, đỏ của rất nhiều các loại quả (gấc, chanh, đào, mơ, cam, nho ),
rau (cà rốt, cà chua), nấm và hoa. Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm
động vật như trứng, tôm hùm, cá. Ngày nay, các hợp chất carotenoid rất được
quan tâm nghiên cứu. Carotenoid là chất màu tự nhiên, chúng được tìm thấy
10
Nó cũng có 2 nhóm là carotenoid không màu và có màu. Carotenoid không
màu có 2 đại diện chính là cryptoxanthin và violaxanthin, còn carotenoid có
màu thì có 2 nhóm nhỏ, nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein
và zeaxanthin, còn nhóm thứ 2 có các đại diện như apoester, canthaxanthin,
citranaxanthin, capxanthin (capsorubin), astaxanthin. Chính vì vậy, khi nói
đến hàm lượng xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll
tổng số, chứ không phải là một sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này. Caroten
có các đại diện là anpha (α), beta (β), zeta (z), gama (γ) caroten, lycopen và
phytofluen. Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong thức ăn, có nghĩa là
nói đến caroten tổng số trong thức ăn (không phải là một sắc tố cụ thể trong
nhóm này).
* Sắc tố trong nguyên liệu thức ăn:
Để khẩu phần thông thường có chứa một lượng sắc tố đáp ứng yêu
cầu của vật nuôi, người ta phải lựa chọn các nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố
để đưa vào khẩu phần hoặc bổ sung sắc tố tổng hợp. Sau đây là một số
nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố.
11
+ Ngô : Thức ăn thường chiếm tỷ lệ lớn trong khẩu phần (40 - 60 %) và lại
khá giàu sắc tố là ngô, hàm lượng carotenoid của ngô hạt khoảng 15 25mg/kg VCK, còn gluten trong ngô khoảng 130 - 300mg/kg VCK. Hàm
lượng này đáp ứng khoảng 40 - 60 % sắc tố theo yêu cầu của gia cầm nuôi
thịt và đẻ trứng. Thí nghiệm trên gà đẻ trứng cho thấy, nếu chỉ sử dụng ngô là
nguồn cung cấp sắc tố chính trong khẩu phần thì độ đậm màu lòng đỏ đạt 5 7 điểm theo thang điểm màu của Roche.
+ Bột lá thực vật: Một số loại nguyên liệu thức ăn có chứa hàm lượng sắc
tố rất cao và dễ sản xuất đó là bột lá xanh từ các cây họ đậu (keo giậu, alfalfa,
stylo ), từ lá sắn và hoa cúc vạn thọ hàm lượng caroten của các loại bột lá nằm
trong khoảng 200 - 1000 mg VCK. Do mỗi loại bột lá có một điểm hạn chế
riêng, như chứa độc tố (mimosin, HCN) chất kháng dinh dưỡng, mùi hắc, vị
sung sắc tố từ bột thực vật, tảo, nấm thì bổ sung sắc tố tổng hợp kém ưu điểm
hơn bởi hai lý do sau: (1) giá thành cao làm tăng giá thành thức ăn và sản
phẩm, (2) có thể không đạt được yêu cầu về màu sắc và chất lượng sản phẩm
như mong muốn, (3) không cung cấp được các chất dinh dưỡng khác cho vật
nuôi (protein, lipit). Mặc dù sắc tố tổng hợp được chứng minh là không độc
hại đối với vật nuôi và con người nhưng một số nước vẫn không cho phép sử
dụng sắc tố tổng hợp trong chăn nuôi. Các nước này chỉ sử dụng nguyên liệu
thức ăn giàu sắc tố (ngô) và sắc tố từ bột thực vật, tảo và nấm.
2.2.3 Vai trò của sắc tố đối với vật nuôi
Carotenoid có vai trò quan trọng đối với vật nuôi, đặc biệt đối với
gia cầm thì nó có ảnh hưởng rất lớn. Làm cho gia cầm phát triển nhanh hơn,
tăng chất lượng thịt cũng như sản lượng và chất lượng trứng.
* Vai trò của sắc tố đối với gia cầm nuôi lấy trứng: Động vật hoàn toàn
không có khả năng tự tổng hợp carotenoid nên bắt buộc phải được cung cấp
từ thức ăn (Marusich, 1981 [29]. Đối với khẩu phần ăn thông thường thì
nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của chim cút......................................... 33
Hình 4.2. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của chim cút ...................................... 35
Hình 4.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của chim cút ..................................... 37
14
tươi. Vì vậy, để đạt được màu sắc mong muốn của lòng đỏ, việc bổ sung sắc
tố màu vàng và canthaxanthin trong khẩu phần phải dựa vào tính toán tỷ
tới vấn đề về màu sắc trứng gia cầm và màu sắc da gà. Tuy nhiên, mức độ thị hiếu
của người tiêu dùng về màu sắc ít được công bố trên các tài liệu nghiên cứu.
Đối với gà thịt, sắc chất apocarotenoic acid ethyl ester là một carophyll
có màu vàng khi bổ sung có tác dụng tăng màu sắc của da gà (Latscha, 1990
[27]). Khi các carotenoid tích lũy đầy đủ thì hương vị của thịt tăng, do đó làm
tăng chất lượng của thịt gà (Josephson, 1987 [26]), cải thiện độ vàng da ngực
và thành phần axit béo của thịt. Nhưng trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bị
nuôi nhốt và được ăn thức ăn hỗn hợp không đủ lượng sắc chất nên đã làm
giảm màu sắc da và thịt gà, làm mất đi hương vị thơm ngon của thịt gà
(Latscha, 1990 [27]; Williams 1992 [33]).
Để thịt của gà có màu vàng tươi, thì nồng độ của sắc tố trong thức ăn
phải cao hơn so với nồng độ sắc tố trong thức ăn của gà mái đẻ. Đó là bởi vì
tỷ lệ lắng đọng sắc tố trong da và mỡ dưới da gà thịt thấp hơn so với lòng đỏ
trứng. Màu tốt nhất sử dụng cho gà thịt là màu vàng. Vì thế sắc tố được sử
dụng là lutein (màu vàng) và zeaxanthin (màu da cam), xanthophylls.
Đối với màu lông của chim: trong thực vật là các loại tảo, carotenoid
thực vật là một phần của quá trình quang hợp cùng với chất diệp lục. Một số
động vật có thể ăn một số carotenoid khác nhau nhưng ban đầu phải nhận
được carotenoid từ khẩu phần ăn của chúng.
Để giải quyết vấn đề thiếu hụt sắc chất trong thức ăn và cải thiện độ
vàng của lòng đỏ trứng, da, thịt, đồng thời làm tăng hương vị thịt của gia cầm,
người ta đã bổ sung sắc chất tổng hợp hoặc bột thực vật giàu sắc chất vào
thức ăn. Sắc chất tổng hợp tuy cải thiện được màu của lòng đỏ trứng và da gà
nhưng không cải thiện được hương vị thịt, bên cạnh đó một số sắc chất tổng
hợp còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy, người ta hướng tới
việc sản xuất bột lá thực vật giàu sắc chất hoặc chiết xuất sắc chất từ thực vật,
16
vượt quá 6-8% bột lá sắn trong khẩu phần ăn.
Tác giả Iheukwumere và cs (2007) [25] khi nghiên cứu ảnh hưởng của
các mức bột lá sắn 0,5, 10 và 15% trong khẩu phần gà thịt cho biết tổng lượng
huyết thanh, albumin và hemoglobin ở mức 0 và 5% lớn hơn có ý nghĩa thống
kê so với sử dụng ở mức 10 và 15% bốt lá sắn. Tuy nhiên, tỷ lệ cholesterol,
creatinin và ure thì không có sự sai khác nhau. Tỷ lệ thịt xẻ ở lô đối chứng
lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với lô thí nghiệm và tác giả khuyến cáo chỉ sử
dụng tối đa 5% bột lá sắn cho gà thịt broiler.
Iheukwumere và cs (2007) [25] nghiên cứu đánh giá năng suất, khả
năng sử dụng thức ăn và biến đổi của một số tổ chức của cơ thể gà thịt Anak ở
5 tuần tuổi khi sử dụng khẩu phần có bột lá sắn ở các tỷ lệ 0, 5, 10 và 15%
cho kết quả như sau: Lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, chuyển hóa
thức ăn và tăng khối lượng của lô đối chứng và 5% bột lá sắn là khác nhau có
ý nghĩa so với lô sử dụng 10 và 15% bột lá sắn. Khối lượng tim, gan, lách ở
mức 0% và 5% cao hơn có ý nghĩa thống kê (P
SS
: Sơ sinh
TLNS
: Tỷ lệ nuôi sống
TN
: Thí nghiệm
TĂ
: Thức ăn
TĂHH
: Thức ăn hỗn hợp
VCK
: Vật chất khô